+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 5 trên 5

Ðề tài: Những nhạc sĩ thiên tài thế giới

  1. #1
    Gia nhập
    Sep 2006
    Bài gởi
    882

    Những nhạc sĩ thiên tài thế giới

    Ludwig Van Beethoven(1770 - 1827)


    Nhạc sĩ Ludwig Van Beethoven


    Ludwig van Beethoven chào đời ngày 16 tháng 12 năm 1770 tại thành phố Bonn trong miền Rhineland nước Đức. Cha của Beethoven, ông Johan và ông nội, đều là các ca sĩ cung đình địa phương của ông hoàng Max Friedlich. Mẹ của Beethoven, bà Maria, là con gái của một người đầu bếp cung đình. Đây là một gia đình thiếu hạnh phúc vì người cha thường hay say rượu, nổi điên và đánh đập các con khiến bà Maria vẫn phải che chở Ludwig tránh khỏi các cơn hành hạ của người cha nghiện ngập.
    Ngay từ thuở thiếu thời, Ludwig đã tỏ ra có năng khiếu về âm nhạc và ông Johan đã quyết định bắt con học nhạc để sau này khai thác như thần đồng Wolfgang A. Mozart. Ludwig đã bị cha nhốt vô phòng trong nhiều giờ để học đàn vĩ cầm và đàn dương cầm. Năm lên 6 tuổi, Ludwig đã biểu diễn âm nhạc trước thính giả nhưng đã không tạo được tiếng vang nào.
    Mặc dù bị bạo hành bởi người cha, bị ép buộc phải học âm nhạc, Ludwig đã không thù ghét âm nhạc mà lại coi âm nhạc là một con đường giải thoát. Giáo sư dạy nhạc của Ludwig là nhạc sĩ đàn phong cầm của cung đình tên là Christian Gottlob Neefe. Theo ông Neefe, Ludwig không có năng khiếu kỳ diệu như Mozart nhưng cũng đã tỏ lộ một tài năng lớn lao. Ông Neefe đã nhờ Ludwig, khi đó 11 tuổi, làm nhạc sĩ trợ giúp đàn phong cầm để đàn các bản dạo khúc (prelude) và tẩu khúc (fugue) của J.S. Bach. Ludwig cũng sáng tác các bản nhạc đầu tiên vào năm 1783. Ngoài ra Ludwig còn làm trợ giáo dạy cho hai đứa trẻ của gia đình Von Breuning. Bà mẹ của gia đình này là một phụ nữ tử tế, có giáo dục cao nên đã giới thiệu Ludwig cho các nhân vật quan trọng trong thành phố.





    Một số bản chép tay của Beethoven


    Sống tại Bonn, một nhạc sinh thời đó chỉ có được kinh nghiệm về âm nhạc, còn muốn trở nên một nhạc sĩ độc tấu hay một nhà soạn nhạc, nhạc sinh đó phải đến thành phố Vienna là thủ đô của nước Ao và cũng là kinh đô âm nhạc của châu Au thời bấy giờ. Năm 1878, Ludwig làm một chuyến du hành tới Vienna và đã có dịp dạo đàn cho Mozart nghe và có lẽ đã theo học nhạc sĩ tài danh này một thời gian ngắn vì Ludwig sau đó bị gọi về Bonn do mẹ chết. Từ nay, Ludwig phải lo cuộc sống cho gia đình gồm người cha say sưa và tuyệt vọng cùng hai người em trai.

    Trong thời gian sống tại Bonn, Ludwig van Beethoven bắt đầu được nhiều người có danh vọng biết tới tài năng, đặc biệt là tài ứng tác (improvisation). Chàng thanh niên này quen biết được nhiều người quyền thế trong đó có Bá Tước Ferdinand Waldstein, một người thường giúp đỡ Beethoven và sau này là một người bạn suốt đời. Beethoven cũng có dịp bước vào sinh hoạt của giới quý tộc, tiếp xúc với văn chương và thơ phú của giới trí thức, đã có dịp đọc các tác phẩm của Shakespeare cũng như của các văn hào đương thời là Goethe và Schiller. Vào giai đoạn này, châu Au đang tràn ngập tinh thần dân chủ của Cuộc Cách Mạng Pháp. Ngày 14-7-1789, dân chúng Paris nô nức đi phá ngục Bastille, giải thoát các tù nhân và diễn hành trên đường phố, phản đối phe bảo hoàng. Toàn thể nước Pháp khi đó đang sôi động với bản nhạc ái quốc La Marseillaise và với việc phòng thủ chống xâm lăng từ bên ngoài. Vài tháng sau, Vua Louis 16 bị dẫn ra pháp trường và bị chặt đầu, đồng thời một trung úy pháo binh tên là Napoléon Bonaparte bắt đầu xuất hiện trên chính trường của nước Pháp. Sự thể hiện tinh thần cách mạng và các hành động anh hùng của Napoléon đã khiến cho Beethoven bị xao động.

    Trong phạm vi âm nhạc vào thời đó, Haydn đang ở đỉnh cao của danh vọng và Mozart đã chết trong nghèo khó vào năm 1791 và bị chôn cất vội vã trong khu nghĩa địa nghèo nàn của thành phố Vienna. Năm 1792, trong chuyến đi London, nhà soạn nhạc danh tiếng Joseph Haydn đã dừng chân tại Bonn và đã nghe một số bản nhạc của Beethoven. Haydn đã khuyên Beethoven nên tới Vienna để trau dồi âm nhạc đồng thời vị vương hầu của miền Cologne đã giúp đỡ tài chính cho Beethoven ra đi.

    Tại Vienna, Beethoven đã học nhạc với Haydn cho đến khi vị nhạc sĩ này rời Vienna đi London vào năm 1794. Sau năm đó, Beethoven đã theo học ông Johan Schenk là một nhà soạn nhạc danh tiếng, chuyên viết các bản ca, rồi học Đối Điểm với ông Johan Georg Albrechtsberger là một tác giả viết sách về sáng tác âm nhạc. Nhạc sĩ Antonio Salieri, trước kia là môn đệ của Gluck, cũng chỉ dạy cho Beethoven về cách sáng tác nhiều giọng. Như vậy Beethoven đã được thừa hưởng những nhạc phong của Haydn, Mozart, hiểu rõ các nhạc thức cổ điển mà cho tới lúc đó, đã khá phong phú nhưng vẫn còn tiềm năng phát triển. Các hoàn cảnh bên ngoài, sức mạnh của tài năng bên trong đã giúp Beethoven biến đổi các di sản âm nhạc tiếp thu được thành những tác phẩm độc đáo, không hẳn là cổ điển, lại không thuần túy lãng mạn mà hàm chứa bên trong những nét đặc thù, khiến cho về sau này giới âm nhạc coi Beethoven như vị Vua Âm Nhạc xuất hiện giữa hai thế kỷ 18 và 19, ở giữa hai trường phái cổ điển và lãng mạn.

    Các sáng tác âm nhạc của Beethoven đã tới với giới quý tộc mê âm nhạc như những mùa xuân. Ông đã được đón mừng bởi các gia đình danh giá và quyền lực của thành phố Vienna và tên của họ đã xuất hiện trên những tác phẩm âm nhạc như ông hoàng Lichnowsky, ông hoàng Lobkowitz, bá tước Razumovsky... Họ đã tặng quà và trả tiền rộng rãi cho các tác phẩm danh tiếng của Beethoven đồng thời cũng kính trọng ông và coi ông như ngang hàng, như một người bạn, khác hẳn với giới nhạc sĩ thời trước bị coi là gia công trong các gia đình quyền quý. Beethoven còn được sự hâm mộ của giới trung lưu lúc đó đang tiến dần lên các đẳng cấp xã hội, thêm vào đó là sự phát triển của các buổi hòa nhạc công cộng và sự xuất hiện của các nhà xuất bản. Vào tuổi 31, Beethoven đã viết: "Tôi có sẵn 6 hay 7 nhà xuất bản in các tác phẩm của tôi và còn có thể có nhiều hơn nữa. Họ không trả giá với tôi, tôi ra điều kiện và họ thanh toán".

    Trong khi danh vọng của Beethoven đang đi lên vào cuối thập niên 1790, nhà đại nhạc sĩ bị mất dần thính giác, một giác quan đối với ông tối cần thiết và được coi là hoàn hảo nhất. Trước kia, Beethoven là một người tự hào, độc lập và hơi kỳ dị, thì nay bệnh lãng tai đã biến đổi ông thành người đa nghi, dễ nóng giận. Beethoven bị điếc hoàn toàn vào cuối cuộc đời nhưng ông vẫn sáng tác và đã coi nghệ thuật âm nhạc là một vinh quang cuối cùng để vượt qua cuộc sống.

    Beethoven đã sống độc thân, không hạnh phúc với hai người em là Johan và Karl. Hai người này thường hay cãi cọ với nhà nhạc sĩ. Karl chết vào năm 1815, để lại cho Beethoven đứa con trai 9 tuổi. Đứa trẻ này trở thành người coi sóc cho ông lúc tuổi già đồng thời cũng gây cho ông nhiều phiền não. Beethoven bị cảm nặng vào cuối năm 1826, bị sưng phổi rồi qua đời vào ngày 26-3-1827.


    Các tác phẩm âm nhạc chính của Ludwig van Beethoven


    Âm nhạc Beethoven lan xa trên toàn thế giới


    Các nhạc phẩm của Beethoven dành cho dàn nhạc (orchestral music) gồm 9 bản giao hưởng (symphonies): số 1 (năm 1800), số 2 (1802), số 3 = Eroica (1803), số 4 (1806), số 5 (1808), số 6 = Pastoral (1808), số 7 (1812), số 8 (1812) và số 9 = Choral (1824), các bản Khai Khúc (overtures) kể cả bản Leonore (số 1,2,3) và bản Egmont.

    Các bản Concerto (nhạc hòa tấu dùng cho một nhạc cụ và dàn nhạc) gồm 5 bản dành cho piano (số 5 = Emperor, 1809), 1 bản dành cho violin (1806) và 1bản dành cho 3 đàn violin, piano và cello (1804).

    Nhạc thính phòng gồm các bản hòa tấu 4 đàn dây (string quartets) Op.18, No.1- 6 (1789-1800), 1 bản hòa tấu 5 đàn (quintet), các bản sônát violin và cello (sonata), dạ khúc (serenade) và nhạc kèn thính phòng (wind chamber music).

    32 bản sônát dành cho piano, gồm cả bản Op.13 = Pathétique (1798); Op.27, No.2 = Moonlight (1801); Op.53 = Waldstein (1804); Op.57 = Appassionata (1805).

    1 nhạc kịch (opera) = Fidelio (1805), nhạc đồng ca (choral music) gồm Missa Solemnis (1823), hơn 20 bộ Biến Khúc (variations) và nhiều bản Thanh Nhạc Cantata cùng nhiều bài hát khác.

    Trong suốt cuộc đời của ông, Beethoven đã luôn luôn lạc quan và đặt niềm tin vào các giá trị đạo đức. Những điều này thường nằm trong các nhạc phẩm của ông với các niềm vui cuối cùng thường xuất hiện sau các nhạc vẻ (mood) đôi khi bi quan.

    Beethoven đã dùng đến rất nhiều tập phác thảo (sketchbooks) nhờ đó người ta đã thấy ông soạn nhạc rất thận trọng, không ngừng xét lại các nhạc đề (theme), thay đổi các hình thức diễn tả cho đến khi ông vừa ý. Sự kỹ càng và khéo léo của Beethoven đã khiến cho mỗi nốt nhạc của ông hoàn hảo đến độ khó viết được theo cách khác, chẳng hạn như phần đầu của bản Giao Hưởng số 5 (the 5th Symphony) và trong bản Sonata dành cho piano Op.106.

    Giai đoạn sáng tác đầu tiên của Beethoven bắt đầu từ cuối thập niên 1780 tới khoảng năm 1800. Các tác phẩm của ông trong thời kỳ này phản ánh ảnh hưởng của các vị thầy là Haydn, Mozart, Bach và Christian Neefe nhưng cũng đã bao gồm những giai điệu mạnh và cho thấy cá tính cẩn thận của nhà soạn nhạc.

    Giai đoạn thứ hai về sáng tác được kể từ 1800 tới 1815 và được coi là xúc tích nhất. Beethoven đã viết các bản giao hưởng thứ ba tới thứ tám và các concerto... Ngày nay, âm nhạc của Beethoven đã trở nên quá quen thuộc với chúng ta trong các chương trình diễn tấu nhưng vào thời đại của ông, các nhạc phẩm đó đã gây ra nhiều sóng gió. Một số nhà phê bình âm nhạc thời đó cũng cho rằng khó có thể hiểu nổi cách diễn tả của Beethoven. Beethoven đã làm phát triển và thay đổi các hình thái âm nhạc cổ truyền chẳng hạn như các bản giao hưởng. Bản giao hưởng số 3 với tên là Eroica, đã được Beethoven lúc đầu dành cho Napoléon, vị Tổng Tài thứ nhất của nền Cộng Hòa Pháp, là nhân vật tượng trưng cho sự anh hùng và giải phóng, nhưng khi Napoléon trở nên Hoàng Đế của nước Pháp, Beethoven đã bất bình và gạch bỏ danh dự đề tặng tác phẩm cho Napoléon. Sức mạnh và sự quý phái trong tác phẩm của Beethoven đã được mọi người nhận thức và tán thưởng, ngay cả khi ông còn sống.

    Ở nhạc kịch Fidelio, Beethoven nhờ hứng khởi gây ra bởi câu chuyện theo đó một người vợ tận tụy và can đảm đã cứu chồng bị giam cầm vì bất công. Trong nhạc kịch này, Beethoven đã ca ngợi các ý tưởng tự do, các phẩm cách cá nhân và sự anh hùng đối với bạo quyền. Khi viết nhạc kịch Fidelio, Beethoven đã duyệt xét lại nhạc phẩm này hai lần cho đến khi ông vừa lòng, và ông cũng thấy rằng các đòi hỏi của việc sáng tác nhạc dành cho sân khấu đã không thích hợp với tài năng của ông.

    Giai đoạn thứ ba cũng gồm nhiều nhạc phẩm quan trọng. Nhạc phẩm Missa Solemnis là một sáng tác tôn giáo linh động nhất với tầm quan trọng ngang hàng với bản giao hưởng số 9. Bản giao hưởng số 9, Choral Symphony, ca ngợi lý tưởng về tinh thần huynh đệ nhân loại (human brotherhood) nơi đó, mọi người đều là anh em và phần hợp ca là âm hưởng của tác phẩm Ode of Joy của Schiller. Trong các concerto, Beethoven đã phối hợp tính điêu luyện (virtuosity) với kiến trúc giao hưởng, và nghệ thuật âm nhạc của Beethoven đã tập trung vào đàn dương cầm khiến cho 32 Sônát (sonata) của ông được coi là Bộ Kinh Tân Ước của các nhạc sĩ dương cầm, trong khi Bộ Kinh Cựu Ước là tập nhạc The Well-Tempered Clavier của J. S. Bach.

    Các nhạc phẩm của Beethoven trong giai đoạn 2 với các bí ẩn về âm sắc đã hấp dẫn và đã gây được các ảnh hưởng rất đáng kể tới các nhà soạn nhạc lãng mạn (romantic) của đầu thế kỷ 19, trong khi đó người đương thời chưa hiểu nổi các nhạc phẩm thuộc giai đoạn 3 của ông, một phần vì chúng rất khó trình diễn, lại đòi hỏi các phẩm chất mới của âm thanh, từ loại đàn dây tới đàn dương cầm. Tuy nhiên, các nhạc phẩm thời kỳ cuối của Beethoven đã tạo nên những tác động mạnh mẽ tới các nhạc sĩ của đầu thế kỷ 20, đặc biệt là Arnold Schoenberg và Béla Bartók.

    Ludwig van Beethoven đã viết 9 bản giao hưởng so với 10 bản giao hưởng của Haydn và 40 của Mozart, nhưng nhạc bản của Beethoven dài hơn và rất khó trình diễn. Âm nhạc của Beethoven là cảm xúc trực tiếp chảy ra từ cá tính của người nhạc sĩ, vừa phong phú, vừa dữ dội, đôi khi lại hòa với sự buồn bã hay dịu dàng.

    Ludwig van Beethoven là một trong các nhà sáng tác âm nhạc lớn nhất trong Lịch Sử, là nhân vật đã gây được ảnh hưởng rất sâu đậm về âm nhạc, đã mở đường cho các nhạc sĩ về sau dùng âm nhạc để tự do diễn tả các cảm xúc nội tâm




    Beethoven và trò đùa ác nghiệt của số phận



    Ngoài 9 bản giao hưởng, Beethoven còn sáng tác nhiều Sonatta về tình yêu, trong đó Sonatta "Ánh trăng" là nhạc phẩm nổi tiếng nhất. Đâu là chất liệu của những bản nhạc bất tử về tình yêu đó? Những mối tình tuyệt vọng? Sự tưởng tượng? Hay nỗi ước ao? Hay tất cả những điều đó gộp lại!


    Phương Tây, trong những thế kỷ "ánh sáng", con người được giải phóng khỏi những trói buộc khắt khe của đêm trường trung cổ, đã đạt những đỉnh cao về khoa học, thi ca, triết học, hội họa, điêu khắc và âm nhạc. Nhiều thiên tài âm nhạc đã xuất hiện: Johan Sebastin Bach, Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, Lugvig Van Beethoven, Franz Schubert, Robert Schumann, Tchaikovsky... Bằng thiên tài âm nhạc bẩm sinh và những nhọc nhằn trong cuộc kiếm tìm vẻ đẹp của âm thanh, họ đã cống hiến cho nhân loại những tác phẩm có sức sống vượt thời gian, cho đến nay vẫn được coi là "kinh điển".

    Ludvig Van Beethoven là một nhạc sĩ thiên tài người Đức, tác giả của những bản giao hưởng "Số phận", "Anh hùng", "Điền viên", "Thứ 9" cùng những bản Sonata "Ánh trăng", "Đồng quê"... đã trở nên quen thuộc đối với thính giả ở các châu lục hàng trăm năm nay. Nhiều nhạc sĩ đương thời gọi ông là "thiên tài lập dị", bởi ông luôn sáng tạo ra những âm thanh khác thường và ngẫu hứng.

    Ông không đạt đến "kỷ lục" về số lượng tác phẩm như Mozart, nhưng lại đạt "kỷ lục" về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm sôi nổi và cấu tứ hoàn mỹ trong mỗi nhạc phẩm. Ông đã tổng hợp được những tinh tú của âm nhạc cổ điển, làm cho trường phái lãng mạn mà ông khai sáng chiếm địa vị độc tôn trong đời sống âm nhạc. Vì vậy, tác phẩm của Beethoven hầu như được lưu hành nhiều nơi trên thế giới hơn cả


    "Tôi phải túm cổ số phận chứ không để cho nó khuất phục!"


    Lên 4 tuổi, Beethoven bắt đầu học đàn, 8 tuổi đã tổ chức nhạc hội cá nhân, 11 tuổi sáng tác "Đại hợp xướng đưa tang" nổi tiếng khắp châu Âu, 13 tuổi vào dạy phong cầm trong hoàng cung, 14 tuổi được bổ nhiệm làm Giám đốc dàn nhạc giao hưởng Organ hoàng gia, 25 tuổi ra mắt buổi hòa nhạc đầu tiên gồm Bản giao hưởng số 1 và nhiều tác phẩm khác tại nhà hát lớn ở Vienna... Beethoven được người đương thời suy tôn là "Thánh nhạc"!

    Hầu như tất cả các thiên tài về âm nhạc đều hội tụ cả hai yếu tố: thiên tài bẩm sinh và sự dày công khổ luyện suốt cả cuộc đời. ở Beethoven, năng khiếu về âm nhạc bộc lộ từ nhỏ, lại được ông nội và cha dẫn dắt theo nghề "gia truyền" với một cách thức riêng. Từ lúc còn là một cậu bé "vắt mũi chưa sạch", Beethoven thường phải vừa khóc vừa đàn một cách miễn cưỡng theo mệnh lệnh hà khắc của người cha. Vì muốn con trai trở thành thần đồng âm nhạc như Mozart, người cha thường xuyên dùng roi vọt bắt cậu bé tập đàn 4 tiếng liên tục trong một ngày, bất chấp cậu phản ứng, khóc lóc...

    Cậu bé luôn chìm đắm trong thế giới âm thanh, khi miễn cưỡng, khi tự nguyện, và tự lúc nào cậu đã trở thành môn đệ của thế giới huyền bí này. Khi ông trưởng dàn nhạc nhà thờ qua đời, người cha nát rượu không thể nuôi nổi gia đình, Beethoven phải làm trợ lý cho Christan Gottlob Neefe, nhạc sĩ phụ trách diễn tấu đàn oóc trong cung đình. Thương cậu bé nghèo có năng khiếu âm nhạc, Neefe không tiếc công sức hướng dẫn cậu những kiến thức cơ bản về âm nhạc, tìm cách để Beethoven được làm học trò của những bậc thầy như Mozart và Haydn. Dưới sự chỉ bảo của Neefe, 12 tuổi Beethoven đã đọc được chính xác các bản nhạc, diễn tấu điêu luyện đàn piano, violon...

    Trước khi trở thành nhà soạn nhạc, Beethoven xuất hiện trước công chúng với tư thế của một nghệ sĩ biểu diễn piano và violon. Ngoài ra, anh còn tự học văn chương, triết học, lịch sử... Bàn tay Beethoven đã không ít lần bỏng rát, rớm máu khi gõ trên các phím đàn, để tìm ra âm thanh mà ông đã nghe thấy đâu đó một cách ngẫu nhiên. Từng nốt nhạc, từng âm thanh trong những bản nhạc của ông đều thấm đẫm những giọt mồ hôi.

    Bản thảo vở ca kịch duy nhất còn lại của Beethoven dày 250 trang, chỉ riêng phần nhạc khúc “Da-capoaria” của ông đã đặt ra 12 phương án hoàn toàn khác nhau. Một người chuyên nghiên cứu về Beethoven cho rằng, đọc 200 trang bản thảo của người khác còn dễ hơn đọc một trang bản thảo của ông, vì chúng bị sửa đi, sửa lại nhiều đến nỗi không biết đằng nào mà lần.

    Khi sự nghiệp âm nhạc đang phát triển rực rỡ thì Beethoven bị điếc. Đầu tiên là chứng nặng tai, đến năm 19 tuổi thì điếc hẳn, chỉ có thể giao tiếp qua giấy bút. Anh không thể trò chuyện với người yêu, không thể nghe thấy những nốt nhạc mà anh phải nhọc nhằn tìm kiếm.

    Có lúc, Beethoven tuyệt vọng định tìm đến cái chết, đã viết bức thư tuyệt mệnh: "Có thể nói là tôi đang sống một cách đau khổ. Hai năm qua tôi luôn trốn tránh những buổi tiếp xúc xã giao vì tôi không có đủ can đảm để nói với mọi người là tôi đã điếc. Nếu tôi làm một nghề khác thì có lẽ còn nhẫn nại được, nhưng cái nghề của tôi thì việc này là một điều đáng sợ...". Nhưng nỗi đam mê âm nhạc đã vực dậy con người bướng bỉnh trong anh.

    "Tôi phải túm cổ số phận, chứ không để cho nó khuất phục!". Khi thính giác mất dần, Beethoven phải rời bỏ nghề biểu diễn đàn, rồi từ bỏ nghề chỉ huy dàn nhạc, chuyển sang sáng tác. Tinh lực của anh dồn cả lên ngòi bút.

    Trong vòng 10 năm, khi đã bị điếc hoàn toàn, "Thánh nhạc" Beethoven đã lần lượt cho ra đời bốn bản giao hưởng nổi tiếng: "Anh hùng", "Điền viên", "Số phận", "Thứ 9". Bản giao hưởng Thứ 9 (The Ninth Symphony), nói lên khát vọng tự do của bản thân ông và nhân loại, công diễn lần đầu tiên vào năm 1824 đã liên tiếp nhận được 5 lần vỗ tay, khiến cảnh sát tưởng có chuyện bất ổn phải vội vàng xông vào rạp.

    Theo quy định hồi đó, chỉ khi nào hoàng đế xuất hiện ở rạp khán giả mới vỗ tay 3 lần. Beethoven ngồi lặng lẽ ở hậu trường không hề hay biết điều đó. Chỉ đến khi một nữ ca sĩ dắt ra trước sân khấu chứng kiến sự cuồng nhiệt của khán giả, Beethoven sung sướng đến nỗi ngất xỉu.

    Tác giả những bản nhạc bất tử về tình yêu là một người suốt đời sống độc thân!

    Ngoài 9 bản giao hưởng, Beethoven còn sáng tác nhiều Sonatta về tình yêu, trong đó Sonatta "Ánh trăng" là nhạc phẩm nổi tiếng nhất. Đâu là chất liệu của những bản nhạc bất tử về tình yêu đó? Những mối tình tuyệt vọng? Sự tưởng tượng? Hay nỗi ước ao? Hay tất cả những điều đó gộp lại!

    Về dáng vẻ bề ngoài, Beethoven là một chàng trai xấu xí, mặt rỗ, tai điếc, áo quần luôn xộc xệch, giống như Robinson Crusso mới từ hoang đảo trở về. Song, đã có không dưới chục người phụ nữ, phần đông thuộc tầng lớp quý tộc đi qua cuộc đời người nhạc sĩ tài hoa, chỉ vì mến mộ cái tài âm nhạc của ông. Đầu tiên là cô học trò nhỏ Lorsi. Nhưng sau đó, Lorsi đã kết hôn với một người bạn của Beethoven. Tiếp đến, thời gian ở Vienna, là B.Christina và M. Malatana. Sau đó, Beethoven lại yêu nữ bá tước trẻ Hungari tên là Peti.

    Nhưng Peti lại kết hôn với một bá tước già nua và giới thiệu cho Beethoven cô em gái mới 16 tuổi. Cô này cũng bỏ Beethoven để lấy một bá tước đẹp trai... Bi kịch của những mối tình ấy đã đem đến cho nhạc sĩ những khao khát, những hy vọng, những đớn đau... đủ làm nên những nhạc phẩm làm yếu mềm trái tim biết bao đôi lứa. Dư âm của những cuộc tình ấy đã lắng đọng trong một số nhạc phẩm của Beethoven, với lời đề tặng chân thành, chứa chan yêu dấu. Beethoven chưa bao giờ ngỏ lời cầu hôn với ai, và những người phụ nữ mà ông yêu cuối cùng đều lấy những người đàn ông khác.

    Ông đã từng thất vọng: "Đáng thương thay cho Beethoven, thế giới này không có hạnh phúc dành cho ngươi; ngươi chỉ có thể cảm thấy yên ổn và hạnh phúc trong tâm tưởng mà thôi". Nhạc sĩ đem nỗi ước ao về hạnh phúc gửi gắm trong tác phẩm ca kịch vĩ đại nhất của mình, vở "Fidelio", miêu tả cảnh cô Leonora lẻn vào ngục cứu chồng là Florestan.

    Ông đã dành rất nhiều tâm huyết cho vở kịch này, tự cho rằng đây là một tác phẩm viết ra trong nỗi đau khổ, song phần nào giúp ông toại nguyện. Phải chăng, sau nhiều lần thất bại trong tình yêu, ông chẳng khác gì một kẻ "tù tội" và hy vọng nữ thần Tình yêu xuất hiện để cứu vớt. Được biết, thời điểm viết vở ca kịch này, Beethoven vừa tan vỡ mối tình đầu với Lorsi và sau đó yêu hai cô gái quý tộc, một cô là Malfatti và một cô là Giulietta.

    Trong những di vật còn lại của nhà nhạc sĩ thiên tài có ba bức thư ông gửi cho "Người yêu muôn thuở" ký tên "L", không đề năm và tên người nhận. Một bức đề "buổi sáng ngày 6 tháng 7", một bức đề "đêm thứ hai, ngày 6 tháng 7" và bức cuối cùng đề "buổi sáng ngày 7 tháng 7". Lời lẽ trong những bức thư này nồng nàn: "...Người yêu muôn thuở của tôi... Em yêu dấu, anh muốn được chung sống với em, mãi mãi ở bên nhau; thiếu em thì anh chẳng thiết sống nữa. Không ai khác có thể xâm chiếm trái tim anh, hoàn toàn không ai khác.

    Ôi Thượng đế, chúng ta yêu nhau thế, tại sao người lại bắt chúng ta phải xa nhau. Hỡi ý trung nhân mãi mãi không quên! Anh yêu em chân thành, xin đừng bao giờ hiểu lầm tấm lòng của anh...Vĩnh viễn là của em, vĩnh viễn là của anh, chúng ta vĩnh viễn là của nhau...".

    Theo hai chuyên gia nghiên cứu về Beethoven là A.Schindler và G.R. Marek, đây là ba lá thư Beethoven gửi cho Giulietta vào năm 1801. Hai ông cũng cho rằng, thời điểm đó, Giulietta bị cha mẹ ép gả cho bá tước Galleenberg. Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng Beethoven sáng tác bản Sonata "Ánh trăng" để tặng cho nàng Giulietta
    Mắt nào em ném trao anh
    Dao cau bổ dọc toang mành trời đêm
    Môi nào rót mật ...say mềm
    Mà giờ rơi rớt ... bên thềm lắt lay


    Vũ Anh Vũ


  2. #2
    Gia nhập
    Sep 2006
    Bài gởi
    882

    Trả lời: Những nhạc sĩ thiên tài thế giới

    Frederic Chopin ( 1810 - 1849 )



    Frederic Chopin Chopin sinh ra ở Zelazowa Wola, Ba Lan ngày 22 tháng 2 năm 1810. Mặc dù sinh ra ở Ba Lan, là con trai của một người Ba Lan, nhưng quê nhà thiêng liêng của ông luôn là Pháp. Thật sự thì đó chưa bao giờ chỉ đơn thuần là đất nước đã nuôi dưỡng ông, bởi vì mặc dù thực tế là trong một thời gian dài Chopin đã được công nhận là hậu duệ của một gia đình Ba Lan đã từng chuyển đến Paris, nhưng một số tài liệu lại chứng minh rằng gia đình ông bắt nguồn từ vùng Loire thuộc nước pháp và giấy khai sinh của bố ông được chứng nhận sinh ngày 15 tháng 4 năm 1771 tại một ngôi làng ở Marainville gần Nancy. Ông đã rời đến Warsaw vào năm 1787 nơi mà ông cưới bà Tekla-Justyna Krzyzanowska vào ngày mùng 2 tháng 6 năm 1806. Frédéric là một trong 4 đứa con của họ.

    Chopin từ bé đã được hưởng một sự giáo dục đầy đủ và thoải mái. Bố của ông, một người đàn ông thông minh, đã rất nhanh chóng trở thành gia sư dạy tiếng Pháp ở các gia đình giàu có của thủ đô Ba Lan. Sau đó, cũng lại ở Wasaw, ông đã trở thành một giáo viên tiếng Pháp tại trường tiểu học Lyceum. Khi đó, với một khă năng tài chính vững vàng, ông đã biến căn hộ rộng lớn của mình thành một pension (tiếng Pháp có nghĩa là khách sạn nhỏ) cho những học sinh ở Lyceum, phần đông trong số họ đến từ những gia đình Ba Lan khá giả hơn.

    Tính cách của Chopin đã được thường xuyên rèn đúc bởi lối sống văn hoá và lịch sự của gia đình ông. Ở một đứa trẻ thông minh và chuyên cần như ông, bố Chopin đã sớm nhận ra rằng Chopin được định sẵn để trở thành một nhạc sỹ. Và cậu bé Chopin đã nhanh chóng chứng tỏ được điều đó bằng kỹ năng chơi đàn piano của mình (dưới sự chỉ bảo của của chị ông) từ lúc 4 tuổi. Sau đó, ông được gửi đến học một giáo viên có trình độ người Bohemian để học nhạc. Tài năng của ông với tư cách một nhà soạn nhạc đã sớm được chứng minh. Bản Polonaise giọng Son thứ đầu tiên của ông được viết năm 1817, dù chưa phải là một thành quả lớn, nhưng thực sự là một thành tích vượt bậc với một đứa trẻ mới 7 tuổi. Và Chopin được nhắc đến trên tạp chí văn học của Ba Lan tháng 1 năm 1818 như sau: “Chúng ta không thể lặng thinh làm ngơ bản Polonaise viết cho đàn piano của Chopin, một đứa trẻ 7 tuổi con trai ông Nicolas Chopin, giáo viên dạy ngôn ngữ và văn học Pháp”. Sau khi hoàn thành xong khóa học piano và tham gia một loạt các buổi biểu diễn tại các phòng diễn của giới quý tộc ở Warsaw và vùng xung quanh, Chopin minh chứng nhiều hơn nữa khả năng sáng tác của mình vào năm 1821 với bản Polonaise tiếp theo, lần này là bản giọng La giáng thứ, như một món quà cho người thầy của mình. Thực tế đó là một cách lịch thiệp để tạm biệt người thầy đầu tiên, bởi vì sau khi tốt nghiệp trường Lyceum với bản Rondo giọng Rê thứ được công bố năm 1825, Chopin được chiêu sinh vào nhạc viện Warsaw, nơi anh học sáng tác ba năm tiếp theo dưới hướng dẫn thấu đáo của Jozef K.Elsner. Kỹ thuật chơi piano bậc thầy của Chopin đã được định hình, với những sáng tác đột phá với thời kỳ này, gồm các bản Những biến tấu dựa trên chủ đề Don Giovanni của Mozart, Op.2 cho piano và dàn nhạc (1827), bản Nocturne giọng Mi thứ, Op.72 số 1 (1827), bản Polonaise giọng Rê thứ, Op.71 số 1 (1827) và bản Rondeau à la Mazur, Op.5 (1827).

    Trong lúc ấy, Chopin cũng làm nên tên tuổi của mình như một nghệ sỹ trình diễn piano. Kết thúc khoá học tại nhạc viện vào năm 1829, Chopin bắt tay vào hàng loạt các buổi trình diễn và những buổi trình diễn này đã mang Chopin không chỉ vòng quanh Ba Lan mà còn tới cả Vienna, nơi mà kỹ thuật phi thường của ông đã không gây được tác động mà lẽ ra nó đã đạt được do độ lớn các phòng hoà nhạc ở đây. Tuy nhiên, ở đây ông đã có những quen biết hữu ích, những người sẽ giới thiệu cho Chopin đời sống âm nhạc của thành phố, bao gồm Schuppanzigh, người đã đóng một vai trò quan trọng trong viêc làm cho những bản tứ tấu của Beethoven được biết đến ở Vienna, chủ xuất bản Haslinger, người đã in bản Variations, Op.2 của ông năm 1820, cùng Stein và Graff, những thợ làm đàn piano nổi tiếng. Chopin cũng có thể nghe tại đây các vở opera của Rossini và Meyerbeer.

    Trở về Warsaw năm 1830, ông đã chơi bản Concerto giọng Pha thứ, Op.21, bản Concerto đầu tiên của ông sáng tác năm 1829 và bản Concerto giọng Mi thứ, Op.11 (1830) tại nhà hát quốc gia, nhưng chỉ thu được một chút thành công. Báo chí đã thực sự làm ngơ với sự kiện này, dù sao điều đó không đáng ngạc nhiên lắm, có thể bởi ảnh hưởng của các vấn đề chính trị thời bấy giờ.

    Chopin rời Ba Lan ngày 2 – 11 – 1830 bắt đầu cho một tour học tập tại châu Âu, có lẽ cũng vì Italy như một điểm đến lý tưởng với ông. Nhưng lúc ấy, ông không thể biết rằng ông có thể sẽ không bao giờ trở lại quê hương yêu dấu của mình một lần nữa. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là Vienna, nơi ông chỉ có một buổi hoà nhạc khá là không thành công. Sau đó, với những làn sóng náo động của cuộc Cách mạng lan từ Pháp đến Bỉ, Italy và Ba Lan, ông đã quyết định rằng London sẽ là nơi lý tưởng nhất để sống. Trên đường đi, ông được biết rằng quân đội Nga đã chiếm Ba Lan và khống chế chính phủ quốc gia từ 5 – 9 – 1831.

    Ông sống tại Paris cho tới cuối tháng 9, và mặc dù mục đích cuối cùng của ông luôn là đến được London, ông đã quyết định ở lại đây để rồi đạt được những thành công ngoài sức tưởng tượng với sự giàu có lạ thường và khả năng khuấy động đời sống âm nhạc của thủ đô nước Pháp. Người nhạc sỹ trẻ tuổi có học thức và thanh lịch, người mang sắc mặt xanh xao và một vẻ vô cùng sầu muộn đã ngay lập tức được Paris sang trọng chấp nhận. Buổi trình diễn đầu tiên của ông tại Salle Pleyel vào 26 - 2 – 1832 gồm bản Concerto đầu tiên, một khúc biến tấu từ chủ đề Mozart và trong số những tiểu khúc ngắn hơn, có một Grand Polonaise cho 6 đàn piano được viết bởi Kalkbrenner, trong dịp này, do chính tác giả trình diễn cùng Mendelssohn, Chopin và các nhạc công piano khác. Tuy nhiên, một nhà phê bình âm nhạc có mặt trong buổi trình diễn hôm đó đã có bài viết chê bai khả năng chơi nhạc của Chopin, quả quyết rằng kỹ năng của ông trở nên quá mờ nhạt để trình diễn trong một khán phòng rộng. Kết quả là, Chopin không bao giờ có được sự công nhận, như ông xứng đáng, là một nghệ sỹ dương cầm bậc thầy, mặc dù thỉnh thoảng ông có chơi trong những buổi công diễn được tổ chức cho việc từ thiện hay bởi các nhạc sỹ khác.

    Ông may mắn được gặp ngài Nam tước de Rothschild tại một trong những buổi trình diễn. Họ nhanh chóng trở thành bạn bè, và một quý tộc có thể mở rộng cửa của giới thượng lưu Paris cho một nhạc sỹ trẻ. Những bài giảng dạy của Chopin ngay lập tức được yêu cầu và trả lương hậu hĩ. Các bà chủ bữa tiệc của giới thượng lưu tranh nhau để có ông trong phòng khách của họ, và những buổi nói chuyện lỗi lạc của ông đã quyến rũ ngay cả những người sành điệu nhất. Cuối cùng, ông tìm được một lớp thính giả có thể đánh giá đúng giá trị của ông.

    Điều đó cũng giúp âm nhạc của ông dễ dàng được xuất bản, gồm cả những bản nhạc ông đã viết trước đây. Ba bản Nocturne, Op.9, được viết ở Ba Lan trong những năm 1828 – 1830, 12 Etude Op.10 (1829) đề tặng Liszt và bản Concerto thứ 2 đều được xuât bản ở Paris thời kỳ này. Những Etude Op.10 là đặc biệt quan trọng vì trong các gam được chia nhỏ, Chopin đã mở rộng kỹ thuật và nguồn tài nguyên đáng quý của piano ở thời điểm mà nhạc cụ này đã trải qua một số thay đổi quan trọng, đáng kể nhất là sự thay đổi các khung từ gỗ sang kim loại. Điều đó đã làm cơ cấu nhạc cụ được cải thiện và đem đến cho nhạc cụ cả một tầm âm sắc mới và âm lượng cần thiết để trình diễn trong một khán phòng rộng. Chiếc piano đã chiếm ưu thế trong bối cảnh âm nhạc thời Chopin và ông là nghệ sỹ dương cầm của tầng lớp thượng lưu quyền lực nhất ở Paris, kết giao bằng hữu với rất nhiều tên tuổi lớn như Balzac, Heine, Liszt và Ferdinand Hiller, người là nguyên nhân để ông đã làm cuộc hành trình tới Aix-la-Chapelle tháng 5 năm 1834.

    Những năm sau, người ta thấy ông ở Leipzig, nơi mà ông gặp nữ bá tước Maria Wodzinska, người mà ông đã đề tặng bản Waltz giọng La giáng trưởng (L’adieu) hòa nhã sau khi chuyện tình của họ kết thúc. Ông cũng đã gặp lại Mendelssohn, gặp Clara và Robert Schumann những người mà với sự nhiệt thành thường lệ của mình đã đặt cho ông nghệ danh Chopin - cao quý. Trở lại Paris vào tháng 12 năm 1836, ông gặp George Sand, người phụ nữ đã làm thay đổi cuộc đời ông.

    Có học thức và tao nhã cũng như hấp tấp và thất thường, George Sand, quả phụ của nam tước Dudevant đã áp dụng một ảnh hưởng ngay lập tức đối với một nhạc sỹ trẻ và họ đã ở lại bên nhau kể cả khi đang yêu hay khi tình yêu đã cạn, cho đến tận năm 1847. Đó là mười năm mà Chopin đã đạt đến đỉnh cao của sáng tạo với tư cách một nhạc sỹ, đã sáng tác những kiệt tác như như những Ballade số 3 và số 4 (1841 và 1842), những Nocture, Op.48 (1841 – 1842), ba Polonaise Op.44, 53 và 61 (1840 – 1846), Scherzo, Op.54 (1843 – 1844), Fantasia giọng Pha thứ, Op.49 (1841) và bản Berceuse, Op.57 (1843).

    Cùng George Sand, ông đã sống cuộc sống ẩn dật ở Valdemosa – Majorca. Ông đã dành mùa đông 1838 để viết những kiệt tác đã được xếp cùng với những sáng tác vĩ đại khác cho đàn piano. Chúng cũng bao gồm Ballade thứ 2, Op.38 đề tặng Schumann năm 1840, Mazurkas, Op.33 và Op.41, Nocturne, Op.37, Polonaise, Op. 40, và hơn hết là tập 24 Préludes, Op.28. Sau khi chia tay với George Sand, Chopin đã nhầm khi nghĩ rằng ông có thể lấy lại sự thanh thản cho mình, sau những nỗi đau của cuộc sống, bằng việc làm thầy giáo dạy piano ở một gia đình thượng lưu Paris. Nhưng ông chưa sẵn sáng đáp ứng những yêu cầu cho bài học và sức khoẻ của Chopin tồi đi nhanh chóng. Thu nhập của Chopin thấp dần đi và như vậy thật khó để sống ở thủ đô nước Pháp, nơi mà giá cả ngày càng đắt đỏ vì những bất ổn xã hội. Ông quyết định trình diễn ở Salle Pleyle vào 16 tháng 2 năm 1848, nhưng nỗ lực này khiến ông yếu đi nhiều. Ông ốm, và như ông đã thú nhận trong một bức thư: "... tôi dường như chưa bao giờ chơi tồi đến thế". Dù có sự rộng lượng của bạn bè và người hâm mộ, khán thính giả vẫn rất nhanh nhận ra sự mong manh trong tiếng đàn của ông. Hôm đó đã trở thành buổi diễn cuối cùng của ông ở Pháp, và thực tế cũng là lời chào tạm biệt Paris hoa lệ của Chopin.

    Qua khỏi những cuộc nổi dậy bạo động năm 1848 và với sự cải thiện nhỏ về sức khoẻ, Chopin quyết định rời Paris tới London, phần nào bởi sự nài nỉ của một trong các học trò của ông. Một buổi trình diễn vào ngày 20 tháng 4 năm 1848 là một thành công hân hoan, và ông quyết định ở lại Anh 7 tháng, tổ chức thêm 9 buổi diễn, lần cuối vào 16 tháng 11 để quyên góp tiền ủng hộ những người tị nạn Ba Lan. Tuy nhiên, Chopin bị mệt và yếu hơn vì những chuyến đi và khí hậu của London không phù hợp với ông. Ông rời London vào 23 tháng 11 năm 1848 và quay lại với Paris yêu quý của mình, nơi mà ông đã có thêm một vài năm bất hạnh ở đây. Ông dừng sáng tác và không có đủ sức khỏe lẫn sự hăng say để ngồi bên phím đàn. Nhạc cụ đã gắn bó với phần đời tươi đẹp nhất của ông, giờ đây không còn hấp dẫn ông thêm được nữa, và ông cũng thôi niềm khát khao được lướt tay trên những phím đàn, dù lòng ông luôn tràn ngập nỗi nhớ thương quê hương Ba Lan.

    Chopin ra đi vào sáng sớm ngày 17 tháng 10 năm 1849 trong ngôi nhà của ông tại số 12 Place Vendime Paris, trong vòng tay của người chị Louise và nữ bá tước Potocka. Theo nguyện vọng của ông, trái tim của Chopin được mang về mảnh đất Ba Lan yêu dấu!


    Âm nhạc của Frederic Chopin



    Làm quen với piano từ lúc 4 tuổi, Chopin viết bản Polonaise in G minor năm ông tuổi 7 tuổi. Năm 1825, Chopin được chiêu sinh vào nhạc viện Warsaw, kỹ thuật chơi piano bậc thầy của Chopin đã được định hình. Chưa được công nhận tại Ba Lan, nhưng người nhạc sỹ trẻ tuổi văn hoá và thanh lịch, người mang vẻ mặt xanh xao và một bầu không khí sầu muộn đã ngay lập tức được chấp nhận bởi phong cách Pháp. Ông đã chọn ở lại đây để rồi đạt được những thành công ngoài sức tưởng tượng với sự giàu có lạ thường và khả năng khuấy động cuộc sống âm nhạc ở thủ đô của Pháp. Tháng 12 năm 1836, ông gặp George Sand, người phụ nữ đã làm thay đổi cuộc đời ông. Và mười năm sau đó là thời gian Chopin đã đạt đến đỉnh cao của sáng tạo với tư cách một nhạc sỹ.

    Ông đã để lại những kiệt tác nghệ thuật như như bản Ballade số 3 và số 4 (1841 và 1842), bản Nocture, Op.48 (1841 – 1842), ba bản Polonaise Op.44, 53 và 61 (1840 – 1846), bản Scherzo, Op.54 (1843 – 1844), bản Fantasia in F minor, Op.49 (1841) và bản Berceuse, Op.57 (1843) cùng các bản Ballade số 2, Op.38 đề tặng Schumann năm 1840, bản Mazurka, Op.33 và Op.41, bản Nocturne, Op.37, bản Polonaise, Op. 40, và hơn hết là tuyển chọn của 24 Préludes, Op.28. Những Etudes Op.10 là đặc biệt quan trọng vì trong các gam được chia nhỏ, Chopin đã mở rộng kỹ thuật và nguồn tài nguyên đáng quý của piano ở thời điểm mà nhạc cụ này đã trải qua một số thay đổi quan trọng. Nhạc sĩ người Đức Mendelssohn từng thốt lên: "Chopin là cả một lò lửa. Ông nung chảy tất cả những gì mà cuộc sống ban cho. Và ông ấy rút ra từ đó kho báu hết sức quý giá". Những vũ khúc thôn dã của quê mẹ Ba Lan, đã thấm vào Chopin làm nên một thiên tài âm nhạc thuần khiết, đôn hậu, mãnh liệt mà da diết. Ông được coi là nhà thơ của cây đàn piano với những bản polonaise, marzuka và etude bất hủ.


    Danh mục tác phẩm


    4 ballades

    - Op. 23 in G minor
    - Op. 38 in F major
    - Op. 47 in A-flat major
    - Op. 52 in F minor

    1 barcarolle

    - Op. 60 in F-sharp major

    1 berceuse

    - Op. 57 in D-flat major

    1 bolero

    - Op. 19 in C major and A minor

    2 bourrées
    1 cantabile
    1 contredanse
    3 écossaises
    27 études

    - Op. 10 No. 1 in C major (1830)
    - Op. 10 No. 2 in A minor (1830)
    - Op. 10 No. 3 in E (1832)
    - Op. 10 No. 4 in C-sharp minor (1832)
    - Op. 10 No. 5 in G-flat major ("Black Key") (1830)
    - Op. 10 No. 6 in E-flat minor (1830)
    - Op. 10 No. 7 in C major (1832)
    - Op. 10 No. 8 in F major (1829)
    - Op. 10 No. 9 in F minor (1829)
    - Op. 10 No. 10 in A-flat major (1829)
    - Op. 10 No. 11 in E-flat major (1829)
    - Op. 10 No. 12 C minor - ("Revolutionary étude") (1831)
    - Op. 25 No. 1 in A flat major - ("Aeolian Harp") (1836)
    - Op. 25 No. 2 in F minor (1836)
    - Op. 25 No. 3 in F major (1836)
    - Op. 25 No. 4 in A minor (1832-1834)
    - Op. 25 No. 5 in E minor (1832-1834)
    - Op. 25 No. 6 in G-sharp minor (1832-1834)
    - Op. 25 No. 7 in C-sharp minor (1836)
    - Op. 25 No. 8 in D-flat major (1832-1834)
    - Op. 25 No. 9 in G-flat major - ("Butterfly")(1832-1834)
    - Op. 25 No. 10 in B minor (1832-1834)
    - Op. 25 No. 11 in A minor ("Winter Wind") (1834)
    - Op. 25 No. 12 in C minor (1836)

    fantaisies (gồm cả Fantaisie-Impromptu và Polonaise-Fantaisie)
    1 fugue
    4 impromptus (3 nếu loại Fantaisie-Impromptu)

    - Op. 29 in A-flat major
    - Op. 36 in F-sharp major
    - Op. 51 in G-flat major
    - Op. 66 Posth. in C-sharp minor - Fantaisie-Impromptu

    57 mazurkas
    - Op. 6 No. 1 in F-sharp minor
    - Op. 6 No. 2 in C-sharp minor
    - Op. 6 No. 3 in E major
    - Op. 6 No. 4 in E-flat minor
    - Op. 7 No. 1 in B-flat major
    - Op. 7 No. 2 in A minor
    - Op. 7 No. 3 in F minor
    - Op. 7 No. 4 in A-flat major
    - Op. 7 No. 5 in C major
    - Op. 17 No. 1 in B major
    - Op. 17 No. 2 in E minor
    - Op. 17 No. 3 in A-flat major
    - Op. 17 No. 4 in A minor
    - Op. 24 No. 1 in G minor
    - Op. 24 No. 2 in C major
    - Op. 24 No. 3 in A-flat major
    - Op. 24 No. 4 in B-flat minor
    - Op. 30 No. 1 in C minor
    - Op. 30 No. 2 in B minor
    - Op. 30 No. 3 in D-flat major
    - Op. 30 No. 4 in C-sharp minor
    - Op. 33 No. 1 in G-sharp minor
    - Op. 33 No. 2 in D major
    - Op. 33 No. 3 in C major
    - Op. 33 No. 4 in B minor
    - Op. 41 No. 1 in E minor
    - Op. 41 No. 2 in B major
    - Op. 41 No. 3 in A-flat major
    - Op. 41 No. 4 in C-sharp minor
    - Op. 50 No. 1 in G major
    - Op. 50 No. 2 in A-flat major
    - Op. 50 No. 3 in C-sharp minor
    - Op. 56 No. 1 in B major
    - Op. 56 No. 2 in C major
    - Op. 56 No. 3 in C minor
    - Op. 59 No. 1 in A minor
    - Op. 59 No. 2 in A-flat major
    - Op. 59 No. 3 in F-sharp minor
    - Op. 63 No. 1 in B major
    - Op. 63 No. 2 in F minor
    - Op. 63 No. 3 in C-sharp minor
    - Op. 67 No. 1 in G major
    - Op. 67 No. 2 in G minor
    - Op. 67 No. 3 in C major
    - Op. 67 No. 4 in A minor
    - Op. 68 No. 1 in C major
    - Op. 68 No. 2 in A minor
    - Op. 68 No. 3 in C major
    - Op. 68 No. 4 in F minor

    No. 50 in A minor
    No. 51 in A minor
    21 nocturnes

    - Op. 9 No. 1 in B-flat minor
    - Op. 9 No. 2 in E-flat major
    - Op. 9 No. 3 in B major
    - Op. 15 No. 1 in F major (1830-1831)
    - Op. 15 No. 2 in F-sharp major (1830-1831)
    - Op. 15 No. 3 in G minor (1833)
    - Op. 27 No. 1 in C-sharp minor
    - Op. 27 No. 2 in D-flat major
    . 32 No. 1 in B major (1836-1837)
    . 32 No. 2 in A-flat major (1836-1837)

    - Op. 37 No. 1 in G minor
    - Op. 37 No. 2 in G major
    - Op. 48 No. 1 in C minor
    - Op. 48 No. 2 in F-sharp minor
    - Op. 55 No. 1 in F minor
    - Op. 55 No. 2 in E-flat major
    - Op. 62 No. 1 in B major
    - Op. 62 No. 2 in E major
    - Op. 72 No. 1 in E minor
    - Op. Posth. in C-sharp minor
    - Op. Posth. in C minor
    18 polonaises (15 if you exclude the Polonaise-Fantaisie and the curious hybrid piece containing a section for piano solo (Andante spianato), and a section for piano and orchestra (Grande Polonaise brillante). The piano part of the second section can also be played as a solo, thus fitting into this category. The same piano part can also be played with the Andante spianato preceding it, making it as hard to classify as the Polonaise-Fantaisie and the 'Fantaisie-Impromptu'.)

    - Op. 26 No. 1 in C-sharp minor
    - Op. 26 No. 2 in E-flat minor
    - Op. 40 No. 1 in A major
    - Op. 40 No. 2 in C minor
    - Op. 44 in F-sharp minor
    - Op. 53 in A-flat major
    - Op. 61 in A-flat major (Polonaise-Fantaisie)
    - Op. 71 No. 1 in D minor
    - Op. 71 No. 2 in B-flat major
    - Op. 71 No. 3 in F minor

    7 préludes, one of which, No. 20 in C minor, was adapted by Barry Manilow as the basis for his hit pop recording "Could it be Magic" in 1975. No. 4 in E minor was adapted as the basis for Jane Birkin's "Jane B" in 1970.

    - Op. 28 No. 1 in C major (1839)
    - Op. 28 No. 2 in A minor (1838)
    - Op. 28 No. 3 in G major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 4 in E minor (1838)
    - Op. 28 No. 5 in D major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 6 in B minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 7 in A major (1836)
    - Op. 28 No. 8 in F-sharp minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 9 in E major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 10 in C-sharp minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 11 in B major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 12 in G-sharp minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 13 in F-sharp major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 14 in E-flat minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 15 in D-flat major ("Raindrop") (1838-1839)
    - Op. 28 No. 16 in B-flat minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 17 in A-flat major (1836)
    - Op. 28 No. 18 in F minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 19 in E-flat major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 20 in C minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 21 in B-flat major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 22 in G minor (1838-1839)
    - Op. 28 No. 23 in F major (1838-1839)
    - Op. 28 No. 24 in D minor (1838-1839)
    - Op. 45 in C-sharp minor
    - Op. Posth. in A-flat major

    5 rondos

    - Op. 1 Rondo in C Minor
    - Op. 5 Rondo à la Mazur in F major (1826)
    - Op. 14 Rondo à la Krakowiak in F major (1828)
    - Op. 16 Rondo in E-flat major (1832)
    - Op. 73 Rondo in C major (1828)(Posthumous)

    4 scherzos

    - Op. 20 No. 1 Scherzo in B minor (1831)
    - Op. 31 No. 2 Scherzo in B-flat minor (1837)
    - Op. 39 No. 3 Scherzo in C-sharp minor
    - Op. 54 No. 4 Scherzo in E major

    4 sonatas

    - Op. 4 No. 1 Piano Sonata in C minor
    - Op. 35 No. 2 Piano Sonata in B-flat minor
    - Op. 58 No. 3 Piano Sonata in B minor

    Unfinished sonata

    20 waltzes (see list of waltzes by Chopin)

    - Op. 34 No. 1 in A-flat major (1835)
    - Op. 34 No. 2 in A minor (1831)
    - Op. 34 No. 3 in F major (1838)

    Piano và dàn nhạc

    2 piano concertos

    - Op. 11 No. 1 Concerto for Piano and Orchestra in E minor (1830)
    - Op. 21 No. 2 Concerto for Piano and Orchestra in F minor (1829-1830)

    4 other works — Variations on Là ci darem la mano; Krakowiak; Grande Fantaisie on Polish Airs; Andante spianato and Grande Polonaise brillante (but see above for categorization comments)

    Tác phẩm cho giọng hát

    20 bài hát tiếng Ba Lan cho giọng hát và piano

    Tác phẩm thính phòng khác

    1 piano trio for violin, cello and piano

    1 cello sonata with piano

    2 other works for cello and piano

    Frederic Chopin: Bản tình ca ngọt ngào trong cuộc đời ngắn ngủi



    a thu năm 1849, trước khi trút hơi thở cuối cùng người nhạc sĩ ấy đã khẩn cầu: Hãy mang trái tim tôi trở về với Tổ quốc! Và hãy rải lên nắp áo quan nắm đất của đất nước Ba Lan mà tôi đã giữ gìn như bảo vật suốt 20 năm trời xa xứ... Đó là ý nguyện cuối cùng của nhạc sĩ thiên tài Frederic Chopin - người được thế giới biết đến là nghệ sĩ biểu diễn, nhà soạn nhạc vĩ đại cho đàn piano.


    Vì sao Tổ quốc lại trở thành nỗi niềm day dứt khôn nguôi trong trái tim người nghệ sĩ piano lừng danh thế giới này? Một số nhạc sĩ thiên tài đã từng sống xa Tổ quốc, như Mozart, Beethoven, Schubert... đều có chung nỗi buồn xa xứ. Song, không một ai trong số họ, niềm vương vấn với quê mẹ lại sâu nặng như ở Chopin.

    Tạm biệt quê nhà năm 20 tuổi, cho đến cuối cuộc đời, vì nhiều lý do khác nhau, Chopin không có cơ hội một lần quay trở lại. Ngay cả thân xác ông cũng nằm lại chốn quê người. Phải mấy chục năm sau, trái tim của người nghệ sĩ mới được yên nghỉ vĩnh hằng nơi Tổ quốc! Trái tim đó hiện được lưu giữ tại nhà thờ Thánh Thập Tự tại thủ đô Warsaw.

    Hầu hết các thiên tài âm nhạc thế giới đều gắn bó và thành danh với cây đàn piano - cây đàn được suy tôn là "ông vua của các loại nhạc cụ". Đầu tiên là trình diễn đàn piano, sau đến là sáng tác các nhạc phẩm cho loại đàn này. Riêng đối với Chopin, từ khi còn là cậu bé lên 2 tuổi, đã có thể ngồi bên chân mẹ hàng giờ liền để nghe âm thanh thánh thót của những phím đàn dưới đôi bàn tay người mẹ.

    Người mẹ của Chopin tuy không phải là nghệ sĩ biểu diễn, song không thể không ngồi trước cây đàn piano mỗi tối, sau khi đã làm xong mọi việc thuộc thiên chức của người mẹ. Bà là người Ba Lan, xuất thân từ dòng dõi quý tộc, biết chơi đàn, biết hát những bài dân ca Ba Lan, thích nhảy múa, có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Chopin.

    Khi 6 tuổi, một đêm không ngủ, cậu bé Chopin đã lén vào phòng của mẹ để đụng tay vào những phím đàn. Lên 7 tuổi, cậu bé đã có thể công bố nhạc khúc đầu tay "Vũ khúc Ba Lan" nổi tiếng toàn thế giới. 8 tuổi Chopin đã diễn tấu trước công chúng bản Concerto viết cho piano của Adalbart Gyrowetz và bắt đầu viết được những bản Polonaises, Mazurka và một bản Waltzes. 15 tuổi nhạc sĩ xuất bản điệp khúc viết cho Piano (Rondo for Piano)...

    Chopin may mắn được sinh ra và lớn lên trên đất nước Ba Lan, quê hương của nhiều thể loại âm nhạc, Opera, nhạc đường phố, nhạc trong nhà... Đâu đâu cũng có thể thưởng thức những ca khúc Arian và Roman, các điệu Polonaises và Waltzes. Rất nhiều người biết chơi piano, violon, anpha...

    Nơi đây có nhiều điệu nhảy tưng bừng, mà mỗi khi bước lên sàn, người đàn ông thì hùng dũng gõ vang gót giày còn các cô gái thì lướt đi uyển chuyển như gió, như mây. Cậu bé Chopin như bị thôi miên bởi tất cả những thứ được coi là "vàng ròng" đó. Mới 15 tuổi đầu, Chopin đã đi đến tận các ngang cùng ngõ hẻm của các làng quê Ba Lan, để đắm mình trong các điệu dân ca, dân vũ.

    Cậu bé phát hiện ra rằng, các bản Mazurka chứa đựng một nỗi buồn mêng mang không thể diễn đạt bằng lời, nhưng lại được bộc lộ một cách giản dị trong âm điệu của cây đàn. Âm nhạc dân gian Ba Lan, đặc biệt là âm nhạc của các loại vũ khúc đã làm rung động tâm hồn non nớt của Chopin, là cội nguồn của những giai điệu đẹp như thơ mà ông sáng tác sau này.

    Có thể nói, trong cuộc đời lao động nghệ thuật 52 bản Mazurka do ông sáng tác chính là tình yêu quê hương đất nước và khát vọng tự do mà nhạc sĩ đã gửi gắm. Những nhạc khúc ấy của Chopin được công chúng Ba Lan nhìn nhận là một vốn quý của dân tộc.

    Cùng với nguồn cảm hứng bất tận là tình yêu Tổ quốc, tình yêu đôi lứa cũng đem lại cho Chopin những cảm xúc dạt dào, đưa sự nghiệp âm nhạc của Chopin lên đỉnh cao.

    Theo một số nhà nghiên cứu tiểu sử, Chopin đã từng yêu ba người phụ nữ. Mối tình đầu với Conxtanxia- một cô gái Ba Lan, có giọng hát hay như chim họa mi, học chung trường khi Chopin còn ở quê nhà. Cô "đã bước vào cuộc đời anh như người chủ bước vào căn nhà bỏ không để ở lại đó thật lâu dài, vĩnh viễn".

    Song, xung quanh Conxtanxia có rất nhiều chàng trai quý tộc săn đón, còn Chopin thì e dè, mặc cảm, non nớt nên đã để mối tình đầu đi qua. Nhưng dư vị ngọt ngào của mối tình đầu đã khiến trái tim Chopin đóng kín một thời gian dài.

    Mùa hè năm 1835, tại Dresden, Chopin đã gặp gỡ và yêu một cô gái thứ hai cũng người Ba Lan. Đó là Maria, một cô gái thuộc đẳng cấp thượng lưu, năm ấy 16 tuổi. Do người thân của cô hết sức bảo thủ trong quan niệm "môn đăng hộ đối" nên dù hai người đã từng làm lễ đính hôn nhưng rốt cuộc mối tình này cũng kết thúc.

    Năm 28 tuổi, trong khi chưa chấm dứt hẳn quan hệ với Maria nhưng qua sự giới thiệu của bạn bè, Chopin quen biết với nữ văn sĩ Aurore Dupin, còn gọi là quý bà Dudenvant. Aurore Dupin là một người rất nổi tiếng ở Paris, hơn Chopin sáu tuổi, có hai con với người chồng cũ. Cô là tác giả của một số cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất ở Paris lúc đó, lại là người có nhan sắc, có tài sản, có những quan niệm mới mẻ về tình yêu và hạnh phúc.

    Trong các tiểu thuyết của mình, Dupin cổ súy cho tư tưởng giải phóng phụ nữ khỏi những định kiến hẹp hòi của xã hội đương thời. Sau khi ly dị, Dupin đã từng yêu một nhà thơ nổi tiếng, song vì không chấp nhận làm "nô lệ" cho người đó, nên cuối cùng tình cảm của họ cũng kết thúc.

    Khi được giới thiệu với Chopin, dẫu nghe người ta đồn rằng anh đã làm lễ đính hôn với Maria, song Aurore Dupin vẫn quyết tâm chinh phục bằng được người nhạc sĩ cô hằng ngưỡng mộ. Aurore Dupin cho rằng, mối tình với Chopin là "mối tình cao thượng, lớn lao, khó hiểu, làm lu mờ tất cả những chuyện đã qua. Và nếu như chẳng may chết đi trước cuộc gặp gỡ với Chopin thì toàn bộ cuộc đời sẽ chẳng có giá trị gì...".

    Sau nhiều lần gặp gỡ, Chopin vẫn tỏ ra hờ hững, vì giữa hai người có quá nhiều khác biệt, vì những lời đồn đại xung quanh phẩm hạnh và tính cách của Dupin. Chopin cảm thấy Dupin như "con hạc đứng giữa bầy gà, khi nói chuyện thì như mụ phù thủy Delphi trong đền thờ thần Apollo"... Nhưng dần dần, do những nỗ lực từ phía Dupin, định kiến được xóa bỏ.

    Trong một lá thư dài gửi Chopin, Aurore Dupin thẳng thắn bày tỏ tình cảm của mình: "Tôi không muốn giành giật của bất kỳ ai một cái gì hết... Tôi muốn trở thành một niềm vui hiếm hoi và mãnh liệt, muốn có mặt trong đời anh, dẫu bên cạnh một phụ nữ khác, muốn làm anh tin rằng, nhiều lúc có thể phân đôi thân mình khi không thể toàn vẹn được".

    Đã có lần, Dupin phủ phục dưới chân Chopin, năn nỉ: "Nếu không từ bỏ được Maria thì cũng đừng cự tuyệt tôi!". Cuối cùng thì Chopin đoạn tuyệt hẳn với Maria, chuyển đến sống chung của Dupin và hai đứa con của nàng từ mùa thu năm 1838.

    Khi Chopin bị viêm phổi, Dupin theo ông đi xuống miền Nam nước Pháp để tránh mùa đông giá rét. Suốt sáu tháng trên đảo Majorka, Dupin không khi nào rời khỏi giường bệnh. Chopin cảm thấy rất hạnh phúc, như "không phải sống trên mặt đất mà là đang sống trong thế giới thần tiên, có mây mù bao quanh, có mùi thơm ngào ngạt..".

    Chín năm sống trong tình yêu ngọt ngào - một quãng thời gian không quá ít ỏi trong cuộc đời ngắn ngủi của nhà nhạc sĩ thiên tài, đã đưa Chopin lên đỉnh cao của thành công. Ông chuyên tâm vào việc sáng tác, và hầu hết những kiệt tác: "Khúc tự sự số 2, số 3, số 4"; "Khúc hòa tấu B giáng minor", "Khúc ảo tưởng F minor", "Vũ khúc ảo tưởng Ba Lan", "Vũ khúc Mazurka" kiệt xuất và một số dạ khúc khác được sáng tác trong thời gian này.

    Chopin từng cho rằng, tình yêu như một cái giếng nghệ thuật, khi đào thấy miệng giếng, nguồn cảm hứng sẽ trào dâng.

    Nhưng buồn thay, do cá tính của hai người quá khác biệt, tuy vẫn còn rất yêu, cuối cùng Dupin chia tay với Chopin khi ông đang ốm thập tử nhất sinh. Sự ra đi của Dupin đã lấy đi hết cảm hứng, sinh lực, khiến Chopin gần như chấm dứt sự nghiệp sáng tác. Thế mới biết, "Nữ thần Tình yêu" luôn là chúa tể của tất cả các thần linh mà giới nghệ sĩ hằng thờ phụng.

    Chopin từng buồn bã thú nhận: "Nghệ thuật của tôi đi về đâu rồi? Lòng dạ của tôi ở đâu? Tôi đã tiêu hao nó vào đâu rồi? Tôi gần như không còn nhớ được tiếng hát quê hương của mình ra sao nữa!".

    Cũng may mà trong chín năm sống chung với Dupin, Chopin đã kịp mang tiết tấu, giai điệu của dân tộc Ba Lan đưa vào truyền thống âm nhạc châu Âu, sáng tạo ra một thứ âm nhạc Ba Lan mang ý nghĩa quốc tế, đồng thời nêu lên một mẫu mực cho âm nhạc dân tộc về sau.

    Âm nhạc của Chopin, từ những nhạc khúc mở đầu, những dạ khúc, những vũ khúc Mazurka, những vũ khúc Ba Lan, những nhạc khúc ngẫu hứng đều có nội dung vĩ đại, sâu sắc và đẹp như một bức tranh tình yêu chan hòa ánh nắng...

    Đêm 17 tháng mười năm 1848, Chopin qua đời, đôi bàn tay để trên bụng nắm chặt chiếc cốc bạc đựng nắm đất Tổ quốc Ba Lan. Đó là chiếc cốc bạc tinh xảo do một khán giả Ba Lan trao tặng Chopin trước khi lên đường sang Paris, với lời nhắn nhủ: "Chopin thân yêu! Đựng trong chiếc ly này là nắm đất Ba Lan Tổ quốc của chúng ta. Nhạc sĩ sắp đi xa, tôi thay mặt nhân dân Warsaw tặng nhạc sĩ làm chút kỷ niệm".

    Chopin đón nhận chiếc cốc, áp sát vào nơi trái tim đang đập rộn rã, nước mắt rưng rưng: "Tổ quốc ơi! Tôi mãi mãi trung thành với người! Tôi sẽ hiến thân cho người! Tôi sẽ mãi mãi dùng tiếng đàn để ca ngợi người!".

    Để vĩnh biệt Chopin, tại Medeleine, dàn nhạc giao hưởng và đội hợp xướng của Nhạc việc Paris đã trình tấu bản "Cầu hồn" của Wolfgang Amadeus Mozart
    Mắt nào em ném trao anh
    Dao cau bổ dọc toang mành trời đêm
    Môi nào rót mật ...say mềm
    Mà giờ rơi rớt ... bên thềm lắt lay


    Vũ Anh Vũ


  3. #3
    Gia nhập
    Sep 2006
    Bài gởi
    882

    Trả lời: Những nhạc sĩ thiên tài thế giới

    Franz Schubert ( 1797 - 1828 )


    "Khi tôi muốn ca hát về tình yêu thì tình yêu lại biến thành đau khổ,
    nhưng khi tôi chỉ muốn hát về đau khổ thì đau khổ lại hoá thành tình yêu"
    Franz Schubert



    Sự phát triển của con người và xã hội luôn liên tục và âm nhạc cũng không đứng ngoài qui luật đó. Bối cảnh lịch sử những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX tại châu Âu có những biến động đáng kể tạo nên những thay đổi lớn về chính trị, kinh tế và nghệ thuật. Hoà mình vào dòng chảy đó, âm nhạc cổ điển cũng có những chuyển mình cho phù hợp với qui luật tự nhiên. Giai đoạn Cổ điển Vienna khép lại với những tên tuổi lừng lẫy như Haydn, Mozart, Beethoven để mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn Lãng mạn mà sự huy hoàng của nó lan toả suốt thế kỷ XIX với rất nhiều nhà soạn nhạc ưu tú như Mendelssohn, Schumann, Chopin, Liszt hay Tchaikovsky nhưng trong đó người khai phá và là “nhân vật vĩ đại” đầu tiên chính là Franz Schubert.

    Franz Schubert sinh ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Himmelpfortgrund, một làng nhỏ ở ngoại ô Vienna trong một gia đình có nguồn gốc Bohemian. Cha của Schubert là một thầy giáo làng chơi được Violin và Cello, mẹ ông vốn là đầu bếp. Cha mẹ Schubert có cả thảy 15 người con nhưng 10 người trong số họ đã chết ngay từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại 5 người. Schubert có 3 người anh trai Ignaz (1785), Ferdinand (1794), Karl (1796) và một cô em gái Theresia (1801). Chính người cha và anh trai Ignaz đã dạy cho Schubert những bài học âm nhạc đầu tiên.

    Lớn lên trong một gia đình mà mọi thành viên đều có niềm đam mê âm nhạc lớn lao nhưng lại có nền kinh tế tỷ lệ nghịch với niềm đam mê đó, thời thơ ấu của Schubert là những chuỗi ngày ông không thể nào quên cho đến cuối cuộc đời. Luôn sống trong cảnh nghèo đói, những kí ức tuổi thơ buồn bã thường xuyên xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm của Schubert sau này. Năm 1804, khi mới 7 tuổi, Schubert được gửi tới nhà thờ Lichtenthal ở Vienna để học chơi đàn Organ. Năm 1808, để gia đình giảm bớt một miệng ăn, Schubert tới học ở trường nội trú Convict nơi có nhà soạn nhạc nổi tiếng Antonio Saliari - người cùng thời với Mozart làm hiệu trưởng. Tuy được miễn hoàn toàn học phí cũng như tiền ăn, tiền trọ nhưng cuộc sống hà khắc nơi đây thật quá sức chịu đựng của một cậu bé mới 10 tuổi. Trong thời gian 5 năm sống tại đây, Schubert còn phải chịu đựng sự ghẻ lạnh của những người bạn học vốn là con của những gia đình giàu có. Cũng trong thời gian này, Schubert ban đầu chơi ở bè Violin 2 sau đó chuyển lên bè Violin 1 trong dàn nhạc của trường. Những sáng tác đầu tiên của cậu bé cũng bắt đầu xuất hiện trong đó nổi tiếng nhất là bản Fantasia cho 2 Piano (1810).

    Rời truờng nội trú năm 16 tuổi, để san sẻ gánh nặng cho gia đình, Schubert định đi đăng lính nhưng vì cận thị quá nặng, bị quân đội từ chối, ông đành nghe theo lời cha đi làm thầy giáo tại Annegasse. Tuy công việc khá nhàm chán không làm thoả mãn nhà soạn nhạc trẻ vốn đầy hoài bão, ước mơ nhưng vì thực tế cuộc sống Schubert đành phải tạm bằng lòng với bản thân. Trong thời gian 3 năm dạy học, Schubert đã sáng tác được 2 tứ tấu đàn dây, những bản giao hưởng đầu tiên, một vài Piano sonata, Mass số 1 giọng Pha trưởng. Tác phẩm Mass số 1 giọng Pha trưởng lần đầu tiên được vang lên vào tháng 10 năm 1814 tại nhà thờ Lichtenthan với giọng hát chính do ca sỹ trẻ Therese Grob đảm nhiệm, người mà Schubert đem lòng yêu mến. Sau này Schubert đã ngỏ lời cầu hôn nhưng bị gia đình cô gái từ chối và từ đó Schubert luôn mang trong mình vết thương lòng sâu sắc cũng như không bao giờ nghĩ đến chuyện lấy vợ nữa.

    Thời gian này các tác phẩm của Schubert xuất hiện với số lượng thật đáng kinh ngạc. Năm 1814, Schubert hoàn thành vở opera đầu tiên Des Teufels Lustschloss D.84 cũng như 17 lied trong đó có những bài nổi tiếng như Der Taucher D.77/111 hay Gretchen am Spinnrade D.118 (dựa theo thơ của Goethe). Một năm sau, 145 lied và 4 vở opera khác ra đời, những con số thật ấn tượng. Có cảm giác không phải Schubert sáng tác mà những bài hát tuôn trào dưới tay ông như một dòng thác.

    Schubert chuyển đến dạy học tại trường Laibach ở Slovenia vào năm 1816. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng được ông sáng tác vào thời gian này. Tiêu biểu có các lied Erlkonig (Chúa rừng), Gesange des Harfners, giao hưởng số 4 Tragic giọng Đô thứ D.417, giao hưởng số 5 giọng Si giáng trưởng D.485. Tháng 6 năm 1816, Schubert bắt tay vào viết bản cantata Prometheus.

    Một năm trước đó, trong một lần đến thăm Linz, Schubert gặp Franz von Schober - một chàng trai trẻ rất đáng mến và họ trở thành những người bạn thân nhất của nhau. Là con một gia đình khá giả, chính Schober là người giúp đỡ Schubert nhiệt tình nhất trong cuộc sống sau này. Nghe theo lời khuyên của Schober, Schubert đã rời bỏ nghề dạy học để thành một nhà soạn nhạc tự do, điều mà Schubert luôn khao khát. Năm 1817, trở lại Vienna thời gian đầu, Schubert sống tại nhà của Schober. Tại đây Schubert gặp Johann Michael Vogl, giọng nam trung nổi tiếng nhất Vienna thời bấy giờ. Sự cộng tác giữa họ đã tạo nên những buổi hoà nhạc rất ấn tượng thu hút được nhiều sự chú ý mà công chúng Vienna hồi đó gọi là Schubertiaden. Tuy nhiên điều này cũng không che giấu được thực tế là chàng trai 20 tuổi Franz Schubert vẫn rất khó khăn trong việc khẳng định vị trí của mình. Các nhà xuất bản chỉ trả cho Schubert những khoản nhuận bút rất thấp khi in ấn các tác phẩm của ông và Schubert vẫn phải ở nhờ nhà bạn.

    Với bản tính vui vẻ, thích giao thiệp Schubert kết giao được rất nhiều bạn bè và một người trong số đó Anselm Huttenbrenner đã giới thiệu ông đến làm việc tại lâu đài của công tước Esterhazy - nơi mà Haydn vĩ đại đã từng sống. Thời gian đầu tại đây Schubert còn cảm thấy hạnh phúc nhưng dần dần nỗi buồn xâm chiếm ông và trong vòng chưa đầy một năm ông đã trở về Vienna.

    Mùa hè năm 1819, một niềm vui nhỏ đến với Schubert. Trong chuyến lưu diễn cùng với Vogl tại Upper, Áo, các bài hát của ông được đón giới yêu âm nhạc nơi đây rất yêu thích trong đó nổi bật có lied Die Forelle (the Trout) và Ngũ tấu Piano giọng La trưởng D.667 còn có tên khác là Trout Quintet. Năm 1820, Schubert hoàn thành Piano Sonata giọng La trưởng, D.664, tác phẩm thính phòng xuất sắc Tứ tấu đàn dây giọng Đô thứ Quartettsatz D.703, âm nhạc cho vở kịch Die Zauberharfe D.64 và vở opera Die Zwillingsbrüder D.647.

    Lúc này Schubert đã trở nên nổi tiếng nhưng sự nghèo khó vẫn không chịu buông tha ông. Các nhà xuất bản chỉ chịu trả cho Schubert những khoản tiền ít ỏi để in những tác phẩm của ông. Thường xuyên phải nhịn đói, đã có lần để đổi lấy một bữa ăn Schubert phải sáng tác một bài hát tặng ông chủ quán.

    Năm 1822 sự nghiệp âm nhạc của Schubert có một bước ngoặt vĩ đại. Ông sáng tác bản giao hưởng số 8 giọng Si thứ Unfinished D.759 (giao hưởng bỏ dở) nổi tiếng. Không hiểu vì lý do gì bản giao hưởng chỉ có 2 chương thay vì 4 chương như thông thường. Nếu như những tác phẩm được sáng tác trong thời gian đầu của Schubert còn mang hơi hướng của trường phái cổ điển Vienna thì đến bản giao hưởng này đã cho thấy một ngôn ngữ thể hiện hoàn toàn khác vượt qua những qui tắc khắt khe, chặt chẽ để đến với những sáng tạo, tìm tòi mới tạo lập nên một trường phái mới: Trường phái lãng mạn mà sau này đã lan rộng ra khắp châu Âu trong suốt thế kỷ XIX trong đó Franz Schubert chính là “người vĩ đại đầu tiên”. Tổng phổ tác phẩm này bị thất lạc trong hơn 60 năm kể từ ngày được Schubert viết chỉ được tìm thấy một cách tình cờ trong ngăn kéo tại nhà Anselm Huttenbrenner. Cùng trong năm 1822 này, Schubert hoàn thành bản Mass giọng La giáng trưởng D.678 và tác phẩm nổi tiếng Wanderer fantasy cho Piano D760 (sau này Liszt đã phối khí lại cho Piano và dàn nhạc). Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì bản nhạc này dựa trên một lied của Schubert: Der Wanderer.

    Toàn bộ các sáng tác của Schubert đều mang đậm màu sắc trữ tình, trữ tình đến mức nhiều nhà phê bình sau này không lý giải được và họ phải thốt lên: “chất trữ tình đầy đậm đà như mặt nước của con sông Rhein trôi êm đềm”. Phải chăng cuộc sống nghèo khổ lại là nguồn cảm hứng bất tận và âm nhạc là người bạn sẻ chia mọi nỗi buồn đau?

    Năm 1823, vở opera Rosamude, furstin von Cypern (Rosamude, hoàng tử của đảo Cyprus) và tập bài hát đầu tiên Die Schöne Müllerin D. 795 (Con gái ông chủ cối xay xinh đẹp) dựa theo thơ của Wilhelm Müller ra đời. Các tác phẩm của Schubert luôn xuất hiện với số lượng đáng kinh ngạc cho thấy ông quả là một con người thật phi thường. Một năm sau, Schubert sáng tác 2 bản Tứ tấu đàn dây giọng La thứ và Rê thứ Death and the maiden (Cái chết và thiếu nữ) cũng như Octet giọng Pha trưởng D.803. Trong lần trở lại nhà công tuớc Esterhazy để dạy học cho 2 con gái của công tước, ông viết Divertissement a l'Hongroise D.818 sau khi bị những giai điệu dân ca Hungary chinh phục. Thời gian này, đời sống của Schubert có khá hơn nhưng ông lại có những nỗi bực bội khác. Trong một bức thư cho bạn, Schubert viết: “Tôi cảm thấy rất mệt mỏi. Sự tự do của tôi đang bị đánh cắp. Tôi sẽ trở về và không bao giờ quay trở lại đây nữa”. Schubert là như vây, luôn coi trọng tự do và không để những việc đời thường làm ảnh hưởng đến công việc sáng tác của mình.

    Trong thời kỳ mà sự ổn định tạm thời về kinh tế xen lẫn với sự suy sụp về sức khoẻ, Schubert vẫn không ngừng sáng tác, âm nhạc đối với ông như một niềm an ủi. Từ năm 1825 đến 1826, hàng loạt các tác phẩm quan trọng ra đời như Piano Sonata giọng La thứ, Op. 42; giọng Rê trưởng, Op. 53 và bản giao hưởng cuối cùng của ông bản giao hưởng số 9 giọng Đô trưởng (the Great) D.944. Bản nhạc này cũng bị thất lạc như bản số 8 nhưng được Robert Schumann tìm thấy vào năm 1839 trong đống giấy tờ còn sót lại của Schubert. Mendelssohn đã lần đầu tiên chỉ huy bản giao hưởng này nhân dịp kỷ niệm mười năm ngày mất của Schubert.

    Năm 1827, Beethoven - người mà Schubert luôn kính phục trong suốt cuộc đời mất. Như dự báo được số phận của mình, Schubert lao vào sáng tác như để chạy đua với thời gian. Tập bài hát thứ 2 Winterreise D. 911 (Cuộc hành trình mùa đông) cũng dựa theo thơ của Müller ra đời và cùng với tập thứ nhất là những viên ngọc vô giá trong kho tàng thanh nhạc của nhân loại. Bốn Impromtu cho Piano, D.899, Trio giọng Si giáng trưởng và Fantasia cho Violin và Piano, D934 ra đời trong thời gian này cũng là những tác phẩm ưu tú.

    Mười bốn lied trong tập liên khúc thứ 3 và cũng là tập cuối cùng Schwanengesang D.957 (Bài ca thiên nga) được Schubert viết vào năm 1828. Sáu bài trong số đó là dựa vào thơ của Heinrich Heine. Các tác phẩm cuối cùng của Schubert là 3 Piano Sonata cuối cùng cũng như Ngũ tấu cho dàn dây giọng Đô trưởng D.956 cho 2 Violin, Viola và 2 Cello.

    Giữa lúc sức sáng tạo đang dồi dào nhất, sức khoẻ của Schubert ngày càng trở nên xấu hơn. Ông luôn phải vật lôn với căn bệnh thương hàn và do chữa bệnh bằng thuỷ ngân (cách chữa bệnh phổ thông thời đó) nên bệnh tình ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Schubert bị suy sụp hoàn toàn vào tháng 10 năm 1828 sau khi trở về Vienna từ Eisentadt, nơi ông đi thăm mộ của Haydn. Trong bức thư cuối cùng Schubert viết cho Schober ngày 12 tháng 11, ông đã thể hiện sự tuyệt vọng của mình: “Tôi đang ốm. Mười một ngày nay tôi hầu như không ăn uống được gì. Tôi đi không vững nữa”. Schubert qua đời ngày 19 tháng 11 năm 1828. Và thể theo nguyện vọng lúc cuối đời của ông, mộ của Schubert được đặt cạnh mộ của Beethoven tại nghĩa trang Walhring. Vào năm 1888, hai ngôi mộ này được chuyển đến nghĩa trang Zentralfriedhof bên cạnh Johann Strauss cha và Johannes Brahms.

    Chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng Schubert đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm thật đồ sộ. Chín bản giao hưởng (bản giao hưởng số 7 bị thất lạc), khoảng 10 vở opera, 15 tứ tấu đàn dây, 8 Mass, gần 20 piano sonata, 500 tiểu phẩm cho nhiều nhạc cụ và hơn 600 lied, những con số khổng lồ khiến chúng ta ngày nay vẫn chưa hết kinh ngạc. Thật tiếc nuối cho Schubert và cho tất cả những người yêu âm nhạc, ở độ tuổi 31, Bach và Haydn chưa có tác phẩm nổi tiếng còn Beethoven thì chỉ vừa mới hoàn thành bản giao hưởng số 1. Sự ngọt ngào trong đau khổ của Schubert đã thổi vào nền âm nhạc thế kỷ XIX những ngọn gió nhẹ trong lành, tươi mát mãi cho đến tận bây giờ...




    Danh mục tác phẩm của Franz Schubert



    A. Sắp xếp theo thể loại :

    Giao hưởng :

    - Symphony No. 1 in D major (D.82)
    - Symphony No. 2 in B-flat (D.125)
    - Symphony No. 3 in D major (D.200)
    - Symphony No. 4 in C minor (D.417), the Tragic
    - Symphony No. 5 in B-flat (D.485)
    - Symphony No. 6 in C major (D.589)
    - Symphony No. 7 in E major (D.729):
    - Symphony No. 8 in B minor (D.759), the Unfinished – đôi khi được tính là No. 7
    - Symphony No. 9 in C major (D.944), the Great – đôi khi được tính là No. 7 hay No. 8
    - 10th (or "Last") Symphony in D major (do Brian Newbould xây dựng từ phác thảo giao hưởng D.936a)


    Âm nhạc cho hòa tấu thính phòng :

    - Piano Quintet in A, The Trout Quintet (D.667)
    - Quartettsatz (quartet movement) in C minor (D.703)
    - Octet in F (D.803)
    - String Quartet in A minor, the Rosamunde Quartet (D.804)
    - Arpeggione sonata (D.821), cho một nhạc cụ mới giống cello và piano, hiện nay thường được chơi trên đàn cello.
    - String Quartet in D minor, âm nhạc sử dụng cho bài hát Death and the Maiden (D.810)
    - String Quartet No. 15 in G (D. 887, Op. 161, 1826)
    - Rondeau brilliant for piano and violin (D.895, Op.70)
    - Fantasia for piano and violin in C (D.934)
    - Two Piano trios (B flat, D.898 - E flat, D.929)
    - String Quintet in C (D.956)


    Piano solo : Danh sách các tác phẩm độc tấu piano của Schubert

    Lied và liên khúc : Danh sách các lieder và liên khúc của Schubert

    - Der Hirt auf dem Felsen (D.965, published as Op. 129)
    - Der Taucher (D.77/111)
    - Gretchen am Spinnrade (D.118, published as Op. 2).
    - Erlkönig (D.328, published as Op. 1) - lời của Goethe
    - Einsamkeit (D.620)
    - Marienbild (D.623)
    - Litaney
    - Schäfers Klagelied
    - Die Forelle (The trout), chủ đề được sử dụng trong Trout Quintet
    - Death and the Maiden (D.531 - xem Death and the Maiden Quartet).
    - l'Addio
    - Die schöne Müllerin hay Müllerlieder (D.795), liên khúc, lời của Wilhelm Müller
    - Ave Maria (tên gốc: Ellens Gesang III, D.839), lời dựa trên trích đoạn The lady of the lake của Sir Walter Scott
    - Ständchen (D.889), phổ bản dich tiếng Đức bài thơ Hark! Hark! the Lark của Shakespeare (Cymbeline, Act II, scene 3)
    - An Silvia (D.891), lời dựa trên Who is Sylvia? của Shakespeare.
    - Winterreise (D.911), liên khúc
    - Song of Miriam
    - Schwanengesang hay Bài ca thiên nga (D.957), liên khúc, một vài bài dựa theo lời thơ của Heinrich Heine
    - Der Wanderer
    - An die Musik
    - Adelaide
    - Nur wer die Sehnsucht kennt
    - An die Freude (Beethoven cũng sử dụng bài thơ này của Schiller trong giao hưởng số 9 của mình)

    Mass, Oratorio và các tác phẩm tôn giáo khác :

    Những tác phẩm nghi lễ :

    - Mass No. 2 in G (D.167)
    - Magnificat in C (D.486}
    - Mass No. 5 in A flat (D.678)
    - Deutsche Messe (D.872)
    - Mass No. 6 in E-flat (D.950)
    - Tantum Ergo (D.962)

    O- ratorio :

    - Lazarus (D.689)

    Opera và âm nhạc sân khấu :

    - Des Teufels Lustschloss (D.84)
    - Der vierjährige Posten (D.190)
    - Fernando (D.220)
    - Claudine von Villabella (D.239)
    - Adrast (D.137) - unfinished
    - Die Freunde von Salamanka (D.326) - unfinished
    - Die Bürgschaft (D.435)
    - Die Zwillingsbrüder (D.647)
    - Die Zauberharfe (D.644)
    - Alfonso und Estrella
    - Fierabras (D.796), the opera that kept most notoriety after Schubert's death.
    - Die Verschworenen (D.787), comic opera
    - Rosamunde (D.797) (âm nhạc phụ trợ cho một vở kịch

    B. Sắp xếp thep số D

    Đây là hệ thống danh mục tác phẩm của Schubert do nhà âm nhạc học người Áo Otto Erich Deutsch (1883 – 1967) xây dựng.

    Từ D 1 đến D 504
    Từ D 505 đến D 998



    Franz Schubert - Âm nhạc và cuộc đời dang dở



    "Khúc nhạc chiều" với giai điệu buồn da diết của nhạc sĩ thiên tài người Áo đã khiến cả nhân loại phải thổn thức. Con người bình dị này đã miệt mài sáng tạo trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình và để lại 10 bản sonate, 20 bản tứ tấu, 10 bản giao hưởng và 5 vở opera cho kho tàng âm nhạc cổ điển thế giới.

    Schubert từng có 15 năm làm thày giáo tiểu học theo nghiệp cha, nhưng thực ra ông nghĩ tới âm nhạc nhiều hơn dạy học. Khi mới tuổi 18, Schubert viết bản lider (ca khúc thơ có đệm đàn piano) đầu tiên. Ông là người có công phối hợp đến mức tuyệt vời thể loại thi ca và giai điệu.

    Trong số 10 bản giao hưởng đồ sộ của ông có một bản giọng si thứ, sáng tác vào năm 1822 chưa hoàn thành. Sau này, giới phê bình âm nhạc gọi tên là bản Giao hưởng bỏ dở. Mãi về sau, người ta mới biết được Schubert rất hay bị đau ốm, nên ông không thể hoàn thành trọn vẹn bản giao hưởng tuyệt vời đó. Đây là bản giao hưởng duy nhất trong lịch sử âm nhạc cổ điển chỉ có hai chương. Tuy nhiên, chính sự dang dở ấy đã khai mở một mạch nguồn âm nhạc vô tận, mỗi người có cách phát triển ý nhạc đó theo cảm xúc riêng.

    Năm 1815, Hoàng đế nước Pháp Napoleon bị phế truất. Niềm hy vọng về tự do và cách mạng thổi bùng khắp nơi. Ban ngày, người dân bàn tán về số phận của châu Âu, ban đêm khiêu vũ trong các quán rượu, nhà hàng và các lâu đài quý tộc. Chính những nơi này sinh ra những điệu valse, mà sau này dòng họ Johann Strauss đã khai thác triệt để và trở thành những bản valse bất tử của nhân loại. Khi ấy, Schubert thường thết đãi bạn bè nhạc sĩ bằng những bản nhạc do mình sáng tác trong những buổi dạ hội mang tên Những buổi tối Schubert. Các sáng tác của ông được giới nhạc sĩ đương thời ngưỡng mộ. Thế nhưng, ông lại không có được vị trí xứng đáng trong danh sách những nhạc sĩ hàng đầu của thành Vienne lúc bấy giờ.

    Cuộc sống của thiên tài rất nghèo túng. Đôi khi, ông viết liên tục không nghỉ trong một ngày, chỉ mong kiếm được một khoản kha khá từ các nhà sản xuất. Có nhà xuất bản chỉ chịu trả cho ông 6 bản lider trong số 24 bản của tập Hành trình mùa đông với giá 15 franc rẻ mạt.

    Tuy vậy, Schubert vẫn miệt mài sáng tác. Các tác phẩm của ông thấm đượm nỗi u buồn và ca ngợi sự chịu đựng phi thường của con người trước số phận bất hạnh. Những giai điệu ấy cũng chan chứa tình yêu cuộc sống cho đến phút cuối cuộc đời.

    Khúc nhạc chiều bất hủ của ông sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ. Để làm cho nàng bất ngờ, ông nhờ một bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert.

    Vào một ngày mùa đông tháng 11 năm 1828, nhạc sĩ thiên tài giã từ thế giới ở tuổi 32, vì căn bệnh thuỷ đậu tại nhà của một người anh em ở ngoại ô thành Vienne. Khi ông mất, người ta kiểm kê tài sản và chỉ đếm được vẻn vẹn 6 shilling đồng sáu xu và một đống bản thảo nhạc viết tay.

    Có thể nói Nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert là nhân vật vĩ đại đầu tiên của nền âm nhạc Lãng mạn thế kỉ 19. Trong cuộc đời ngắn ngủi chỉ có 31 năm của mình, Franz Schubert đã để lại một khối lượng các tác phẩm khổng lồ: 9 bản giao hưởng (bản giao hưởng số 7 bị thất lạc), khoảng 10 vở opera, 15 tứ tấu đàn dây, 8 Mass, gần 20 piano sonata, 500 tiểu phẩm cho nhiều nhạc cụ và hơn 600 lied. Điều này cho ta thấy ở Schubert một tài năng lỗi lạc, một sức sáng tạo thật phi thường và ta sẽ càng cảm phục thêm con người ông nếu như ta biết được rằng trong suốt cuộc đời mình, Schubert luôn phải sống trong tình trạng đói nghèo.

    Rất kính phục Beethoven, khi biết được cái chết đã ở rất gần mình, Schubert có một ước muốn: “Hãy chôn tôi cạnh mộ Beethoven”. Ước muốn đó đã thành sự thực, mộ của Schubert được đặt cạnh mộ của Beethoven tại nghĩa trang Walhring, và sau đó là nghĩa trang Zentralfriedhof. Trên mộ của Schubert ghi dòng chữ:
    "Cái chết đã chôn vùi một tài năng tuyệt vời của nhân loại, và đó còn là một tài năng hứa hẹn hơn gấp nhiều lần".
    Mắt nào em ném trao anh
    Dao cau bổ dọc toang mành trời đêm
    Môi nào rót mật ...say mềm
    Mà giờ rơi rớt ... bên thềm lắt lay


    Vũ Anh Vũ


  4. #4
    Gia nhập
    Sep 2006
    Bài gởi
    882

    Trả lời: Những nhạc sĩ thiên tài thế giới

    Wolfgang Amadeus Mozart ( 1756 - 1791 )




    Wolfgang Amadeus Mozart sinh ngày 27/1/1756 ở Salzburg, vào thời điểm đó gia đình cậu đang ở trong thời kỳ tương đối sung túc. Cha cậu, ông Leopold, là một nghệ sỹ vĩ cầm có tiếng làm việc trong Nhà thờ của Tổng giám mục ở Salzburg, ông có đủ khả năng để đảm bảo cuộc sống tương lai cho Maria Anna và Wolfgang, hai đứa trẻ duy nhất còn sống sót trong số sáu đứa trẻ mà vợ ông, bà Anna Maria đã sinh cho ông. Điều quan trọng hơn cả là, ông đã có thể đem đến cho những người trong gia đình ông một mái ấm hạnh phúc đầy tình yêu thương và sự chiều chuộng mà Wolfgang tỏ ra cần có ngay lúc đó. Nhìn bề ngoài, Wolgang có vẻ là một cậu bé nhút nhát, nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa gì hết, Wolfgang đã bộc lộ một năng khiếu âm nhạc bẩm sinh từ khi còn rất nhỏ tuổi. Ngay khi nhận ra được tài năng của con trai, ông Leopold đã rất nhanh chóng bồi dưỡng, đào tạo cậu một cách chặt chẽ và bài bản. Ông đã dạy con trai chơi violin và piano, và đã giữ một vai trò quan trọng trong những sáng tác đầu tiên của cậu, đưa cậu đến với những phòng khách sang trọng mà ở đó cậu được chào đón bởi các quý bà ngưỡng mộ tài năng phi thường của cậu. Một điều may mắn là, việc xuất hiện trước công chúng sớm như vậy đã không làm ảnh hưởng đến phẩm chất cá nhân đẹp đẽ trong con người cậu bé nhỏ tuổi; cậu vẫn luôn luôn giữ được sự duyên dáng và trong sáng rất tự nhiên của mình.

    Ông Leopold đã bắt đầu những hành trình lưu diễn với hai đứa trẻ của mình từ rất sớm. Đầu năm 1762, khi Wolfgang chỉ mới vừa tròn 6 tuổi, gia đình Mozart đã thực hiện một cuộc hành trình vòng quanh châu Âu. Chị gái của Wolfgang, Maria Anna, người mà cậu vẫn gọi một cách thân thương là Nannerl, vốn là một nghệ sỹ piano rất giỏi. Họ đã cùng biểu diễn với nhau một vài lần ở Munich trong suốt thời gian lễ hội hóa trang trước trước lễ bầu cử hoàng tử Maximillian, đó là những buổi biểu diễn được đón nhận rất nồng nhiệt. Gia đình Mozart chuyển đến Vienna vào tháng 9 năm 1762. Chúng ta có thể biết được điều đó từ một số bức thư của Leopold, nữ hoàng Maria Theresia đã mời gia đình âm nhạc đễn Schonbrunn thậm chí trước cả khi họ xin được tiếp kiến bà.

    Vào tháng 6 năm 1763, gia đình Mozart khởi hành từ Salzburg, bắt đầu một hành trình rất dài, phải mất đến 3 năm. Khi trở về Munich, nơi mà họ đã từng được chào đón tại cung điện, họ chuyển đến Augsburg, nơi này đối với họ cũng chẳng hứng thú gì lắm. Tuy nhiên, ở Frankfurt, năm buổi biểu diễn trước công chúng của hai nhạc công trẻ tuổi đã thu hút được một lượng khán giả khổng lồ. Sau thời gian ở Đức, gia đình chuyển đến Brussels và rồi, vào tháng tư năm 1764, họ đến London. Buổi biểu diễn tiếp kiến George III của Wolfgang cũng thành công và ấn tượng chẳng kém gì khi cậu ở Paris một vài tháng trước đó. Ở London, cậu bé Mozart nhỏ tuổi đã có dịp được gặp gỡ với Johann Christian Bach, con trai của Johann Sebastian Bach, và được nghe âm nhạc của ông. Họ trở thành những người bạn thân và âm nhạc của Johann Christian đã có một ảnh hưởng quan trọng đến các sáng tác của Wolfgang. Cậu đang viết các giao hưởng và các sonata cho violin và piano, ngay sau đó là những vở opera đầu tiên, La finta semplice (1768), một vở opera buffa, và cũng trong năm đó là vở Singspiel Bastien und Bastienne.

    Sau một kỳ nghỉ ngắn, họ lại bắt đầu những hành trình mới, lần này là đến Italy, "trái tim con chan chứa niềm vui – Mozart viết vào ngày 13/12/1769 – cuộc hành trình này thật sự vui vẻ". Đi qua Brenner Pass vào đất Ý và sau một thời gian ngắn ở Rovereto cùng một buổi hòa nhạc thành công tại Accademia Filharmonica ở Verona, Wolfgang cùng với bố đến Milan, ở đó, giữa những nhân vật tiếng tăm khác, họ đã gặp một trong những nhạc công nổi tiếng nhất thời đó, Giovanni Battista Sammartini. Tứ tấu đàn dây đầu tiên của Mozart, đề ngày 15/3/1770 tại Lodi, đã được viết trong giai đoạn này.

    Tiếp theo, họ đến các thành phố khác của Italy: Bologna, Florence, Rome và Naples, Ở Bologna, cậu đã nhận được sự chỉ dạy rất bổ ích từ Padre Martini, và khi đến Rome, cậu đã được Pope Clement XIV trao giải thưởng The Order of the Golden Spur.

    Quay lại phía bắc, Mozart đã cho trình diễn một vở opera được sáng tác vội, Mitridate, rè di Ponto, tại Teatro Ducale ở Milan vào 26/12/1770. Tuy không phải là một đỉnh cao, nhưng vở opera lại là một tác phẩm mang đầy đủ truyền thống Italy, và cũng nên nhớ rằng lúc đó Mozart mới chỉ 14 tuổi.

    Gia đình Mozart trở về Salzburg, nhưng không lâu sau, đến giữa năm 1771, họ quay trở lại Italy một lần nữa. Vở opera của Wolfgang, Ascanio in Alba, được trình diễn vào ngày 17/10 tại Teatro Ducale ở Milan, tiếp sau đó là Lucio Silla vào ngày 26/12/1772 vẫn tại Teatro Ducale. Thành công của vở opera này đã đặt dấu mốc cho sự thắng lợi của cậu trong lần thứ ba lưu diễn tại Italy.

    Người bảo trợ của Leopold và Wolfgang, tổng giám mục Sigismund, chết vào tháng 12 năm 1771 ngay sau khi họ trở về Áo và người kế nhiệm ông đã đem đến những thay đổi cho sự nghiệp của họ. Tổng giám mục mới Hieronymus, bá tước Colloredo, ít dung thứ cho sự vắng mặt của các nhân viên của mình bằng người tiền nhiệm, và cũng không chấp nhận lắm việc gia đình Mozart đi lưu diễn trong thời gian dài, một công việc cần thiết cho sự nghiệp âm nhạc của họ. Tuy nhiên, Wolfgang đã sáng tác một vở opera ngụ ngôn, Il sognor di Scipione (Giấc mơ của Scipio) tỏ lòng tôn kính với lễ phong tổng giám mục mới, và ông tổng giám mục đã thưởng cho cậu bằng việc nhận cậu làm Konzertmeister, tức là nghệ sỹ violin chính ở Salzburg, một chức vụ mà cậu gần như đã nắm giữ trong suốt 5 năm tiếp theo. Tuy nhiên, cậu vẫn được cho phép thực hiện một số hành trình lưu diễn ngắn, vào năm 1773 cậu đã tới Vienna cùng với bố. Sau khi từ chức trợ lý tổng giám mục vào tháng 9 năm 1777, Wolfgang đến Augsburg và Mannheim, và năm 1778 đến Paris, ở đó, lần đầu tiên trong đời anh có được cảm giác là một nghệ sỹ tự do.

    Tuy nhiên, sự thành công của anh vẫn chưa được toàn diện và to lớn lắm. Những năm này là những năm khó khăn đối với nhà soạn nhạc kiêm nghệ sỹ trình diễn trẻ tuổi. Vào năm 1775 anh đã có được thành công khi vở La finta giardiniera được trình diễn ở Munich, và ngay sau đó là vở Il re pastore, với phần lời của Pietro Metastasio, diễn ở tòa nhà tổng giám mục Salzburg. Ở Paris năm 1778, nhà soạn nhạc 22 tuổi được ủy nhiệm viết phần âm nhạc cho vở ballet Les petits riens, nhưng sự thành công tiếp theo đã không đến với anh, thay vào đó là một tin buồn, người mẹ thân yêu của anh qua đời. Anh trở về Salzburg vào giữa tháng giêng năm 1779, một chàng trai chán nản và bất mãn, mặc dù đã trưởng thành hơn, đã nhận thức được giá trị thực sự cũng như sự phong phú hơn về khả năng cảm xúc và trí tuệ của mình.

    Một tia hy vọng lại lóe lên vào tháng 10 năm 1780 khi Mozart, bây giờ lại là trợ lý của bá tước Colloredo, được bổ nhiệm viết một vở opera vũ hội hóa trang cho Munich, và kết quả là Idomeneo được trình diễn vào ngày 29 tháng 1 năm 1781 tại nhà hát cung điện Munich. Tác phẩm này được mô tả là "mới và đặc biệt", nó là một thành công lớn. Sự ngưỡng mộ của công chúng và sự thắng lợi của tác phẩm này đã níu chân Mozart, anh đã không trở về Salzburg ngay lập tức, điều này đã làm ông tổng giám mục nổi giận. Tình trạng bất ổn này cuối cùng được giải quyết vào 16/3/1781, khi Mozart mãi mãi từ bỏ công việc trợ lý tổng giám mục. Kể từ thời điểm đó, nhà soạn nhạc không chỉ được giải phóng khỏi sự gò bó luôn làm anh cảm thấy ngột ngạt mà còn thoát ra khỏi sự bảo vệ đùm bọc quá mức của người cha. Anh rời Salzburg và ngay lập tức lao vào cuộc sống náo nhiệt ở thành Vienna, ở đó anh đã nghĩ rằng có thể dễ dàng tìm được một công việc theo kiểu "nghệ sỹ tự do". Với hy vọng là mình sẽ có nhiều học sinh, anh đã sáng tác một số lớn các tác phẩm dùng để dạy học, tin chắc rằng anh sẽ được bổ nhiệm viết ít nhất một vở opera mỗi năm, cũng như được mời biểu diễn ở nhiều buổi hòa nhạc. Anh cũng chắc chắn rằng anh sẽ không gặp trở ngại khi xuất bản các sáng tác của mình. Lúc đầu thì dường như mọi chuyện có vẻ tốt đẹp, nhưng năm 1786 đã là năm bắt đầu cho sự suy sụp của Mozart.

    Mozart đã viết không ít hơn 17 bản concerto trong giai đoạn 1782 - 1786, những khúc hòa tấu rất nổi bật như Concert Rondo giọng Rê trưởng (K.382) và La trưởng (K.386), cùng với tác phẩm khác quan trọng hơn như các giao hưởng. Vở opera tiếp theo của anh, Die Entfuhrung aus dem Serail (Vụ trốn thoát ở hậu cung) đã là một thành công đối với dân thành Vienna khi lần đầu tiên được trình diễn ngày 16/7/1782 tại Burgtheatre, nhưng anh đã không bao giờ hoàn thành tác phẩm sân khấu kế tiếp của mình, vở opera buffa, Lo sposo deluso, bắt đầu một năm sau đó.

    Thành công của Seraglio đã làm Mozart rất tự tin. Anh nhanh chóng làm lễ với cưới Constanze Weber vào ngày 4/8/1782, không để ý đến sự phản đối kiên quyết của người cha. Tuy nhiên, Wolfgang đã có rất nhiều việc để làm, và khi ông Leopold đến thăm đôi vợ chồng trẻ ở Vienna vào mùa đông năm 1785, ông đã có thể cảm thấy yên tâm về những gì mà cậu con trai của mình dường như đang làm. Các tác phẩm của Wolgang đang được xuất bản và Wolfgang có nhiều học sinh.

    Tuy nhiên, cuộc sống ổn thỏa này đã không kéo dài được bao lâu. 1786 chính là năm ra mắt vở opera Le nozze di Figaro (đám cưới Figaro), với phần lời của Lorenzo da Ponte, vở opera được trình diễn lần đầu tiên tại Hoftheater ở Vienna. Tác phẩm khá là thành công, nhưng tầng lớp quý tộc ở Vienna lại không hiểu được chủ đề của nó. Các nghệ sỹ thì vẫn bị xem như những người làm công, những người không bao giờ được khuyến khích vượt qua những giới hạn nhất định trong công việc của họ. Với việc đưa hình ảnh của một con người bình dân, Figaro, vào trong nghệ âm nhạc nghệ thuật hàn lâm, Mozart đã tạo ra một hiệu ứng mang tính thách thức đối với cái xã hội thời đó. Kể từ đó, theo một nghĩa nào đó, chính vở opera này đã đánh dấu điểm khởi đầu cho quá trình suy sụp của sự nghiệp người nhạc sỹ trong mắt công chúng thành Vienna thời bấy giờ.

    Tuy nhiên, vở Le nozze đã nhận được một sự chào đón khác hẳn khi nó được trình diễn tại nhà hát Quốc gia ở Prague, ở đó giới quý tộc Đức-Tiệp rất có hứng thú với chủ nghĩa dân tộc. Sự thắng lợi của Le nozze lại được tiếp nối bởi một vở opera nữa, cũng thành công không kém, Don Giovanni, được trình diễn lần đầu tiên vào 29/10/1787. Những năm tháng mà Mozart ở Prague có lẽ là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời ông, sự ngưỡng mộ và quý trọng của công chúng ở đây đối với ông đã bù đắp lại những thất vọng cay đắng mà ông từng phải hứng chịu trước đây trong sự nghiệp của mình. Tuy nhiên, mọi chuyện đã kết thúc ở đó, ông buộc phải quay trở về Vienna để tìm việc làm.

    Năm 1788, Mozart viết xong bản Concerto cho Piano giọng Rê trưởng (K. 537). Mãi cho đến ngày 15/10/1790 nó mới được trình diễn ở Frankfurt để chào mừng lễ trao vương miện cho Leopold II, và người ta gọi nó là Concerto Đăng quang.

    Bản Concerto cho Piano cuối cùng của ông, Si giáng trưởng, K.595 được viết vào đầu năm 1791, nổi tiếng với cảm xúc hài hòa của chủ nghĩa cổ điển, cũng giống như tất cả các tác phẩm mà Mozart đã sáng tác trong năm cuối cùng này của cuộc đời ông.

    Các giao hưởng được viết trong những năm cuối cùng này cũng cực kỳ xuất sắc. Trong khi chuẩn bị đến Prague để trình diễn vở Le nozze vào tháng 12/1786, Mozart đã viết bản Giao hưởng bất hủ số 38 giọng Rê thứ, K.504 thường được gọi là Prague hay Sinfonia senza minuetto (Giao hưởng không có điệu minuet). Tiếp theo là Giao hưởng số 39 giọng Mi giáng trưởng, K. 543, Giao hưởng số 40 giọng Son thứ, K.550, và cuối cùng là Giao hưởng số 41 giọng Đô trưởng, K.551, Jupiter.

    Năm 1789 có lẽ là năm khó khăn nhất của Mozart. Tình trạng tài chính của ông tồi tệ đến mức, ông buộc phải đi kiếm từng đồng để sống. Mọi chuyện dường như chỉ khá hơn một chút vào cuối năm khi ông dời đến Berlin, hy vọng tìm được công việc ở chỗ hoàng đế Wilhelm Friedrich II, nhưng công việc thành ra lại chỉ là nhận viết 6 Tứ tấu và 6 Sonata đơn giản cho Piano, những việc mà thậm chí ông đã không bao giờ hoàn thành. Ông cũng đã đến Dresden, Leipzig và Prague, nhưng chẳng nhận được hợp đồng nào có thể giúp ông thoát khỏi tình trạng tài chính tồi tệ cả.

    Sau khi trở về Vienna năm 1789, ông đã tặng hoàng đế Joseph II một vở opera buffa mới, Così fan tutte, vẫn với phần lời của Lorenzo da Ponte. Nó được trình diễn ngày 26/1/1789 tại Burgtheater, nhưng cái chết ngay sau đó của hoàng đế, này 20/2 đã khiến các nhà hát ở Vienna phải tạm ngừng hoạt động, chính điều đó (cho dù là vô tình) đã giết chết ngay từ đầu một tác phẩm xuất sắc của Mozart. Vở opera đã được ghi nhận, nhưng trong nhiều năm, nó đã không được trình diễn lại lần nào ở Vienna cả.

    Một cơ hội quan trọng khác dường như đến hơi muộn vào năm 1790, khi một ông bầu tên là Salomon, đi ngang qua thành Vienna, đề nghị với Mozart một hợp đồng ở London 6 tháng và 6 buổi hòa nhạc ngoài trời có bán vé ở Ansterdam. Tuy nhiên, những lời mời này lại trùng đúng vào thời điểm sức khỏe của Mozart bắt đầu suy sụp.

    Prague cũng mời Mozart sáng tác một vở opera trang trọng để kỷ niệm lễ đăng quang của Leopold II, trở thành vua xứ Bohemia. Kết quả là, vở La clemenza di Tito, được sáng tác chỉ trong bốn tuần, được trình diễn ở Prague ngày 6/9/1791 và đã không đạt được sự chấp nhận của hoàng cung, mặc dù các buổi trình diễn sau này thường là rất thành công.

    Mozart đã quay trở lại Vienna để tham gia chỉ đạo diễn tập cho một vở opera khác mà ông đã làm việc với nó trong suốt những tháng trước đó, Die Zauberflöte (Cây sáo thần), một tác phẩm lấy cảm hứng từ bài thơ của Wieland với phần lời của ông bầu E.J. Schikaneder. Buổi biểu diễn đầu tiên ngày 30/9/1791 tại Theater auf der Wieden ở Vienna không thể gọi là một thắng lợi, tuy nhiên, vở Die Zauberflöte đã nhanh chóng trở thành vở opera thành công nhất của ông.

    Mozart lúc này đã đi gần đến những năm tháng cuối đời. Khuôn mặt xanh xao và thân hình phờ phạc đã báo hiệu một cái chết không thể tránh khỏi đang đến rất gần. Chính bản thân ông cũng nhận ra điều này. Ông đã viết những dòng này vào ngày 7/9/1791: "Tôi vẫn tiếp tục sáng tác, bởi vì như vậy sẽ làm tôi ít mệt hơn là không làm gì cả… tôi cảm thấy giờ khắc của tôi sắp tới; tôi sắp chết… nhưng cuộc sống đã thật là tuyệt diệu". Mozart mất ở Vienna vào ngày 5 tháng 12 năm đó, có lẽ là vì bị nhiễm trùng nội tạng. Họ đã chôn cất ông trong một nhà mồ tập thể, và hài cốt của ông cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy.

    "Tôi vẫn tiếp tục sáng tác", Mozart đã nói điều đó trong cái năm cuối cùng của cuộc đời, và đó cũng chính xác là những gì ông đã làm. Cho dù ông đã kiệt sức, nhưng ông không bao giờ mất đi niềm đam mê viết nhạc. Trong một bức thư mà cô em vợ của ông, Sophie Weber, viết năm 1825, có đoạn: “Sussmayr ở bên cạnh Mozart. Khúc Requiem được trải ra trên giường và Mozart thì đang giải thích cho anh ta nghe xem anh ta phải hoàn tất nó như thế nào sau khi ông qua đời". Requiem là tác phẩm vĩ đại cuối cùng của Mozart và là một trong những tác phẩm âm nhạc tế lễ xuất sắc nhất của lịch sử âm nhạc nhân loại. Có một chút bí ẩn xung quanh sự ra đời của tác phẩm này, khi Mozart nhận viết nó cho một người hảo tâm giấu tên. Mozart đã chấp nhận đề nghị này với 50 đồng ducat. Tuy nhiên, việc sáng tác nó đã làm ông hao tổn rất nhiều sức lực, và ông đã qua đời mà không biết được người khách hảo tâm của mình là ai.

    Ngày nay, chúng ta đã biết được nhân vật bí ẩn này là ai, thực tế thì đó chính là bá tước Franz von Walsegg, ông này đã mua các tác phẩm không được xuất bản để giả mạo đó là những sáng tác của chính ông ta. Về sau, ngày 14/12/1793, người đàn ông kỳ cục này đã chỉ huy buổi trình diễn đầu tiên tác phẩm Requiem của Mozart dưới mái vòm nhà thờ Wiener Neustadt Cistercian ở Vienna, trên trang bìa của tổng phổ có ghi "do bá tước Walsegg sáng tác".

    Mozart đã không bao giờ hoàn thành Requiem của ông. Nó được viết nốt bởi người học trò Franz Xavier Sussmayr, một người có đức tính khiêm tốn, ông đã thêm vào các phần còn thiếu và soát lại nhiều bản thảo đã có. Sự hoàn chỉnh của ông có vẻ như là trung thành với toàn bộ những dự định của Mozart, có lẽ là bởi vì Sussmayr đã rất kề cận bên người thầy của mình trong những ngày cuối cùng.

    Ngoài Requiem, Mozart còn viết một số lớn các tác phẩm tế lễ, hầu hết đều trong giai đoạn ông làm việc ở Salzburg. Chúng bao gồm khoảng 15 khúc Mass, Litany, Vesper và Offertory. Là một sự thu gọn các thành quả của ông về âm nhạc tôn giáo từ 1785 cho đến suốt một vài năm tiếp theo, Mozart đã ngày càng tập trung đến âm nhạc Tam điểm, hầu như ngay khi sự bốc đồng tôn giáo mà ông chưa bao giờ có thể diễn tả một cách đầy đủ trong âm nhạc tế lễ được lái sang khuynh hướng mới này. Mozart đã trở thành một hội viên của hội Tam điểm vào năm 1784. Ban đầu, Mozart cũng ít quan tâm đến hoạt động của hội này, nhưng khi công chúng trở nên thờ ơ với tác phẩm của ông, ông mới thấy rằng sự hỗ trợ tài chính mà các hội viên hội Tam điểm có thể mang lại cho ông là rất có ích. Các sáng tác của ông trong giai đoạn này bao gồm cantata Dir, Seele des Weltalls (K.429), trình diễn khi Mozart được bầu vào hội Tam điểm, cantata Die Maurerfreude (K.471) trình diễn ngày 24/4/1785, cantata Maurerische Trauermusik (K.477), trình diễn ngày 17/11/1785, và bản cantata cuối cùng, Masonic Cantata (K.623) được Mozart hoàn thành vào tháng 11/1791.

    Bài thánh ca nhỏ giọng Rê trưởng Ave verum corpus, K.618 của ông là một tác phẩm rất đáng được đặc biệt nhắc đến. Đây là một tuyệt tác được viết từ mùa hè năm 1791 ngay trước khi ông bắt đầu viết Requiem. Nó được sáng tác cực kỳ nhanh để dùng làm âm nhạc cho lễ hội Corpus Christi tại nhà thờ St Stephen ở Baden. Mặc dù chỉ có 46 ô nhịp, bài thánh ca nhỏ nhắn này vẫn kết hợp được tính nghiêm trang với tính đơn giản đến lạ thường, và đây có lẽ là một sự thể hiện rất tiêu biểu cho "tính đơn giản" kỳ diệu trong tác phẩm của Mozart, thiên tài âm nhạc có một không hai.

    Di sản âm nhạc thính phòng của Mozart thực sự là khổng lồ, hầu hết là các tác phẩm được nhận viết cho những vị trưởng giả hoặc những người bảo trợ có địa vị cao. Nhạc thính phòng của Mozart bao gồm các divertimento, serenade, norturne và các vũ điệu dành cho hội hóa trang vốn rất thịnh hành ở thời kỳ đó. Một ví dụ nổi tiếng là bản Serenade giọng Son trưởng, Eine kleine Nachtmusik (Một khúc nhạc đêm nhỏ) viết cho dàn dây, K.525, hoàn thành vào 19/8/1787, một tác phẩm thông minh và tươi tắn mang một sự duyên dáng và hấp dẫn được điều chỉnh đôi chút với chủ đích là để tiếp cận sát với hình thức bề ngoài của nó. Bản divertimento nổi tiếng Ein Musikalischer Spass (Một trò vui âm nhạc), K.522 được viết trước Serenade chỉ một thời gian ngắn, có lẽ là tiểu phẩm nổi tiếng nhất của ông.

    Trong suốt thời kỳ này ông cũng hoàn thành một số lớn Lieder cho giọng hát và piano, bao gồm Abendempfindung, K.523, An Cloe, K.524 và Das Veilchen), K.476 dựa trên các câu thơ của Geothe. Lied cuối cùng này là rất đáng chú ý bởi vì nó đã vượt ra khỏi các quy tắc được chấp nhận trong nền thanh nhạc thế kỷ 18. Mozart đã rút ra được những thành ngữ mới từ nhạc kịch của thời ông và thêm vào một chức năng diễn tả mới cho Lied, việc làm này đã được tiếp tục phát triển bởi Franz Schubert trong thế kỷ tiếp theo.

    Nhiều Lieder khác đã được sáng tác sau khi Mozart được bổ nhiệm làm "Nhà soạn nhạc hoàng cung" ở Vienna (một cái mác nghe rất kêu mà thực ra chỉ có nghĩa rằng ông phải viết một số lượng nhất định các điệu nhảy mỗi năm cho các buổi khiêu vũ và hội họp ở cung điện). Ngoài sáu bản Tứ tấu dây nổi tiếng đề tặng Haydn và các tác phẩm khác được viết cho Frederick Wilhehm của nước Phổ, các tác phẩm thính phòng xuất sắc nhất bao gồm ngũ tấu dây Son thứ năm 1787, Ngũ tấu Clarinet năm 1789 mà vẻ đẹp của giai điệu được gắn liền với bản Concerto cho Clarinet giọng La trưởng, K.622, viết năm 1791. Cũng không nên bỏ sót các Sonata cho violin và piano của ông đó là những hình mẫu tuyệt vời của thể loại sonata đối với một trong những yêu cầu khắt khe nhất của sự phối hợp nhạc cụ.

    Số lượng tác phẩm khổng lồ của Mozart cũng bao gồm các tác phẩm viết trong giai đoạn vô cùng nghèo túng của ông, là những tác phẩm thành công trong việc điều hòa giữa tính phù phiếm cốt yếu của mục đích với cái độc đáo phi thường của tư tưởng. Vì vậy, Mozart vĩ đại có thể viết nhạc cho những cây đàn ống cơ học dựng trong lòng những cái đồng hồ, như bản Fantasia nổi tiếng giọng Pha thứ, K. 608 sáng tác ngày 3/3/1790 hay bản Andante, K. 616 viết ngày 4/5 cùng năm. Cũng có cả âm nhạc cho kèn acmônica thủy tinh, một nhạc cụ làm bằng thủy tinh điều chỉnh ở nhiều âm độ, sẽ “hát lên" khi người chơi chà xát những đầu ngón tay ẩm ướt quanh miệng kèn. Bản Adagio và Rondo, K. 617 là một kiệt tác cho nhạc cụ này hoặc là một "phương tiện". Chưa hết, khi đã cất được gánh nặng nghèo khó, mặc dù ngắn ngủi, sự vĩ đại của ông tự nó lại được xác nhận đầy đủ và ở giai đoạn cuối của cuộc đời, ông đã đạt được sự thể hiện tuyệt vời nhất trong các tác phẩm thanh nhạc vĩ đại như Le nozze di Figaro (1786), Don Giovanni (1790) và Die Zauberflöte (1791, năm ông mất). Ngoại trừ Requiem, âm nhạc của Mozsart đặc biệt vui vẻ và dường như không hề báo hiệu cái chết của ông, không kể ý nghĩa gián tiếp rằng cái chết mang đến sự giải thoát khỏi những lo âu của đời người.

    Xuất bản phẩm trọn vẹn các tác phẩm của Mozart lần đầu tiên, dựa theo danh mục thời gian sưu tập năm 1862 của nhà âm nhạc học Ludwig Kochel (tên ông này được ghi đại diện là “K” ngay trước số tác phẩm), được in tại Leipzig giữa năm 1877 và 1905.



    Mozart - Thần đồng âm nhạc



    Trong 2 thế kỷ, câu chuyện về nhạc sĩ Mozart đã được kể nhiều lần. Sự kỳ diệu và bí ẩn của một thần đồng âm nhạc và cuộc đời với danh vọng cao sang và kết thúc bi thảm của Mozart đã là một câu chuyện đặc biệt trong lịch sử âm nhạc.

    Mozart là một thần đồng mà tài năng cho tới ngày nay chưa có ai vượt qua được. Nhạc sĩ này đã biết chơi đàn vĩ cầm và dương cầm khi mới lên 3, bắt đầu viết ra các bản "nhạc khúc nhịp ba" (minuets) vào tuổi lên 6, soạn bản "giao hưởng" (symphony) đầu tiên khi chưa đầy 9 tuổi, sáng tác "diễn ca khúc" (oratorio) khi 11 tuổi và "nhạc kịch" (opera) lúc mới 12.

    Trong số 3 nhạc sĩ bậc thầy của nền Âm Nhạc Tây Phương là Bach, Beethoven và Mozart, nhạc của Bach mang tính nguyên thủy (original) với nền nhạc đa âm (polyphonic basis). Beethoven có tính nhạc vừa bí ẩn, vừa mang cá tính và cách mạng, đã mở đường cho các nhạc sĩ của thế kỷ 19 và 20, thì riêng với Mozart, ông đã viết nhạc cho thời đại của mình mà không quan tâm tới âm nhạc của tương lai.

    Ngôn ngữ âm nhạc của Mozart cũng giống thứ âm nhạc của các nhạc sĩ đi trước như J. C. Bach hay J. Haydn. Mozart đã dùng các thể nhạc truyền thống, bao gồm các loại giao hưởng, nhạc kịch (opera), nhạc hòa tấu 4 đàn (quartet)… Ông đã theo đúng các tiêu chuẩn mẫu mực, làm đúng theo các quy thức cổ điển, làm tốt đẹp hơn mọi phương cách thể hiện âm nhạc, cho nên, nhạc của Mozart là hiện thân của sự toàn hảo mà nền âm nhạc thời đó có thể đạt được.

    Mozart là nhạc sĩ có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc lại được giảng dạy ngay từ đầu về nhạc lý và nhạc cụ bởi người cha có tài, một nhạc sĩ vĩ cầm đã soạn ra nhiều nhạc phẩm giáo khoa. Ông Leopold Mozart đã huấn luyện người con trai kỳ tài của mình rồi đưa cậu nhạc sĩ nhỏ tuổi này vào các hoàn cảnh âm nhạc tốt đẹp nhất của thời đại. Wolfgang Mozart còn được học âm nhạc với tất cả các nhạc sĩ tài danh đương thời, đã theo các hành trình tới kinh đô của các nước Pháp, Anh, Hòa Lan, Ý…, đã sống tại thủ đô âm nhạc của thời đó là thành phố Vienna cũng như quen thuộc với các thành phố lớn khác của nước Đức.

    Mozart đã làm quen với mọi nhạc thức, cộng thêm vào là thiên tư và bản chất, tất cả đã khiến ông bắt chước được các kiểu mẫu cũ, tổng hợp và cải tiến các nhạc phong của thời đại rồi viết ra một thứ âm nhạc mới khác hẳn các nhạc sĩ lừng danh thời đó.

    Nhạc phong (mucical style) của Mozart đã mang nhạc tính tuyệt đối (absolute musicality). Nếu âm nhạc cổ điển của Beethoven hay âm nhạc lãng mạn của Berlioz và Chopin hàm chứa các cảm xúc nội tâm thì âm nhạc của Mozart lại không cho thấy những dấu vết của những đau khổ của cuộc đời mình. Âm Nhạc của Mozart đã được thăng hoa và chuyển thành các vẻ đẹp âm thanh trong cách thẩm mỹ cổ điển.

    Wolfgang A. Mozart đã trải qua một cuộc sống ngắn ngủi nhưng lại sáng tác ra các tác phẩm rất phong phú. Cuộc đời của Mozart có thể được chia làm 3 giai đoạn: (1) thời thơ ấu và thiếu niên (1756-1774), (2) thời kỳ viết nhạc phẩm (1774-1781), và (3) các năm cuối sống tại thành phố Vienna (1781-1791).

    1/ Thời thơ ấu và thiếu niên của Mozart (1756-74).


    Wolfgang Amadeus Mozart sinh tại tỉnh Salzburg nước Áo vào ngày 27-1-1756. Cha là ông Leopold Mozart và mẹ là bà Maria Anna. Ông Leopold là một nhà soạn nhạc hạng thứ của vương triều địa phương, một nhạc sĩ vĩ cầm và là tác giả một số sách giáo khoa về âm nhạc. Khi lên 3 tuồi và nhìn thấy chị Nannerl 7 tuổi chơi đàn dương cầm, thời đó gọi là đàn hapsichord, Mozart cũng đòi học nhạc. Cả hai chị em được cha dạy âm nhạc và Mozart đã không thua chị, mà còn tập sáng tác các bản nhạc khúc nhịp ba (minuets).

    Ngoài việc học đàn dương cầm, Mozart còn đòi học vĩ cầm. Một hôm ông Leopold và hai người bạn cùng họp nhau để hòa 6 bản trio (bản hòa tấu 3 đàn) do Wentzl, một trong hai nhạc sĩ kia sáng tác, Mozart lúc đó nằng nặc đòi chơi vĩ cầm bè hai. Rồi do khả năng thực sự, cậu bé Mozart dần dần được phép đàn vĩ cầm bè một với các nhạc sĩ lớn tuổi khác.

    Do nhận thấy năng khiếu đặc biệt của hai người con nhỏ tuổi, ông Leopold bèn quyết định đưa các con đi lưu diễn tại nhiều nơi. Gia đình Mozart rời Salzburg vào tháng 1 năm 1762, hướng về thành phố Vienna. Tại thị trấn Linz, buổi hòa nhạc đã thành công vì nhiều người hâm mộ tài nghệ của hai nhạc sĩ tí hon. Sau đó cha con Mozart lại tới Tu viện Ips. Khi xem chiếc đàn phong cầm nổi danh của tu viện, chú bé Mozart đã leo lên đàn thử khiến cho các tu sĩ phải hết sức sửng sốt và thán phục về tài nghệ. Mọi người không hiểu vì sao một chú bé nhỏ tuổi đến như thế có thể tạo nên các âm thanh tuyệt vời?

    Tiếng đồn về thiên tài của hai nhạc sĩ tí hon đã đến thành phố Vienna trước đoàn nghệ sĩ. Trong khi đón tiếp gia đình Mozart tại lâu đài Schoenbrunn, Hoàng Đế nước Áo Franz Josef đã gọi Mozart là "nhà ảo thuật bé nhỏ" và đã thử tài cậu nhạc sĩ tí hon này bằng cách bảo đánh ngay các bản đàn khó hay đánh đàn bằng một ngón tay, cũng như dạo đàn mà dùng vải phủ kín các phím đàn, không cho nhìn rõ. Chú bé Wolfgang đều vượt qua được các thử thách và mọi người đã vỗ tay tán thưởng. Để đáp lại sự tử tế của Vua và Hoàng Hậu, Wolfgand đã leo lên lòng Hoàng Hậu Maria Théresa và ôm hôn, như cách cảm ơn với mẹ của mình. Wolfgang còn kết thân với công chúa Marie Antoinette ở cùng lứa tuổi. Rất nhiều quà tặng dồn về hai nhạc sĩ nhỏ tuổi, đặc biệt là các nhẫn kim cương của Hoàng Đế Franz Josef và các bộ y phục lộng lẫy. Họa sĩ cũng vẽ chân dung của Mozart và bức họa còn được lưu giữ cho tới ngày nay.

    Những nơi dấu chân Mozart đã đến


    Sau đó gia đình Mozart đi trình diễn tại Frankfurt và các thành phố khác rồi tới Paris. Trước triều đình Pháp tại cung điện Versailles, chị em Mozart cũng đã làm cho nhiều người phải thán phục. Từ Paris, đoàn nghệ sĩ tới London vào tháng 4-1764. Vua George III và Hoàng Hậu nước Anh, do rất yêu thích âm nhạc, đã yêu cầu Wolfgang đàn ngay các nhạc phẩm của Bach và Handel. Cậu bé Wolfgang còn đệm đàn cho Hoàng Hậu hát cũng như ứng tác nhiều giai điệu mỹ lệ. Ngày 4 tháng 6 là sinh nhật của Vua nước Anh. Cả thành phố London tràn ngập dân chúng. Wolfgang Mozart biểu diễn âm nhạc vào ngày mồng 5. Phòng hòa nhạc chật đầy thính giả sang trọng. Ông Leopold nhờ đó đã thu được rất nhiều tiền bạc. Vào dịp này, Wolfgang đã sáng tạo ra loại "nhạc khúc hai bè" (duet), một nhạc thức mới. Tháng 7-1766, gia đình Mozart rời London đi Hòa Lan rồi trở lại Paris lần thứ hai, cuối cùng quay về Salzburg vào tháng 11-1766.

    Nước Ý thời bấy giờ là quê hương của âm nhạc vì vậy ông Leopold đã quyết định phải đưa Wolfgang tới nơi đó. Tháng 12-1769, nhạc sĩ thần đồng lại được cha đưa về miền nam của châu Âu, nơi có dân chúng ca hát trên các cánh đồng nho, có các đoàn rước lễ vừa đi dọc theo đường phố hẹp,vừa hát các bản thánh ca, và đặc biệt nổi tiếng là âm nhạc của các ngôi giáo đường lớn. Wolfgang đã bị thử tài bởi các nhạc sĩ nước Ý, đã dạo cây đàn phong cầm của nhà thờ Saint Thomas tại thành phố Roveredo. Vinh quang cũng tới với Wolfgang tại Verona, nơi bản giao hưởng của nhạc sĩ tí hon được trình diễn và người ta đã vẽ chân dung của Wolfang.

    Nơi trình diễn kế tiếp là thành phố Milan rồi Bologna. Đây là quê hương của nhạc sĩ lừng danh Padre Martini, người đã sáng tác ra các bản nhạc tôn giáo bất hủ. Ít khi ông Martini chịu tham dự vào các buổi hòa nhạc nhưng lần này, nhà soạn nhạc danh tiếng đó đã phải có mặt tại thính đường của bá tước Pallavicini để lắng nghe Wolfgang chơi đàn. Martini sau đó đã giao cho Wolfgang các tẩu khúc (fugue) và đã phải khen ngợi kiến thức về soạn nhạc của Wolfgang. Các vinh quang khác cũng tới với cậu bé nhạc sĩ này tại thành phố Florence, nơi triều đình của vương hầu Leopold.

    Hai cha con Mozart tới Rome đúng vào Tuần Lễ Thánh (the Holy Week) khi cả thành phố lừng danh này đang ở vào dịp lễ hội lớn. Wolfgang đã được viếng thăm Giáo Đường Thánh Peter, Nhà Nguyện Sistine, nơi có bức danh họa "Cuộc Phán Xét Cuối Cùng" (the Last Judgment) của Michael Angelo. Chính tại Nhà Nguyện này, Wolfgang đã được nghe bản Thánh Ca Miserere của Allegri. Đây là bản Thánh Ca không được hát tại bất cứ một nơi nào khác và không ai có quyền mang một phần bản nhạc ra khỏi giáo đường. Sau phần lễ thật trịnh trọng và trang nghiêm có tên là Tenebrae (Bóng Tối), 7 cây nến thật lớn trên bàn thờ được tắt dần từng cây một, cho tới khi chỉ còn một cây nến cháy sáng, rồi cây này được nhẹ nhàng mang lùi về phía sau, toàn thể Nhà Nguyện chìm đắm trong bóng tối dày đặc và tuyệt đối yên lặng. Chính trong giờ phút lắng đọng này, bản nhạc Miserere (Hãy Thương Sót) dần dần bắt đầu. Một giọng đơn hát phần antiphon hay phần nhập đề ngắn, rồi kế tiếp là sự yên lặng, một sự yên tĩnh tận cùng khiến cho mọi người muốn ngừng thở vì e ngại tiếng thở có thể gây ra vang động. Chính trong lúc này các nốt nhạc cầu xin vang dần lên, tới khi cả Thánh Đường chan hòa tiếng thổn thức của thứ âm nhạc thánh thiện.

    Hai cha con Mozart đã rời khỏi Giáo Đường trong yên lặng, trở về nhà trọ. Đêm hôm đó, Wolfgang không ngủ được vì cảm xúc của bản Thánh Ca. Cậu bé nhạc sĩ bèn thắp đèn lên và bắt đầu chép lại bản nhạc. Khi trời sáng, toàn thể bản Miserere của Allegri đã được Wolfgang chép lại qua trí nhớ.

    Hôm sau là Ngày Thứ Sáu trước Lễ Phục Sinh (Good Friday), Wolfgang được nghe lại bản Miserere lần thứ hai và sau đó đã sửa chữa lại bản chép tay của mình cho thật chính xác. Tài năng xuất chúng của cậu bé 14 tuổi này đã khiến cho thành phố Rome phải sửng sốt và quý mến.

    Wolfgang Mozart cũng được chú ý và đạt các danh vọng tại thành phố Naples, nơi đã cung cấp một cỗ xe ngựa quý đưa cha con Mozart qua đường phố chính, giữa các đám người nghênh đón, trên xe ngựa Wolfgang mặc áo sặc sỡ có nút áo bằng bạc, ngồi cạnh cha mặc áo màu nâu có tua viền màu xanh.

    Khi trở lại Rome, Wolfgang Mozart đã được Đức Giáo Hoàng tưởng thưởng huân chương (the Order of the Golden Spur) vì thế có người đã gọi nhạc sĩ trẻ tuổi này là "Hiệp Sĩ Mozart". Rồi khi tới thành phố Bologna, cậu nhạc sĩ trẻ tuổi lại được nhận làm nhân viên Hàn Lâm Viện Âm Nhạc Accademia Filhamonica. Bài khảo sát gia nhập Viện Âm Nhạc gồm việc sáng tác một nhạc khúc hát đối đáp (antiphon) 4 phần và cậu thiếu niên bị khóa trong phòng cho đến khi hoàn tất nhạc phẩm. Wolfgang đã gõ cửa đi ra sau nửa giờ đặt bút sáng tác.

    Hành trình của cha con Mozart hướng về thành phố Milan. Tại nơi này, Wolfgang được đặt viết có thù lao một bản nhạc kịch (opera) trong 3 tháng, có tên là "Mitridate". Buổi trình diễn vở nhạc kịch này được tổ chức vào ngày 26-12-1770 do chính Wolfgang điều khiển dàn nhạc.

    Wolfgang A. Mozart đã đi khắp châu Âu và nước Anh, và trong 35 năm cuộc đời, nhạc sĩ thiên tài này đã trải qua 4 năm trên xe ngựa trong các hành trình xuyên qua các miền biên giới. Trong chuyến du lịch qua nước Pháp, Mozart đã quan tâm tới âm nhạc của Johan Schobert, rồi khi tới London, lại chịu ảnh hưởng phong cách âm nhạc của Johann Christian Bach, con trai nhà nhạc sĩ lừng danh Johann Sebastian Bach. Chuyến đi qua nước Ý từ năm 1769 tới năm 1773 đã cho phép Wolfgang Mozart học hỏi về đối điểm (counterpoint) với Padre Martini tại Bologna và trong thời gian này, bản nhạc kịch kiểu Ý La Finta Semplice (Italian opera buffa) đã được Mozart viết ra. Các nhà soạn nhạc giao hưởng người Ý, chẳng hạn ông Sammartini, cũng gây ảnh hưởng tới các tác phẩm của Mozart, như qua các bản nhạc đánh số K.81, 95, 112, 132, 162 và 182.

    Mozart đã thực hiện hơn 600 sáng tác âm nhạc và nhà nghiên cứu L. Von Koechel năm 1862 đã liệt kê và đánh số theo bản thư mục chủ đề (thematic catalogue) bằng "chỉ số K". Đây là cách nhận biết được nhiều người công nhận.

    Wofgang A. Mozart đã có một trí nhớ kỳ lạ và một khả năng sáng tác âm nhạc ngay trong bộ óc của mình, đã xếp đặt các thành phần của bản nhạc khi đang ngồi trên xe ngựa trong các chuyến đi xa rồi sau đó, Mozart chỉ cần một hay hai ngày để viết tác phẩm trên giấy, thành các bản nhạc hoàn chỉnh. Nhờ các chuyến đi qua nhiều xứ sở, Mozart có thể hấp thụ được nhiều nhạc phong (styles), tổng hợp được nhiều nét nhạc (musical features) của nhiều quốc gia, khác hẳn với Haydn mang màu sắc âm nhạc đặc biệt của nước Áo, hay Handel với nét nhạc thuần Đức.

    Vào thời đại của Mozart, nền âm nhạc của châu Âu chịu ảnh hưởng của hai trường phái Ý và Đức. Nói một cách đơn giản, âm nhạc Ý mang tính nhẹ nhàng, chủ đích nhắm vào giải trí trong khi âm nhạc Đức trịnh trọng hơn và hướng về diễn tả. Phương tiện âm nhạc của trường phái Ý là giọng ca (vocal) với các bản nhạc kịch (opera) và bản thanh nhạc (cantata) trong khi các nhạc sĩ Đức ưa chuộng các nhạc cụ (instrumental) và dùng các nhạc thể như giao hưởng (symphony) hay sônát (sonata). Chất nhạc (musical texture) của âm nhạc Ý là chủ điệu (homophonic) với các giai điệu có tính làm say mê, quyến rũ trong khi chất nhạc Đức lại thiên về khoa học đối điểm (the science of counterpoint). Mozart đã hiểu rõ và xử dụng được cả hai trường phái kể trên nhờ khả năng thưởng thức (taste), nhờ bản năng thiên tư biết dùng những gì thích hợp, tốt đẹp, nhờ trí thức (knowledge) hiểu rõ lý thuyết âm nhạc và kỹ thuật với các giới hạn của các nhạc cụ.

    2/ Thời kỳ viết nhạc phẩm (1774-81).


    Sau các năm chu du qua các quốc gia với các thành công huy hoàng và trở về Salzburg, Wolfgang Mozart bắt đầu gặp phải bóng tối vì sự ghen tị, vì các âm mưu và vì sự thờ ơ của những kẻ quyền thế. Người che chở và giúp đỡ Mozart là vị Tổng Giám Mục Salzburg đã qua đời, người kế vị lại lơ là với nghệ thuật, coi thường các nhạc sĩ nhà nghề. Năng khiếu và tài nghệ của Mozart đã không được coi trọng. Mozart được giao chức vụ trưởng ban nhạc nhưng lương bổng không đủ sống. Vào lúc này, Wolfgang Mozart đã 21 tuổi, đã sáng tác được nhiều nhạc phẩm thuộc nhiều thể loại.

    Do tình trạng lợi tức thấp kém, ông Leopold dự định lại đưa các con thiên tài đi lưu diễn một lần nữa nhưng vị Tổng Giám Mục mới của miền Salzburg đã không cho phép ông Leopold rời khỏi địa phận, vì vậy Wolfgang cùng với mẹ ra đi vào sáng ngày 23-9-1777, hướng về thành phố Munich. Nơi đây, Mozart đã tới lâu đài Nymphenburg nhưng vị vương hầu địa phương đã từ chối, không còn chỗ trống dành cho nhạc sĩ thiên tài. Các vinh dự mà Mozart đã thu nhận được tại nước Ý đã làm buồn lòng các kẻ quyền thế người Đức. Mozart và mẹ lại đi tới thành phố Mannheim và chỉ kiếm được một chân dạy đàn dương cầm với số lương không đủ sống. Ông Leopold và con gái đã phải tiết kiệm, gửi tiền tiếp tế cho hai mẹ con Mozart tại đó.

    Không lâu sau khi tới Mannheim, Wolfgang đã dấu cha, làm quen với hai cô con gái của gia đình Weber. Cô chị Aloysia 15 tuổi và cô em, Constanza 14, là hai thiếu nữ đang độ xuân sắc. Aloysia lúc đó đang tập hát nhạc kịch (opera) và Wolfgang sẵn lòng đệm đàn và hướng dẫn cho nàng ca hát. Mối tình đã chớm nở giữa hai người và Mozart đã đề nghị với gia đình Weber là họ nên cùng với Aloysia sang nước Ý trình diễn, với Mozart sẽ sáng tác các bản nhạc kịch thích hợp với nàng. Đồng thời Mozart cũng biên thư cho cha, căn dặn cha và chị đón đoàn nghệ sĩ tại Salzburg và ông Leopold khi đó sẽ gặp người con dâu tương lai, người mà ông sẽ quý mến. Nhưng ông Leopold đã không chú ý đến dự tính này. Ông dặn con trai phải đi ngay Paris, tạo dựng cho mình một danh tiếng. Wolfgang đành phải rời Mannheim, xa cách người yêu.

    Wolfgang Mozart đã tới Paris. Thành phố này trước kia hân hoan đón chào một thần đồng âm nhạc nhưng ngày nay, lại dửng dưng trước một nhạc sĩ đã trưởng thành. Trong 3 tháng, Mozart đã không thành công trong việc kiếm được một công việc xứng đáng, rồi bà Maria mắc bệnh nặng và qua đời trong cánh tay của người con trai vào ngày 03-7-1778. Vào lúc này, ông Leopold đã gửi một bức thư báo tin cho Wolfgang biết vị Tổng Giám Mục Salzburg sẵn lòng giao cho chàng chức vụ nhạc sĩ đàn phong cầm của vương triều với lương năm là 500 florins và với một số điều kiện về vắng mặt. Nếu Wolfgang chấp nhận, lợi tức của hai cha con sẽ đủ dùng cho một cuộc sống tương đối thoải mái. Wolfgang không thể trái ý cha nên đã trở về Salzburg nhưng xin phép được ghé qua thành phố Mannheim để gặp gia đình Weber. Tới nơi, gia đình này đã dọn đi Munich. Mozart lại tới Munich nhưng khi gặp gia đình Weber, Aloysia chỉ coi Mozart là một người bạn cũ.

    Trở về Salzburg, Mozart bị thất bại cả về tình duyên lẫn tham vọng. Mặc dù được gia đình luôn coi là một nhà soạn nhạc cỡ lớn, một thiên tài trong số các nhạc sĩ, Wolfgang Mozart vẫn không ưa thích miền Salzburg và các bổn phận phải làm đối với cung đình này. Tháng 11 năm 1780, Wolfgang lại đi Munich để hoàn thành một nhạc kịch đã ký hợp đồng, dùng cho ngày đại hội năm sau. Nhạc kịch có tên là "Idomeneo" lần đầu tiên được trình diễn vào ngày 29-1-1781 và được mọi người khen ngợi, kể cả vị vương hầu của vùng Munich. Ông Leopold và chị Nannerl cũng tới Munich để chứng kiến lúc vinh quang của Wolfgang Mozart. Trong rạp hát, hàng trăm người đã đứng lên, hoan hô nhà soạn nhạc và đây là lúc hãnh diện nhất cho cả ba người thuộc gia đình Mozart.

    Sau đó vị Tổng Giám Mục miền Salzburg lại ghen tức với danh tiếng do Mozart tạo dựng nên tại một nơi khác, nên đã ra lệnh ngưng chức nhạc sĩ của Wolfgang trong khi người cha Leopold cố gắng gọi con trở về. Wolfgang qua chán ghét miền Salzburg nên cuối cùng đã viết thư cho cha: "xin đừng bắt con trở về Salzburg nữa, cha hãy bảo con làm việc khác ngoài việc trở về đó".

    Tại Munich, Wolfgang Mozart bắt đầu cam chịu một cuộc sống thiếu thốn. Nhà nhạc sĩ tài danh chỉ có được một học trò. Với số tiền quá ít ỏi, Mozart phải sống trọ với một gia đình bạn, vào lúc này, người yêu cũ là nàng Aloysia đã đi lấy chồng. Bà Weber và hai cô gái lại dọn đi Vienna và cũng ở trong hoàn cảnh eo hẹp.

    Cuối năm 1773 và đầu năm 1774, Wolfgang Mozart đã sáng tác được 2 bản giao hưởng cung Sol thứ (K.183) và cung La trưởng (K.201) với tính nhạc mãnh liệt và trang nghiêm, với đặc tính đồng nhất về chủ đề (thematic unity) và với đặc điểm về cách khai triển toàn bộ nhạc thức. Sau đó là thời kỳ Mozart viết nhiều sônát dành cho đàn dương cầm (piano sonata): K.279-284 soạn tại Salzburg và Munich trong 2 năm 1774-75, K.309 và K.311 tại Mannheim,1777-78, và tại Paris vào năm 1778 gồm các bản sônát cung La thứ (K.310), sônát cung Đô trưởng (K.330), sônát cung La trưởng với các biến khúc (K.331); và 2 sônát mang đặc tính Mozart nhất là 2 nhạc phẩm cung Fa trưởng và Si giáng trưởng (K.332 và K.333). Nhiều biến khúc (variations) cũng được Mozart sáng tác tại Paris với các bản nhạc dành cho các nhạc sinh, kể cả bản "Ah, vous dirais-je maman" (K.265, Paris-1778). Nhiều bản hòa tấu 4 đàn được Mozart sáng tác một cách xuất sắc, chẳng hạn như bản Flute Quartet cung Rê trưởng (K.285) và bản Oboe Quartet (K.370).

    Wolfgang Mozart đã sáng tác âm nhạc hoặc do tiền đặt trước, hoặc vì một dịp đặc biệt nào đó. Trước khi viết nhạc, chàng nhạc sĩ thiên tài này đã có trong đầu óc một định kiến về khán giả và các nhạc sĩ trình diễn, về sự ưa chuộng của người nghe nhạc. Mozart quả thực là một nhà soạn nhạc thương mại, viết nhạc vừa với ước vọng nhạc phẩm sẽ được trình diễn, làm vui lòng người đặt hàng, lại mang về tiền bạc cho mình. Trong các thập niên 1770 và 1780, Mozart đã sáng tác âm nhạc cho các buổi họp mặt ngoài vườn, các đám cưới, các sinh nhật, các buổi hòa nhạc gia đình và các nhạc phẩm này phần lớn được gọi là dạ khúc (serenade hay divertimento). Ngoài ra, số nhạc phẩm của Mozart còn gồm nhạc thính phòng với đàn dây và đôi khi với một hay hai loại kèn, rồi tới các concerto và các bản giao hưởng phức tạp hơn… tất cả đều mang sắc nhạc đơn giản, bay bướm với giai điệu quyến rũ. Bản dạ khúc được phổ biến nhất của Mozart có tên là "Dạ Khúc Nhỏ" (Eine Kleine Nachtmusik, K.525), một tác phẩm viết cho dàn nhạc nhỏ đàn dây (small string orchestra). Dạ khúc Haffner năm 1776 là một thí dụ rõ ràng nhất của thể điệu concerto-symphonic.

    Mozart cũng viết các concerto dành cho vĩ cầm như các nhạc phẩm K.216, 218 và 219, lần lượt theo các cung Sol, Rê và La. Các nhạc phẩm này là những tác phẩm với vẻ nhạc rất trong sáng, với âm thanh lộng lẫy, đầy nhạc cảm.

    3/ Thời kỳ sống tại thành phố Vienna (1781-91).


    Wolfgang Mozart rời bỏ Munich và dọn qua Vienna, tại đây chàng nhạc sĩ đã quyết định chọn người vợ là cô Constanza Weber, em gái của người yêu khi trước, mặc dù lời quở mắng của ông Leopold. Hai người đã làm lễ thành hôn ngày 16-8-1782. Constanza tuy là một người vợ tận tụy song lại là một người đàn bà rất kém về nội trợ khiến cho gia đình Mozart luôn luôn túng thiếu. Trước hoàn cảnh eo hẹp về tài chính, Mozart muốn rời đi London hay Paris nhưng ông Leopold đã gửi thư, hẹn gặp người con trai tại Vienna. Rồi người cha và người chị đã tới, Mozart rất hân hoan được giới thiệu người vợ mới của mình và ông Leopold cũng vui sướng khi thấy con trai bận rộn trong việc sáng tác các nhạc phẩm. Có một buổi chiều, ông Leopold đã cùng với đại nhạc sĩ Josef Haydn nghe trình diễn các bản tứ hòa (quartets) do Mozart viết ra, và J. Haydn đã phải nói với ông Leopold: "Trước Thượng Đế, và tôi lấy danh dự mà nói rằng con trai của ông là một nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mà tôi đã gặp. Cậu ta có khả năng thưởng thức và lại có một điều quý hơn nữa là một kiến thức sâu rộng nhất về sáng tác âm nhạc".

    Lần gặp gỡ trên cũng là lần cuối giữa hai cha con vì sau đó ông Leopold trở về Salzburg rồi mắc bệnh và qua đời vào ngày 28-5-1787. Hung tin này tới với Mozart sau khi chàng nhạc sĩ vừa mới hoàn tất bản nhạc kịch "Đám Cưới của Figaro" (the Marriage of Figaro). Tại mỗi góc phố của hai thành phố Vienna và Prague đều vang lên giai điệu của bản nhạc này.

    Mặc dù thành công về bản nhạc kịch gần đây, Mozart vẫn túng thiếu và vẫn phải kiếm ăn bằng cách dạy nhạc. Vợ của chàng lại thường hay đau bệnh, không biết tiết kiệm và gia đình đôi khi không có đồ ăn hoặc củi đốt. Một vài người bạn thân cũng thỉnh thoảng giúp đỡ chàng lúc quá khó khăn. Lúc bấy giờ Hoàng Đế Josef của nước Áo vì muốn giữ chàng nhạc sĩ thiên tài lại trong nước mình, nên đã đề nghị tuyển Mozart làm nhà soạn nhạc cho cung đình với lương 80 bảng một năm, một món tiền quá nhỏ, khiến cho Mozart đã phải nói ra một cách chua chát: "Đó là món tiền quá lớn đối với công việc quá nhỏ đòi hỏi tôi phải làm, và cũng là món tiền quá nhỏ đối với khả năng tôi có thể làm được".

    Tháng 9 năm 1787, Mozart bắt đầu viết vở nhạc kịch "Don Giovanni". Nhạc phẩm phải xong vào ngày 29-10 mà tới tối ngày 28, phần khai khúc (overture) vẫn chưa được soạn tới. Mozart đã thức suốt đêm để viết nhạc vì tác phẩm đã ở sẵn trong đầu chàng nhạc sĩ thiên tài. Lúc 7 giờ sáng khi còn chưa khô mực, nhạc phẩm đã được chuyển tới người chép nhạc rồi dùng cho buổi trình diễn ngay ban chiều mà không có thời giờ tập dượt. Kết quả của vở nhạc kich "Don Giovanni" rất rực rỡ, mọi người đều tán thưởng những nét nhạc và giai điệu mỹ lệ của Mozart. Nhưng khó khăn tài chính vẫn chưa vượt qua được. Ông hoàng Karl Lichnowsky đề nghị Mozart nên đi theo ông tới Berlin vì Vua nước Phổ có thể giao cho chàng chức vụ Nhạc Trưởng Thính Phòng với lương bổng khá lớn nhưng vì lòng trung thành với Hoàng Đế Josef của nước Áo đã khiến Mozart phải từ chối.

    Tháng 7 năm 1791, khi đang sống tại Vienna, Mozart đã tiếp một người cao lớn mặc áo đen, đến đặt viết bản nhạc Cầu Hồn Requiem trong khi đó chàng nhạc sĩ cũng đang bận rộn giúp đỡ người bạn là nhạc sĩ Salieri. Lễ đăng quang của Hoàng Đế Leopold II đã được ấn định vào ngày 6 tháng 9 tại Prague. Trước khi lên xe ngựa đi Prague, người áo đen đặt viết bản nhạc cầu hồn lại đến và Mozart phải năn nỉ xin hoãn cho tới lúc từ Prague trở về. Bản nhạc kịch "La Clemenza di Tito" đã được soạn xong đúng thời hạn và được trình diễn nhưng kết quả không vẻ vang. Mozart trở lại Vienna lúc cơ thể quá mệt mỏi vì làm việc quá độ. Dù thế, ngày 30-9, một nhạc kịch khác cũng xuất hiện mang tên "Cây Sáo Thần" (the Magic Flute). Thành công của bản nhạc kịch này tăng dần lên trong khi bản nhạc Cầu Hồn vẫn còn dang dở. Đã nhiều lần Mozart ngất sỉu vì yếu sức và một hôm, chàng nhạc sĩ thiên tài đã nói với vợ: "Anh viết bản Cầu Hồn này cho chính anh vậy".

    Chiều ngày 4 tháng 12 năm 1791, Mozart bị nằm liệt giường và trút hơi thở cuối cùng vào sáng ngày 5-12, lúc 35 tuổi, để lại bản nhạc Cầu Hồn chưa viết xong. Một môn đệ ưa thích của Mozart tên là Sussmayr đã viết nốt bản nhạc lễ đó (mass) từ các nét nhạc phác thảo của Thầy cùng với một số giai điệu bổ túc của mình.

    Ngày đưa đám của chàng nhạc sĩ thiên tài Mozart chỉ quy tụ được vài người bạn thân. Quan tài được chở trên xe kéo, ra khỏi thành phố để tới khu nghĩa trang nghèo nàn. Rồi một trận bão tuyết đổ ập tới, các bạn bè tiễn đưa đã bỏ về và lẽo đẽo theo sau xe tang chỉ còn người vợ góa và một con chó trung thành. Do thời tiết quá xấu, xe tang đã không thể đi thêm được nữa, những người phu chôn cất đã đào huyệt và chôn vội vã chiếc quan tài bên đường. Sáng ngày hôm sau khi tuyết ngừng rơi, người vợ trẻ Constanza đã không thể tìm ra dấu tích ngôi mộ của chồng vừa mới đào lấp vào ngày hôm qua.

    Vào các năm đầu của thời kỳ sống tại Vienna, các sáng tác nhạc của Mozart khá phong phú. Nhạc khúc hát nói (singpiel) "Die Entfuhrung aus dem Serail" (the Abduction from the Seraglio, 1782) đã được trình diễn nhiều lần. Mozart đã là nhạc sĩ dương cầm và sáng tác thần tượng của dân chúng thành phố Vienna, là một ngôi sao âm nhạc tự do.

    Phần lớn các nhạc phẩm đã làm cho danh tiếng Mozart trở nên bất tử, đều được sáng tác vào khoảng thời gian 10 năm cuối với cách tổng hợp toàn hảo về nhạc thức và về nội dung, với nhạc phong vừa lẳng lơ, vừa uyên bác, với sự duyên dáng và đam mê trong chiều sâu của nhạc cảm và Mozart đã viết tất cả các thể loại âm nhạc.

    Các ảnh hưởng chính đối với Mozart vào thời kỳ này vẫn là đường nét âm nhạc của Haydn và sự khám phá của chàng nhạc sĩ về âm nhạc của J.S. Bach. Thời đó bá tước Gottfried van Swieten là đại sứ của nước Áo tại Berlin. Vị bá tước này đã là thủ thư viện của vương triều và lại là một người đam mê âm nhạc. Tại nhà của bá tước Van Swieten, Mozart được làm quen với các tập nhạc của Bach trong đó có tập "Art of Fugue, the Well-Tempered Clavier" (Nghệ thuật của Tẩu Khúc dùng cho đàn dương cầm), một số các sônát và các nhạc phẩm khác. Ảnh hưởng của âm nhạc Bach đã được lưu dấu trong các tác phẩm về sau của Mozart, chẳng hạn như trong bản sônát cuối cùng dành cho dương cầm, K.576, hay bằng nhạc tính trang trọng trong nhạc phẩm "Cây Sáo Thần" (the Magic Flute) và nhạc lễ Cầu Hồn Requiem.

    Trong số các nhạc bản độc tấu dương cầm của thời kỳ Vienna, quan trọng nhất là bản Fantasia và Sônát cung Đô thứ (Sonata in C minor, K.475 và K.457). Nhạc phẩm Fantasia đã có các giai điệu và chuyển cung (modulations) đi trước Schubert trong khi bản Sônát kể trên đã là mẫu mực của nhạc bản Sonate Pathétique của Beethoven.

    Mozart còn viết các nhạc phẩm dành cho 2 đàn dương cầm (K.448, 1781), các sônát 4 tay (K.497, 1786), nhạc thính phòng, sônát vĩ cầm cung La trưởng (K.526), nhạc hòa tấu 3 đàn dây (String Trio K.563), nhạc hòa tấu 5 kèn Clarinet (the Clarinet Quintet, K.581)… Trong 6 "Haydn Quartets" (nhạc hòa tấu 4 đàn), Mozart đã thể hiện khả năng trưởng thành của mình trong việc hấp thụ tinh túy âm nhạc của Haydn mà không phải là một người bắt chước vụng về.

    Với nhạc kịch "Đám Cưới của Figaro" viết năm 1786 dùng lời nhạc (libretto) của Lorenzo da Ponte, Mozart đã lên tới tột đỉnh của tài soạn nhạc, với nét nhạc vừa trong sáng, vừa duyên dáng.

    4/ Các nhạc phẩm chính của Wolfgang A. Mozart.

    Các nhạc phẩm dùng cho dàn nhạc (orchestral music) của Mozart gồm hơn 40 bản giao hưởng (symphonies), chẳng hạn như các bản có tên là Haffner số 35, Linz số 36, Prague số 38, Jupiter số 39, 40 và 41, các dạ khúc (serenade) như Dạ Khúc Nhỏ (Eine Kleine Nachtmusik, 1787), các hành khúc (marches) và vũ khúc (dances).

    Các concerto gồm 5 bản dành cho vĩ cầm, 27 bản dành cho dương cầm và các bản nhạc khác dùng cho các loại kèn, sáo và thụ cầm (harp).

    Các nhạc kịch (operas) gồm Idomeneo (1781), die Entfuhrung aus dem Serail (1782), Đám Cưới của Figaro (1786), Don Giovanni (1787), Cosi fan tutte (1790) và Cây Sáo Thần (1791).

    Nhạc đồng ca (choral music) gồm 18 nhạc lễ, bản Cầu Hồn Requiem K.626 (dang dở- 1791). Nhạc thính phòng gồm 23 bản hòa tấu 4 đàn dây, các trio, quintet, sônát…

    17 bản sônát dương cầm và bản Fantasia (K.475, 1785). Ngoài ra còn có các bản nhạc hát thế tục (secular vocal music).

    Vào thời đại của Wolfgang A. Mozart, số lượng các nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng còn bị giới hạn và các nhạc sĩ thời đó có phong cách trình diễn âm nhạc khác với ngày nay. Âm nhạc của Mozart chưa được giới hâm mộ hiểu rõ vào thế kỷ 19, cho tới sau Thế Chiến Thứ Nhất các nhạc sĩ và các nhà nghiên cứu âm nhạc mới tìm hiểu lại thiên tài Mozart và Wolfgang Amadeus Mozart được coi là nhạc sĩ có thiên phú nhất, hoàn hảo nhất mà Thế Giới được biết tới.



    Danh mục tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart



    - Ký hiệu K hoặc KV là viết tắt "Köchel (Verzeichnis)", tức là cách đánh số theo thời gian các tác phẩm của Mozart bởi Ludwig von Köchel. Lưu ý rằng danh mục này đã được thay đổi vài lần, nên dẫn đến việc có một số tác phẩm có hơn một số KV (ví dụ Symphony số 25).

    - Các tác phẩm của Mozart liệt kê dưới đây được nhóm theo từng thể loại tác phẩm. Không phải tất cả các tác phẩm của Mozart có cách đánh số được hầu hết mọi người thừa nhận: Köchel chỉ đánh số các bản giao hưởng (từ 1 đến 41); Piano Concerto (1 đến 27, bỏ qua một vài chuyển soạn trong thời kỳ đầu của Mozart) và vài nhóm thể loại khác, cho tứ tấu dây, hầu hết các tác phẩm thính phòng và thanh nhạc không có đánh số (hoặc không được hầu hết mọi người thừa nhận).

    -Chỉ có vài tác phẩm của Mozart có đánh số Opus, trong khi có rất nhiều tác phẩm của ông được xuất bản trong khi ông còn sống, điều này chứng tỏ cách đánh số Opus hoàn toàn không phù hợp với các tác phẩm của Mozart.


    Giao hưởng


    Các bản giao hưởng của Mozart được sáng tác trong quãng thời gian 24 năm, từ 1764 đến 1788. Theo như những nghiên cứu gần đây, Mozart đã viết không chỉ 41 bản giao hưởng như những ấn phẩm truyền thống từng nói, mà ông có đến 68 tác phẩm trọn vẹn của thể loại này. Tuy nhiên, theo một quy ước ngầm, cách đánh số truyền thống vẫn được giữ lại, và do đó bản giao hưởng cuối cùng của ông vẫn là "số 41". Một vài bản giao hưởng (K. 297, 385, 550) được sửa chữa bởi tác giả sau lần xuất bản đầu tiên.

    Những bản giao hưởng thời thơ ấu (1764-1771)


    Đây là những bản giao hưởng trong thời kỳ đầu tiên của Mozart. Cần lưu ý rằng cũng có rất nhiều tác phẩm giao hưởng không được đánh số của ông trong thời kỳ này.

    Symphony No. 1 in E-flat major, K. 16
    Symphony No. 2 in B-flat major, K. 17 (spurious)
    Symphony No. 3 in E-flat major, K. 18 (spurious, by Abel)
    Symphony No. 4 in D major, K. 19
    Symphony No. 5 in B-flat major, K. 22
    Symphony No. 6 in F major, K. 43
    Symphony No. 7 in D major, K. 45
    Symphony No. 8 in D major, K. 48
    Symphony No. 9 in C major, K. 73
    Symphony No. 10 in G major, K. 74
    Symphony No. 11 in D major, K. 84
    Symphony No. 12 in G major, K. 110
    Symphony No. 13 in F major, K. 112


    Những bản giao hưởng tại Salzburg (1771-1781)


    Những bản giao hưởng này đôi khi được phân loại thành "Thời kỳ đầu" (1771-1773) và "Thời kỳ sau" (1773-1775), và thỉnh thoảng được phân loại thành "Giao hưởng Đức" (có Minuet) và "Giao hưởng Italy" (không có Minuet). Không có tác phẩm nào trong số này được in khi Mozart còn sống.
    Mặc dù không được tính là "Giao hưởng" ba bản Divertimenti K. 136-138, có chương 3 theo phong cách overture Italy, thỉnh thoảng cũng được coi là "Giao hưởng Salzburg" (Salzburg Symphonies)

    Symphony No. 14 in A major, K. 114 (1771)
    Symphony No. 15 in G major, K. 124 (1772)
    Symphony No. 16 in C major, K. 128 (1772)
    Symphony No. 17 in G major, K. 129 (1772)
    Symphony No. 18 in F major, K. 130 (1772)
    Symphony No. 19 in E-flat major, K. 132 (1772)
    Symphony No. 20 in D major, K. 133 (1772)
    Symphony No. 21 in A major, K. 134 (1772)
    Symphony No. 22 in C major, K. 162 (1773)
    Symphony No. 23 in D major, K. 181 (1773)
    Symphony No. 24 in B-flat major, K. 182 (1773)
    Symphony No. 25 in G minor, K. 183 (173d B) (1773)
    Symphony No. 26 in E-flat major, K. 184 (1773)
    Symphony No. 27 in G major, K. 199 (1773)
    Symphony No. 28 in C major, K. 200 (1774)
    Symphony No. 29 in A major, K. 201 (1774)
    Symphony No. 30 in D major, K. 202 (1774)


    Những bản giao hưởng thời kỳ cuối (1781-1791)


    Symphony No. 31 "Paris" in D major, K. 297 (1778)

    Mozart đến Paris năm 1778 để tìm kiếm một vị trí xứng đáng với tài năng của mình. Mặc dù không thể đạt đến mục tiêu, nhưng trong thời gian đó Mozart đã viết được "giao hưởng Paris" mà nó đặc biệt thú vị cho một tác phẩm đẹp và hiện đại của việc đồng diễn các nhạc cụ.

    Symphony No. 32 "Overture in the Italian style" in G major, K. 318 (1779)
    Symphony No. 33 in B-flat major, K. 319 (1779)
    Symphony No. 34 in C major, K. 338 (1780)
    Symphony No. 35 "Haffner" in D major, K. 385 (1782)
    Symphony No. 36 "Linz" in C major, K. 425 (1783)
    Symphony No. 37 in G major, K. 444 (1784)


    Trong nhiều năm nó được coi là giao hưởng của Mozart, nhưng sau đó những học giả xác định nó hoàn toàn được sáng tác bởi Michael Haydn, và mozart chỉ viết đoạn giới thiệu chậm cho nó. Hiện nay nó được coi là giao hưởng số 26 của Haydn.

    Symphony No. 38 "Prague" in D major, K. 504 (1786)

    Được sáng tác tại Vienna, sau quãng thời gian hạnh phúc tại Prague. Nó cực kỳ khó biểu diễn và vượt trội hơn tất cả những bản giao hưởng trước đây của Mozart.

    Symphony No. 39 in E flat major, K. 543 (1788)
    Symphony No. 40 in G minor, K. 550 (1788)
    Symphony No. 41 "Jupiter" in C major, K. 551 (1788)


    Concerto


    Đỉnh cao trong các tác phẩm của Mozart trong thể loại Concerto đạt đến là Piano Concerto, mặc dù ông sáng tác một vài tác phẩm quan trọng cho độc tấu các nhạc cụ khác và dàn nhạc.
    Piano Concerto
    Người ta tìm thấy 17 piano concerto là đỉnh cao trong số các tác phẩm cho piano của Mozart trong suốt thời gian tại Vienna, đó là những concerto quan trọng nhất trong số 27 concerto ông sáng tác, nơi mà ông đã cách mạng hóa phong cách concerto, cho nó một chiều dài của bản giao hưởng tự do, với nhạc cụ độc tấu khai thác tất cả các kĩ thuật có thể chơi và không bao giờ xung đột với dàn nhạc. Trong số chúng, 15 tác phẩm được viết trong thời gian từ 1782 đến 1786, trong khi 5 năm cuối Mozart chỉ viết thêm 2 concerto cho piano. Chúng cũng là một vài trong số những concerto cho piano nổi tiếng nhất của ông được viết cùng người khác, thường là học trò (nổi tiếng nhất là Babette von Ployer).
    Trong số những concerto cho piano và dàn nhạc, năm 1773 ông sáng tác Concerto giọng Rê, K 175, mà vài năm sau ông thừa nhận là tác ông ông yêu thích. Concerto cho 3 piano số 7 giọng Pha trưởng, K. 242 (Lodron) được sáng tác năm 1776, với ba phần piano với độ khó khác nhau.
    Những tác phẩm này nguyên gốc được viết cho clavecin hoặc fortepiano concerto nhưng hiện nay mọi người đều đổi tên chúng thành piano concerto.

    Piano Concerto No. 1 in F major, K. 37
    Piano Concerto No. 2 in B flat major, K. 39
    Piano Concerto No. 3 in D major, K. 40
    Piano Concerto No. 4 in G major, K. 41
    Piano Concerto No. 5 in D major, K. 175
    Piano Concerto No. 6 in B flat major, K. 238
    Piano Concerto No. 7 in F major for Three Pianos, K. 242
    Piano Concerto No. 8 "Lutzow" in C major, K. 246
    Piano Concerto No. 9 "Jeunehomme" in E flat major, K. 271
    Piano Concerto No. 10 in E flat major for Two Pianos, K. 365
    Piano Concerto No. 11 in F major, K. 413/387a
    Piano Concerto No. 12 in A major, K. 414/385p
    Piano Concerto No. 13 in C major, K. 415/387b
    Piano Concerto No. 14 in E flat major, K. 449
    Piano Concerto No. 15 in B flat major, K. 450
    Piano Concerto No. 16 in D major, K. 451
    Piano Concerto No. 17 in G major, K. 453
    Piano Concerto No. 18 in B flat major, K. 456
    Piano Concerto No. 19 in F major, K. 459
    Piano Concerto No. 20 in D minor, K. 466
    Piano Concerto No. 21 in C major, K. 467
    Piano Concerto No. 22 in E flat major, K. 482
    Piano Concerto No. 23 in A major, K. 488
    Piano Concerto No. 24 in C minor, K. 491
    Piano Concerto No. 25 in C major, K. 503
    Piano Concerto No. 26 "Coronation" in D major, K. 537
    Piano Concerto No. 27 in B flat major, K. 595


    Violin concerto


    Violin Concerto No. 1 in B flat major, K. 207 (1775)
    Violin Concerto No. 2 in D major, K. 211 (1775)
    Violin Concerto No. 3 in G major, K. 216 (1775)
    Violin Concerto No. 4 in D major, K. 218 (1775)
    Violin Concerto No. 5 in A major, K. 219 (1775)
    Violin Concerto in E flat major, K. 268 (1780) (Doubtful)
    Violin Concerto in D major, K. 271a Kolb (1777) (Doubtful)


    Horn Concerto


    Horn Concerto No. 1 in D major, K. 412 (1791)
    Horn Concerto No. 2 in E flat major, K. 417 (1783)
    Horn Concerto No. 3 in E flat major, K. 447 (c. 1784-87)
    Horn Concerto No. 4 in E flat major, K. 495 (1786)


    Những concerto cho nhạc cụ khác


    Bassoon Concerto in B flat major, K. 191 (1774)
    Concerto for Harp, Flute and Orchestra, K. 299 (1778)
    Oboe Concerto in C major, K. 314 (tới thời chúng ta thành flute concerto số 2, nhưng hầu như chắc chắn là một oboe concerto)

    Concerto for Clarinet and Orchestra in A major, K. 622 (1791)
    Flute Concerto No. 1 in G Major, K. 313 (1778)
    Flute Concerto No. 2 in D Major, K. 314 (1778) - vốn được chuyển soạn từ Oboe concerto in C major, K. 314
    Andante for Flute and Orchestra in C Major, K. 315 (1778)
    Concerto for Trumpet, K47a (lost)


    Các concertant symphony


    Sinfonia Concertante for Violin, Viola and Orchestra K. 364 in E flat major (1779)

    Sinfonia Concertante for Oboe, Clarinet, Horn and Bassoon K. 297b in E flat major Anh.9 and later Anh. C 14.01 (1791)


    Âm nhạc cho piano độc tấu


    Nannerl's Music Book

    Andante in C, K. 1a
    Allegro in C, K. 1b
    Allegro in F, K. 1c
    Minuet in F, K. 1d
    Minuet in G, K. 1e
    Minuet in C, K. 1f
    Minuet in F, K. 2
    Allegro in B-flat, K. 3
    Minuet in F, K. 4
    Minuet in F, K. 5
    Allegro in C, K. 5a
    Andante in B-flat, K. 5b


    - Piano Sonata No. 1 in C major, K. 279 (Munich, Summer 1774)
    - Piano Sonata No. 2 in F major, K. 280 (Munich, Summer 1774)
    - Piano Sonata No. 3 in B-flat major, K. 281 (Munich, Summer 1774)
    - Piano Sonata No. 4 in E-flat major, K. 282 (Munich, Summer 1774)
    - Piano Sonata No. 5 in G major, K. 283 (Munich, Summer 1774)
    - Piano Sonata No. 6 in D major, K. 284 (Munich, Feb-Mar 1775)
    - Piano Sonata No. 7 in C major, K. 309 (Mannheim, Nov. 8 1777)
    - Piano Sonata No. 8 in A minor, K. 310 (Paris, Summer 1778, some catalogues have the a minor and D Major reversed)
    - Piano Sonata No. 9 in D major, K. 311 (Mannheim, Nov 1777. some catalogues have the a minor and D Major reversed)
    - Piano Sonata No. 10 in C major, K. 330 (Summer 1778)
    - Piano Sonata No. 11 "Turkish March" in A major, K. 331 (Summer 1778)
    -Piano Sonata No. 12 in F major, K. 332 (Summer 1778)
    - Piano Sonata No. 13 in B-flat major, K. 333 (Summer 1778)
    - Piano Sonata No. 14 in C minor, K. 457 (Vienna, Oct. 14, 1784,)
    - Piano Sonata No. 15 in F Major, K. 533 (Vienna, Jan. 3, 1788)
    - Piano Sonata No. 16 in C Major, K. 545 (so-called facile or semplice sonata; Vienna, Jun. 26, 1788)
    - Piano Sonata No. 17 in F Major, K. 547a (Vienna, Summer 1788)
    - Piano Sonata No. 18 in B-flat Major, K. 570 (Vienna, February, 1789)
    - Piano Sonata No. 19 in D Major K. 576 (Vienna, July 1789)
    - Fantasy No. 1 with Fugue in C major, K. 394 (Vienna, 1782)
    - Fantasy No. 2 in C minor, K. 396 (Vienna, 1782)
    - Fantasy No. 3 in D minor, K. 397 (Vienna, 1782)
    - Fantasy No. 4 in C minor, K. 475 (Vienna, May 20, 1785)
    - Sonata for Keyboard Four-hands in C major, K. 19d (London, May 1765)
    - Sonata for Keyboard Four-hands in D major, K. 381 / 123a
    - Sonata for Keyboard Four-hands in B flat major, K. 358 / 186c
    - Sonata for Keyboard Four-hands in F major, K. 497
    - Sonata for Keyboard Four-hands in C major, K. 521
    - Sonata for Keyboard Four-hands in G major, K. 357 (incompleted)


    Nhạc thính phòng


    Tác phẩm cho violin


    Những violin sonata thời thơ ấu (1763 – 66)

    Violin Sonata No. 1 in C major, K. 6
    Violin Sonata No. 2 in D major, K. 7
    Violin Sonata No. 3 in B flat major, K. 8
    Violin Sonata No. 4 in G major, K. 9
    Violin Sonata No. 5 in B flat major, K. 10
    Violin Sonata No. 6 in G major, K. 11
    Violin Sonata No. 7 in A major, K. 12
    Violin Sonata No. 8 in F major, K. 13
    Violin Sonata No. 9 in C major, K. 14
    Violin Sonata No. 10 in B flat major, K. 15
    Violin Sonata No. 11 in E flat major, K. 26
    Violin Sonata No. 12 in G major, K. 27
    Violin Sonata No. 13 in C major, K. 28
    Violin Sonata No. 14 in D major, K. 29
    Violin Sonata No. 15 in F major, K. 30
    Violin Sonata No. 16 in B flat major, K. 31


    Những violin sonata giai đoạn thành thục (1778 - 88)

    Violin Sonata No. 17 in C major, K. 296
    Violin Sonata No. 18 in G major, K. 301
    Violin Sonata No. 19 in E flat major, K. 302
    Violin Sonata No. 20 in C major, K. 303
    Violin Sonata No. 21 in E minor, K. 304
    Violin Sonata No. 22 in A major, K. 305
    Violin Sonata No. 23 in D major, K. 306
    Violin Sonata No. 24 in F major, K. 376
    Violin Sonata No. 25 in F major, K. 377
    Violin Sonata No. 26 in B flat major, K. 378
    Violin Sonata No. 27 in G major, K. 379
    Violin Sonata No. 28 in E flat major, K. 380
    Violin Sonata No. 29 in A major, K. 402 (completed by M. Stadler)
    Violin Sonata No. 32 in B flat major, K. 454
    Violin Sonata No. 33 in E flat major, K. 481
    Violin Sonata No. 35 in A major, K. 526
    Violin Sonata No. 36 in F major, K. 547


    Variation cho Violin và Piano

    - Variations in G major, K. 359, "La bergere Celimene"
    - 6 Variations in G minor on Helas, j'ai perdu mon amant, K. 360


    Song tấu và tam tấu đàn dây

    Duo for Violin & Viola in G major, K. 423
    Duo for Violin & Viola in B flat major, K. 424
    Trio for Violin, Viola & Cello in E flat major, K. 563 (1788)
    Trio for 2 Violins & Cello in B flat major, K. 266
    Preludes and Fugues for Violin, Viola & Cello, K. 404a


    Tứ tấu đàn dây

    Quartetti Milanesi, K. 80 and K. 155-160 (1770-1773)
    String Quartet No. 1 in G major, K. 80/73f (1770)
    String Quartet No. 2 in D major, K. 155/134a (1772)
    String Quartet No. 3 in G major, K. 156/134b (1772)
    String Quartet No. 4 in C major, K. 157 (1772-3)
    String Quartet No. 5 in F major, K. 158 (1772-3)
    String Quartet No. 6 in B-flat major, K. 159 (1773)
    String Quartet No. 7 in E-flat major, K. 160/159a (1773)


    Vienna Quartets, K. 168-173 (1773) +
    String Quartet No. 8 in F major, K. 168 (1773)
    String Quartet No. 9 in A major, K. 169 (1773)
    String Quartet No. 10 in C major, K. 170 (1773)
    String Quartet No. 11 in E-flat major, K. 171 (1773)
    String Quartet No. 12 in B-flat major, K. 172 (1773)
    String Quartet No. 13 in D minor, K. 173 (1773)


    Haydn Quartets K. 387, 421, 428, 458, 464, 465, Opus 10 (1782–1785)
    String Quartet No. 14 in G major, ("Spring") K. 387 (1782)
    String Quartet No. 15 in D minor, K. 421/417b (1783)
    String Quartet No. 16 in E-flat major, K. 428/421b (1783)
    String Quartet No. 17 in B-flat major ("Hunt"), K. 458 (1784)
    String Quartet No. 18 in A major, K. 464 (1785)
    String Quartet No. 19 in C major ("Dissonance"), K. 465 (1785)


    String Quartet No. 20 in D major ("Hoffmeister"), K. 499 (1786)

    Prussian Quartets K. 575, 589, 590 (1789-1790)
    String Quartet No. 21 in D major, K. 575 (1789)
    String Quartet No. 22 in B-flat major, K. 589 (1790)
    String Quartet No. 23 in F major, K. 590 (1790)


    Ngũ tấu đàn dây

    String Quintet in B flat major, K. 174
    String Quintet in C major, K. 515
    String Quintet in G minor, K. 516
    String Quintet in C minor, K. 406 (516b)
    String Quintet in D major, K. 593
    String Quintet in E flat major, K. 614


    Các tác phẩm thính phòng khác


    Flute Quartets (flute, violin, viola, cello) K. 285, 285a, 285b, 298 (1777–1787)
    Quintet for piano and winds (oboe, clarinet, horn, bassoon) K. 452 (1784)
    Trio for Clarinet, Viola and Piano in E flat major, K. 498 "Kegelstatt" (1786)
    Clarinet Quintet in A major, K. 581 (1789)


    Serenade , divertimenti và tác phẩm khí nhạc khác


    Eine kleine Nachtmusik (Serenade No. 13 for String Quartet & Bass K. 525)
    Serenade for Thirteen Wind Instruments (Serenade No. 10 for winds in B flat major K. 361)
    Divertimenti (for example, for 2 fl., 5 tmpt., 4 timp. K. 188)
    Divertimenti, K. 136-138 (1772)
    Divertimenti for two horns and strings, A Musical Joke, (Ein Musikalischer Spaß,) K. 522


    Âm nhạc tôn giáo


    Mass

    Mass No. 1 ("Missa brevis") in G major, K. 49
    Mass No. 2 ("Missa brevis") in D minor, K. 65
    Mass No. 3 in C major (Dominicusmesse), K. 66
    Mass No. 4 ("Missa solemnis") in C minor, K. 139
    Mass No. 5 ("Missa brevis") in G major, K. 140
    Mass No. 6 ("Missa brevis") in F major, K. 192
    Mass No. 7 in C major (Missa in honorem Sanctissimae Trinitatis), K. 167
    Mass No. 8 ("Missa brevis") in D major, K. 194
    Mass No. 9 ("Missa brevis") in C major (Spatzenmesse), K. 220
    Mass No. 10 ("Missa brevis") in C major ("Credo" Mass), K. 257
    Mass No. 11 in C major (Spaurmesse or Piccolomissa), K. 258
    Mass No. 12 ("Missa brevis") in C major ("Organ Solo"), K. 259
    Mass No. 13 ("Missa longa") in C major, K. 262
    Mass No. 14 ("Missa brevis") in B flat major, K. 275
    Mass No. 15 in C major ("Coronation"), K. 317
    Mass No. 16 ("Missa solemnis") in C major (Missa aulica), K. 337
    Mass No. 17 in C minor ("Great"), K. 427
    Requiem Mass in D minor, K. 626 (completed by Franz Xaver Süssmayr after Mozart's death)


    Các tác phẩm tôn giáo khác

    Exsultate, jubilate, K. 165
    Ave verum corpus, K. 618
    Te Deum, K. 141
    Regina Coeli


    Opera


    Die Schuldigkeit des ersten Gebotes, K. 35 (1767)
    Apollo et Hyacinthus, K. 38 (1767)
    Bastien und Bastienne, K. 50=46b (1768)
    La finta semplice, K. 51 (1768)
    Mitridate, re di Ponto, K. 87 (1770)
    Ascanio in Alba, K. 111 (1771)
    Betulia Liberata, an oratorio, K. 118=74c (1771)
    Il sogno di Scipione, K. 126 (1772)
    Lucio Silla, K. 135 (1772)
    Thamos, König in Ägypten (1773, 1775)
    La finta giardiniera, K. 196 (1774-5)
    Il re pastore, K. 208 (1775)
    Zaide, K. 344 (1779)
    Idomeneo, K. 366 (1781)
    Die Entführung aus dem Serail, K. 384 (1782)
    L'oca del Cairo, K. 422 (1783)
    Lo sposo deluso, K. 430
    Der Schauspieldirektor, K. 486 (1786)
    Le nozze di Figaro, K. 492 (1786)
    Don Giovanni, K. 527 (1787)
    Così fan tutte, K. 588 (1789)
    Die Zauberflöte, K. 620 (1791)
    La clemenza di Tito, K. 621 (1791)
    Last edited by Thái Thanh Nguyên; 16-09-2008 at 12:14 AM.
    Mắt nào em ném trao anh
    Dao cau bổ dọc toang mành trời đêm
    Môi nào rót mật ...say mềm
    Mà giờ rơi rớt ... bên thềm lắt lay


    Vũ Anh Vũ


  5. #5
    Gia nhập
    Sep 2006
    Bài gởi
    882

    Trả lời: Những nhạc sĩ thiên tài thế giới

    Peter Ilyich Tchaikovsky ( 1840 - 1893 )



    Không giống như hầu hết những nhà soạn nhạc Nga cùng thời, Tchaikovsky không được sinh ra trong một gia đình nông thôn hay dòng dõi quý tộc. Cha của ông, ông Ilya Petrovich là một kỹ sư mỏ, làm việc tại một thị trấn nhỏ ở Votsink - nơi cậu bé Peter là người thứ hai trong số 6 anh chị em được sinh ra vào ngày mùng 7 tháng 5 năm 1840. Mẹ của ông, Alexandra Andreyevna Assier, xuất thân từ một gia đình nhập cư từ Pháp. Và theo thói quen của những gia đình khá giả ở Nga, Peter bắt đầu học các bài tập piano đầu tiên từ rất sớm. Cha của ông chuyển đến St Petersburg vào năm 1850 và Peter được chọn vào học trường Luật ở đó. Sau đó, ông vào làm thư ký ở Bộ Tư pháp.

    Vốn là một người cuốn hút, lịch thiệp và có học thức, Tchaikovsky có mặt tại tất cả các phòng khách sang trọng của St Petersburg và trò chuyện dễ dàng với họ về sân khấu và văn học một cách tự tin. Công việc của ông (không phải là nghề đòi hỏi đặc biệt) chỉ là sự cần thiết về tài chính không hơn và âm nhạc cũng không phải là niềm yêu thích lẫn trò tiêu khiển duy nhất của ông.

    Tuy nhiên, sự phiền muộn và chán nản đã đến với Tchaikovsky khi ông 14 tuổi, sau cái chết đột ngột của mẹ ông trong thời gian bệnh dịch tả lan truyền và nỗi buồn chán ấy đã ngày càng tăng lên. Được sự động viên của người thân và bạn bè, Tchaikovsky muốn hiểu biết sâu hơn về âm nhạc - lĩnh vực này đã trở thành niềm an ủi lớn đối với ông. Vào mùa thu năm 1861, ông đã học một lớp lý luận âm nhạc với một trong những giáo viên ngiêm khắc và kỳ cựu nhất St Peterburg, thầy Nikolai Zaremba, người đầu tiên đã nhận ra đầy đủ tài năng của Tchaikovsky và đã khích lệ ông học hành một cách nghiêm túc (dù rằng thầy Zaremba đã phải nỗ lực vượt qua sự thờ ơ của cậu học sinh mình). Tchaikovsky đã từng nói: “Giả sử tôi có tài năng thật nhưng điều đó không có nghĩa là tôi có khả năng học ngay lúc này. Tôi đã trở thành một công chức và tôi không giỏi lắm ở công việc này. Tôi đang làm tất cả những gì để mình có thể tiến bộ hơn, nhưng làm thế nào tôi có thể vừa đi làm vừa học nhạc cùng một lúc được?”. Rồi những hoài nghi cũng qua đi nhưng Tchaikovsky chẳng chứng tỏ được gì hơn là một câu học trò lười nhác. Vào năm 1862, ông đăng ký vào học tại Nhạc viện St. Perterburg mới được thành lập; tại đây, ông tiếp tục các bài học về hoà thanh và đối vị với Zaremba và soạn nhạc và phối khí với Anton Rubinstein - người đã thuyết phục được Tchaikovsky bỏ công việc cũ của mình và tìm cho ông những học sinh của các lớp học tư để ông dạy nhằm cải thiện phần nào vấn đề tài chính đang đè nặng lên vai Tchaikovsky do sức khoẻ ngày một yếu của cha ông. Niềm vui của Tchaikovsky khi từ bỏ công việc cũ đã thể hiện rất rõ trong những dòng thư mà ông đã gửi cho chị gái mình: “... Một điều mà em chắc chắn đó là: em sẽ trở thành một nhạc sỹ giỏi và em sẽ có thể tự nuôi sống bản thân mình... Khi em hoàn thành xong việc học tập, em mong rằng sẽ được ở cùng chị trong suốt một năm để em có thể sáng tác được một tác phẩm vĩ đại thực sự tại ngôi nhà yên tĩnh, thanh bình của chị. Sau đó... là đi vòng quanh thế giới!”

    Tchaikovsky hoàn thành việc học tập của mình tại nhạc viện là vào năm 1965. Tác phẩm cho kỳ thi tốt nghiệp của ông là một bản catata to Joy, soạn cho các ca sĩ solo, dàn hợp xướng và dàn nhạc dựa trên lời thơ nổi tiếng của Schiller, và tác phẩm này đã đem lại cho ông huy chương bạc và rất nhiều lời khen ngợi. Tuy nhiên các sáng tác khác của ông thời kỳ này cũng chỉ giành được sự yêu thích tương đối. Vào đầu năm 1866, anh trai của Anton Rubinstein là Nikolai đã mời Tchaikovsky làm giảng viên môn hoà thanh tại một nhạc viện mà ông mới thành lập tại Moscow. Tchaikovsky đã nhanh chóng đồng ý và chuyển tới thủ đô nước Nga cổ kính này, bắt đầu cuộc sống của một nhạc sỹ chuyên nghiệp.

    “Em đã dần dần quen với cuộc sống ở Moscow, nhưng sự cô đơn làm em cảm thấy buồn chán. Những giờ giảng lý thuyết của em đã thành công tới mức tất cả những nỗi lo sợ ấy giờ đây đã tiêu tan và em đã bắt đầu như một giáo viên thực thụ... Em đang sống ở nhà thầy Rubinstein. Ông ấy quả là một con người tốt bụng và hiểu biết, hoàn toàn trái ngược với người em trai khó tính của ông ấy. Ông ta cho em một phòng ở ngay cạnh phòng ngủ của ông. Khi ông ta đã ngủ, em luôn lo lắng rằng tiếng sột soạt từ cây viết của em sẽ làm phiền tới ông ấy vì bức tường ngăn cách hai phòng rất mỏng”.

    Tchaikovsky tiếp tục công việc soạn nhạc một cách chăm chỉ, với sự giúp đỡ rất lớn từ những lời khuyên về chuyên môn của Nikolai Rubinstein.

    Ông đã viết một overture giọng Pha trưởng vào năm 1866 và nó đã được biểu diễn ở Moscow vào ngày 16 tháng 3 năm đó. Ông cũng sáng tác một Festival Overture giọng Rê trưởng, Op. 15 (có lẽ đây là tác phẩm hay nhất của ông trong giai đoạn này) dựa trên quốc ca Đan Mạch và bản giao hưởng số 1 giọng Son thứ (Winter Daydreams).

    Những tìm tòi của Tchaikovsky về nền âm nhạc Nga đã được thể hiện trong vở opera đầu tiên của ông The Voyevoda, bắt đầu viết năm 1867 với phần lời của Ostrovsky. Vở opera này đã được công diễn lần đầu tiên tại Nhà hát Bolshoi, Moscow vào ngày 11 tháng 2 năm 1869. Trong một thời gian ngắn sống ở St. Peterburg vào mùa xuân năm 1868, Tchaikovsky đã có được mối quan hệ với một nhóm các nhà soạn nhạc người Nga, được biết đến với cái tên “Nhóm 5 người” (bao gồm Balakirev, Mussorgsky, Rimsky-Korsakov, Borodin và Cui) mặc dù không có cách nào giúp Tchaikovsky có thể chia sẻ được với họ nguồn cảm hứng trong tư tưởng và tâm hồn của xu hướng dân tộc Nga. Và dẫu rằng Tchaikovsky đã sống phần lớn cuộc đời của ông tại Moscow - trái tim của nước Nga cổ kính - nhưng ông chưa bao giờ thấy thực sự cần thiết phải học soạn nhạc trong một ngôi trường truyền thống. Mối liên hệ giữa các nghiên cứu rộng lớn của ông tại nhạc viện St. Peterburg (pháo đài của nền âm nhạc phương Tây ở Nga), nguồn gốc một phần không phải người Nga của Tchaikovsky và tầm quan trọng của cô gia sư người Thụy Sỹ thời thơ ấu của ông - Fanny Durbach - đã hướng năng lực sáng tạo của ông theo hướng tân lãng mạn và trung thành với nguyên tắc: “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Giulio Confalonieri đã nhận xét về âm nhạc của Tchaikovsky: “Chúng ta nhận thấy một sự hiện diện liên tục, một nỗi âu sầu “nữ tính”, một sự suy nhược siết chặt lấy nỗi u uất tinh thần lẫn một dạng mơ hồ của sự chán đời. Chính sự suy nhược và âu sầu này vừa là động lực đằng sau các các tác phẩm của ông vừa là một sự thật về thẩm mĩ và con người mà người ta tìm kiếm để truyền đạt. Thực ra mà nói cái đã lôi cuốn Tchaikovsky đến với các bài hát Nga và những điệu nhảy được ưa chuộng không phải bắt nguồn từ việc phục hồi lại tính chủ nghĩa dân tộc mà từ nỗi âu sầu buồn bã, nỗi nuối tiếc của một tâm trạng khi biết một người không thể chơi một trò chơi nào đó, một hình ảnh về những điều tốt đẹp nhưng bị phủ nhận, sự mất mát từ chính lúc khởi đầu bởi sự vận hành của một số phận cá nhân bị xa lánh, khước từ, loại bỏ”.

    Mối tình thực sự đầu tiên trong cuộc đời của Tchaikovsky là với một ca sỹ người Bỉ Désirée Artôt vào năm 1868 đã có kết cục không mấy tốt đẹp. Bản thơ giao hưởng “Fate” (Định mệnh), Op.77 được sáng tác trong năm này và một năm sau đó là sự ra đời của tác phẩm quan trọng hơn Overture “Romeo và Juliet” - đây là tác phẩm đã được công diễn nhiều nhất trong số tất cả các tác phẩm của ông.

    Mặc dù vở opera kế tiếp của Tchaikovsky The Oprichnik (1870 - 1872) - có một chủ đề về nước Nga rất đặc trưng, lấy bối cảnh thời đại của Ivan bạo chúa nhưng vở opera vẫn đan xen những giai điệu và vũ điệu của Nga với tính kịch của Ý. Tuy nhiên ông đã tạo ra nhiều hơn những yếu tố truyền thống trong bản giao hưởng số 2 “Little Russian” (nước Nga nhỏ) giọng Đô thứ, Op. 17, được tạo nguồn cảm hứng từ văn học dân gian Ukraine. Bản tứ tấu đàn dây giọng Rê trưởng, Op. 11, được viết vào năm 1871, chịu ảnh hưởng của “Nhóm 5 người” và đây là tác phẩm thính phòng thành công nhất của ông.

    Tuy nhiên, cuộc sống của Tchaikovsky chưa bao giờ ở trạng thái cân bằng. Sự nghiệp sáng tác của ông dường như càng được toại nguyện bao nhiêu cả về tính chuyên nghiệp cũng như về mặt tài chính thì cuộc sống của ông với tư cách là một giáo viên tại nhạc viện ngày càng trở nên không chịu đựng nổi. Tuy vậy nhưng âm nhạc của ông thời kỳ này không mang tính tự sự sâu sắc như các tác phẩm sau này của ông. Trái lại, khát vọng của ông là dường như là muốn gây ấn tượng với công chúng với những tác phẩm chói sáng, có trình độ kỹ thuật cao. Và Tchaikovsky đã gặt hái được kết quả trong một số tác phẩm như: bản giao hưởng số 3 “Polish” (Ba Lan) gịong Rê trưởng, Op. 29 (1875); fantasy-overture “Francesca da Rimini”, Op.32 (1876); vở ballet The Swan lake (Hồ thiên nga), Op.20 (1875 - 1876) và bản concerto số 1 cho Piano và dàn nhạc giọng Si giáng thứ, Op. 23 (1874 - 1875).

    Thông qua sự giúp đỡ của một trong những học sinh của mình - người đã tham dự những đêm diễn do Nadezhda von Meck - nguời phụ nữ quí tộc này đã bắt đầu quan tâm đến Tchaikovsky và nghe một số tác phẩm của ông. Năm 1876, bà đã nhiệt tình viết thư cho ông và mời ông làm việc. Cứ như thế bắt đầu một tình bạn thắm thiết, kỳ lạ nhất trong lịch sử âm nhạc. Họ đã duy trì được mối quan hệ thân thiết này trong suốt 13 năm mặc dù đôi bạn này chưa hề gặp mặt và thậm chí còn chưa từng nghe thấy giọng nói của nhau trong khi họ sống trong cùng một thành phố. Năm 1877, cuộc hôn nhân của nhà soạn nhạc nổi tiếng này với Atonina Milyukova thực sự là một thảm hoạ khi nó kéo dài chỉ có vài ngày và kết thúc bằng việc Tchaikovsky trở về với chị của ông tại điền trang ở Kamenta. Sự việc này đã gây chấn động mạnh tới tính cách vốn dĩ đã không ổn định của ông và đẩy ông đến sự suy sụp tinh thần nặng nề. Các bác sỹ đã lo lắng đến nỗi họ khuyên ông phải thay đổi hoàn toàn cách sống của mình và tháng 10 năm đó, ông cùng em trai mình là Anatole đã dời đến Moscow. Cuộc hôn nhân đó đã được giải quyết bằng các thủ tục ly dị.

    Âm nhạc của Tchaikovsky đã thay đổi đáng kể kể từ thời điểm đó. Sự suy sụp về tinh thần và đức tin của Tchaikovsky vào năm 1877 đã được phản ánh một cách thường xuyên trong các tác phẩm đến mức mỗi nốt nhạc đều tràn ngập nỗi thống khổ của ông cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Điều này thể hiện rất rõ trong bản giao hưởng số 4 giọng Fa thứ được viết vào năm 1877 - tác phẩm này ông dành tặng cho Nadezhda von Meck. Tchaikovsky cũng đã đi du lịc một thời gian ở Ý và ở đây ông đã viết xong một vở opera du dương đến lạ thường - vở Eugene Onegin. Vở opera này được công diễn lần đầu tiên vào ngày 29 tháng 3 năm 1879 tại Nhà hát Malyj, Moscow. Lúc đó Tchaikovsky sáng tác rất nhanh, bà Nadezhda von Meck đã hào phóng hỗ trợ ông một khoản tiền hàng năm là 6000 rúp, điều này đã tạo điều kiện cho ông rời khỏi cái nhạc viện đáng sợ đó và bắt đầu một cuộc sống xa hoa ở Moscow và những chuyến du lịch hết đến Pháp lại đến Ý. Cuộc sống thường nhật của Tchaikovsky lúc này không có gì đặc biệt như những thành công về mặt chuyên môn trong các sáng tác của ông. Trong suốt 15 năm còn lại của cuộc đời, ông đã sáng tác được thêm 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc: bản số 2 giọng Son trưởng, Op.44 (1879 - 1880) và số 3 giọng Mi giáng trưởng, Op. 75 (1893), một bản concerto tuyệt vời cho violin và dàn nhạc giọng Rê trưởng, Op. 35 (1878) và một tam tấu đàn dây giọng La thứ, Op. 50 - tác phẩm này đề tặng Nikolai Rubinstein.

    Nhiều nhà phê bình cho rằng vở opera hay nhất của ông là vở The Queen of Spades (Con đầm bích) được sáng tác vào năm 1890 theo chủ đề Định mệnh mà ông yêu thích (tuy rằng trên thực tế thì Eugene Onegin vẫn được yêu thích hơn), được nhấn mạnh một cách ấn tượng bằng các giai điệu lặp lại mạnh mẽ. Tuy nhiên thời kỳ này tác phẩm xuất sắc nhất của ông là các tác phẩm viết cho dàn nhạc gồm có: 4 tổ khúc (trong đó tổ khúc thứ 4 Mozartina là một chuyển soạn); Capriccio Italien, Op.45 (1880); Overture 1812 Op. 49 vĩ đại (1880); thơ giao hưởng Manfred, Op. 58 (1885) và giao hưởng số 5 giọng Mi thứ, Op.64 (1888). Vở ballet nổi tiếng The Sleeping beauty (Người đẹp ngủ) được sáng tác vào năm 1890, sau đó là một vở ballet khác The Nutcracker (Kẹp hạt dẻ), Op.71 (1891 - 1892) duyên dáng nhưng cũng chỉ là một vở ballet tương tự như hai vở trước đó là The Swan Lake và The Sleeping beauty. Tuy nhiên, trong khi nét trữ tình, chậm rãi của hai vở ballet trước chỉ thường xoay quanh sự sướt mướt, uỷ mị thì vở ballet The Nutcracker này đã hoàn toàn tránh được nguy cơ đó, với một chủ đề cho phép Tchaikovsky có thể thể hiện khả năng mô tả tính cách bằng âm nhạc (tiến gần đến sự lố bịch) ở mức tự tin chói sáng nhất. Âm nhạc của Tchaikovsky dành cho vở ballet này cho thấy một tầm ảnh hưởng đáng ngạc nhiên của các sáng tác khí nhạc và sự phối âm đã đạt tới đỉnh cao trong trích đoạn “Waltz of flowers” (điệu Waltz của các loài hoa) đầy xúc động. Chủ đề Định mệnh đã quay trở lại một lần nữa trong bản giao hưởng số 6 “Pathétique” được sáng tác vào năm 1893 - tác phẩm vĩ đại và mang nhiều khát vọng nhất của ông. Trong một lá thư gửi cho cháu trai của mình Vladimir Davidov (‘Bob’) viết vào tháng 2 năm 1893, khi đang sáng tác bản giao hưởng này, Tchaikovsky đã viết: “Chú ước rằng mình có thể diễn tả hết được tâm trạng vui sướng mà chú đã gửi gắm vào trong tác phẩm mới này. Cháu sẽ hồi tưởng thấy vào một mùa thu, chú đã huỷ đi cái phần hay nhất trong bản giao hưởng mà chú vừa hoàn thành. Chú đã đúng khi bỏ nó đi vì nó chỉ là một ngón nghề, một bí quyết không mấy giá trị, một sự phô diễn trống rỗng của những nốt nhạc không chứa đựng nguồn cảm hứng thực sự. Thật tuyệt, trong suốt chuyến đi của chú tới Paris, chú đã có ý tưởng cho một bản giao hưởng mới dựa trên một chủ đề mà chú ước rằng không ai biết về nó, một chủ đề đã được giữ bí mật kỹ đến mức không ai có thể khám phá ra nó thậm chí ngay cả khi họ đã vắt óc ra để tưởng tượng. Khi nó được công diễn, chương trình này sẽ dần dần truyền tải những cảm giác riêng tư nhất của chú. Trong chuyến đi, khi phác hoạ bản giao hưởng trong đầu, chú đã hơn một lần phải bật khóc, cứ như thể bị rơi vào tình trạng tuyệt vọng hoàn toàn. Trên đường trở về, chú đã bắt đầu viết và miệt mài đến mức chú đã viết xong phần đầu trong chưa đầy 4 ngày và các phần khác đã được định hình rõ nét trong đầu chú. Về nhiều khía cạnh, bản giao hưởng này rất khác thường. Ví dụ, chương cuối là một nhịp adagio chậm thay vì nhịp allegro ầm ĩ. Cháu không thể hình dung được chú hạnh phúc như thế nào khi biết rằng chú chưa hề kết thúc, rằng chú vẫn còn có thể sáng tạo”.

    Tchaikovsky đã chỉ huy buổi công diễn lần đầu tiên bản “Pathétique” này ở St Peterburg vào ngày 28 tháng 10 năm 1893 trong khi bệnh dịch tả đang hoành hành tại thành phố này. Một vài ngày sau, trong khi ăn tối cùng vài người bạn tại một nhà hàng, ông đã uống một cốc nước sông Neva (có thể đây là chủ ý của ông). Và ông đã chết trong sự đau đớn vào ngày mùng 6 tháng 11.


    Danh mục tác phẩm của Peter Ilyich Tchaikovsky



    A.Sắp xếp theo thể loại

    Ballet

    Swan Lake, Op. 20 (1875–1876)
    Sleeping Beauty, Op. 66 (1888–1889)
    The Nutcracker, Op. 71 (1891–1892)


    Opera

    - Voyevoda (Воевода – The Voivode, Op. 3, 1867 – 1868)
    - Undina (Ундина or Undine, 1869)
    - The Oprichnik (Опричник, 1870–1872)
    - Vakula the Smith (Кузнец Вакула – Kuznets Vakula), Op. 14, 1874;
    - Eugene Onegin (Евгений Онегин – Yevgeny Onegin), Op. 24, 1877–1878
    - The Maid of Orleans (Орлеанская дева – Orleanskaya deva), 1878–1879
    - Mazeppa (Мазепа), 1881–1883
    - Cherevichki (Черевички; revision of Vakula the Smith) 1885
    - The Enchantress (or The Sorceress, Чародейка – Charodeyka), 1885–1887
    - The Queen of Spades (Пиковая дама - Pikovaya dama), Op. 68, 1890
    - Iolanta (Иоланта – Iolanthe), Op. 69, 1891

    Giao hưởng


    - Symphony No. 1 in G minor, Op. 13, Winter Daydreams (1866)
    - Symphony No. 2 in C minor, Op. 17, Little Russian (1872)
    - Symphony No. 3 in D major, Op. 29, Polish (1875)
    - Symphony No. 4 in F minor, Op. 36 (1877-1878)
    - Manfred Symphony, B minor, Op. 58. Inspired by Byron's poem Manfred. (1885)
    - Symphony No. 5 in E minor, Op. 64 (1888)
    - Symphony No. 7, xem Piano Concerto No. 3)
    - Symphony No. 6 in B minor, Op. 74, Pathétique (1893)

    Concerto

    - Piano Concerto No.1 (b-flat Minor) 1874–1875
    - Violin Concerto (D Major) 1878
    - Piano Concerto No.2 (G Major) 1879
    - Piano Concerto No. 3 (E flat Major) 1892

    Những tác phẩm thể loại khác

    Tác phẩm cho dàn nhạc :

    - Romeo and Juliet Fantasy Overture (1869 revised 1870, 1880)
    - The Tempest Symphonic Fantasia After Shakespeare, Op. 18 (1873)
    - Slavonic March/Marche Slave, Op. 31 (1876)
    - Francesca da Rimini, Op. 32 (1876)
    - Capriccio Italien, Op. 45 (1880)
    - Serenade in C for String Orchestra, Op. 48 (1880)
    - 1812 Overture, Op. 49 (1880)

    Tác phẩm hợp xướng, ca khúc, nhạc thính phòng, độc tấu violon và piano :

    - String Quartet No. 1 in D major, Op. 11 (1871)
    - Variations on a Rococo theme for cello and orchestra, Op. 33 (1876)
    - Piano suite The Seasons, Op. 37b (1876)
    - Three pieces: Meditation, Scherzo and Melody op. 42, for violin and piano
    - Piano trio in A minor, Op. 50 (1882)
    - Dumka, Russian rustic scene in C minor for piano, Op. 59 (1886)
    - String sextet Souvenir de Florence, Op. 70 (1890)

    B.Sắp xếp theo số Opus

    Op.1
    Two Pieces, Piano
    Op.2
    Souvenir de Hapsal, Piano
    Op.3
    The Voyevoda, Opera
    Op.4
    Valse caprice, Piano (D Major)
    Op.5
    Romance, Piano (f Minor)
    Op.6
    Six Songs
    Op.7
    Valse-scherzo, Piano (A Major)
    Op.8
    Capriccio, Piano (G-flat Major)
    Op.9
    Trois Morceaux, Piano
    Op.10
    Deux Morceaux, Piano
    Op.11
    String Quartet No.1 (D Major)
    Op.12
    The Snow Maiden, Incidental Music
    Op.13
    Symphony No.1 (G Minor) ("Winter Daydreams")
    Op.15
    Festival Overture (D Major)
    Op.16
    Six Songs
    Op.17
    Symphony No.2 (c Minor) ("Little Russian")
    Op.18
    The Tempest, Symphonic Fantasia (f Minor)
    Op.19
    Six Morceaux, Piano
    Op.20
    Swan Lake, Ballet
    Op.21
    Six Morceaux, composés sur un seul thème, Piano
    Op.22
    String Quartet No.2 (F Major)
    Op.23
    Piano Concerto No.1 (b-flat Minor)
    Op.24
    Eugene Onegin (Opera)
    Op.25
    Six Songs
    Op.26
    Sérénade mélancolique, Vln, Orch. (b Minor)
    Op.27
    Six Songs
    Op.28
    Six Songs
    Op.29
    Symphony No.3 (D Major) ("Polish")
    Op.30
    String Quartet No.3 (e-flat Minor)
    Op.31
    Slavonic March, Orch. (B-flat Major)
    Op.32
    Francesca da Rimini, Symphonic Fantasia (e Minor)
    Op.33
    Variations on a Rococo Theme, Cello, Orch. (A Major)
    Op.34
    Valse-scherzo, Vln, Orch. (C Major)
    Op.35
    Violin Concerto (D Major)
    Op.36
    Symphony No.4 (f Minor)
    Op.37
    Piano Sonata (G Major)
    Op.37b
    Les Saisons, Piano
    Op.38
    Six Songs
    Op.39
    Album pour Enfants: 24 pièces faciles (à la Schumann), Piano
    Op.40
    Douze Morceaux (difficulté moyenne), Piano
    Op.41
    Liturgy of St. John Chrysostom, unaccompanied Chorus
    Op.42
    Souvenir d'un lieu cher, Vln., Piano
    1. Méditation (d Minor)
    2. Scherzo (c Minor)
    3. Mélodie (E-flat Major)
    Op.43
    Suite No.1, Orch. (D Major)
    Op.44
    Piano Concerto No.2 (G Major)
    Op.45
    Capriccio Italien, Orch. (A Major)
    Op.46
    Six Duets
    Op.47
    Seven Songs
    Op.48
    Serenade, Str. (C Major)
    Op.49
    1812, Festival Overture (E-flat Major)
    Op.50
    Piano Trio (a Minor)
    Op.51
    Six Morceaux, Piano
    Op.52
    Vesper Service, unaccompanied Chorus
    Op.53
    Suite No.2, Orch. (C Major)
    Op.54
    Sixteen Childrens Songs
    Op.54/5
    Legend, unaccompanied Chorus (arrangement of a solo song)
    Op.55
    Suite No.3, Orch. (G Major)
    Op.56
    Concert Fantasia, Piano, Orch. (G Major)
    Op.57
    Six Songs
    Op.58
    Manfred, Symphony (b Minor)
    Op.59
    Dumka: Russian rustic Scene, Piano (c Minor)
    Op.60
    Twelve Songs
    Op.61
    Suite No.4, Orch. (G Major) ("Mozartiana")
    Op.62 Pezzo capriccioso, Cello, Orch. (b Minor)
    Op.63
    Six Songs
    Op.64
    Symphony No.5 (e Minor)
    Op.65
    Six Songs
    Op.66
    Sleeping Beauty, Ballet
    Op.67
    Hamlet, Fantasy Overture (f Minor)
    Op.67a
    Hamlet, Incidental Music
    Op.68
    The Queen of Spades, Opera
    Op.69
    Iolanta, Opera
    Op.70
    Souvenir de Florence, Str. Sextet (D Major)
    Op.71
    The Nutcracker, Ballet
    Op.71a
    The Nutcracker, Suite from the Ballet
    Op.72
    Dix-huit morceaux, Piano
    Op.73
    Six Songs
    Op.74
    Symphony No.6 (b minor) ("Pathétique")
    Op.75
    Piano Concerto No.3 (E-flat Major)
    (1. movement also called "Allegro de concert" or "Konzertstück")
    Op.76
    The Storm, Overture (E Major)
    Op.77
    Fate, Symphonic Poem (c Minor)
    Op.78
    The Voyevoda, Symphonic Ballad (a Minor)
    Op.79
    Andante, Finale, Piano, Orch. (B-flat Major, E-flat Major), unfinished
    Op.80
    Piano Sonata (c-sharp Minor)



    Tổ khúc “Bốn mùa”




    “Bốn mùa” (“Времена года") là tên một tổ khúc gồm 12 tiểu phẩm viết cho cho piano Op. 37b của nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky.

    "Bốn mùa" của Tchaikovsky – một kiểu nhật ký bằng âm nhạc độc đáo của nhạc sĩ, ghi lại những những bức tranh thiên nhiên, những mảnh cuộc sống và những cuộc gặp gỡ làm ông xúc động. Sau này M.I. Tchaikovsky, em ruột nhạc sĩ, nhớ lại: “Hiếm có người yêu cuộc sống như Peter Ilyich. Mỗi ngày đều có ý nghĩa riêng biệt đối với ông, và cứ mỗi ngày trôi qua ông lại cảm thấy buồn với ý nghĩ mọi điều ông từng trải qua trong ngày hôm đó đã trở thành quá khứ mà không để lại một dấu vết nào”. Tổ khúc “Bốn mùa” là một trong những tuyệt tác âm nhạc của Tchaikovsky tràn đầy thi cảm, tình yêu cuộc sống .

    Trong các tiểu phẩm này Tchaikovsky đã vẽ nên những bức tranh phong cảnh với những khoảng không vô biên của những cánh đồng Nga, các phong tục tập quán ở nông thôn, các bức tranh đời sống thị thành ở Peterburg, những cảnh sinh hoạt âm nhạc của người dân Nga thời kỳ đó.

    Tác phẩm của Tchaikovsky được xuất bản với 12 đề từ, là những bài thơ nhỏ của các thi sĩ Nga:



    Bên lò sưởi - Tháng giêng

    A.C. Pushkin


    “Màn đêm êm ái buông
    Trên góc nhỏ thanh bình
    Lò sưởi dần lụi tắt
    Mặc cây nến lung linh”.


    Lễ Tiễn mùa đông - Tháng hai


    P.A. Viazemski

    “Lễ Tiễn mùa đông sắp đến rồi
    Tưng bừng bàn tiệc mở khắp nơi”.


    Chim sơn ca - Tháng ba

    A.N. Maikov


    “Ngoài đồng hoa dại lả lơi,
    Nắng vàng sóng sánh khắp bầu trời,
    Chim sơn ca báo xuân đến sớm
    Lảnh lót trong màu xanh chơi vơi”.



    Hoa xuyên tuyết - Tháng tư

    A. N. Maikov


    “Nở xanh nhạt mỏng manh
    Hoa xuyên tuyết - nhẹ như làn gió
    Thoáng qua vừa đủ
    Thổi bay bông tuyết cuối cùng.
    Giọt lệ cuối cho khổ đau dĩ vãng.
    Hoa bẽn lẽn ước mơ
    Về hạnh phúc đang chờ...”


    Đêm trắng - Tháng năm

    A.A. Fet


    “Đêm đẹp sao! Vạn vật đều hạnh phúc!
    Cảm ơn người, miền đất trắng nửa đêm!
    Từ vương quốc của giá băng, bão tuyết
    Tháng năm về trong veo, lồng ngực căng tràn!”


    Khúc hát người chèo thuyền - Tháng sáu

    A.N. Plesheev


    Nào ta lên bờ thôi,
    Dưới chân ta những con sóng nhỏ
    Đang chờ dịu dàng hôn.
    Và trên đầu ta chỉ còn
    Những vì sao buồn bí hiểm


    Bài ca cắt cỏ - Tháng bảy

    A.V. Koltsov


    Thôi nào hãy vươn vai,
    Thôi nào dang thẳng cánh
    Làn gió giữa trưa ơi,
    Phả hương cỏ nồng nàn vào mặt!


    Mùa gặt - Tháng tám

    A.V. Koltsov


    “Trên đồng cả nhà ta vung hái
    Cắt ngang thân lúa mạch cao cao!
    Từng bông nặng trĩu hạt
    Xếp thành lượm đi nào!
    Rồi thâu đêm suốt sáng
    Vang tiếng xe về làng”


    Đi săn - Tháng chín

    A.S.Pushkin


    “Lên đường, lên đường, tiếng tù và vang vang:
    Người và chó sẵn sàng;
    Mới hửng sáng người đã trên lưng ngựa
    Lũ chó kéo căng dây cương”



    Bài ca mùa thu - Tháng mười

    A.K. Tolstoi


    “Mùa thu lá rụng khắp vườn nghèo
    Nhuộm vàng cả gió cuốn bay theo...”



    Trên xe tam mã - Tháng mười một

    N.A.Nhecrasov


    “Đừng nhìn đường rầu rĩ thế em yêu,
    Đừng cúi nhìn vết xe tam mã.
    Trước con đường vạn dặm
    Em đừng mang theo nỗi khắc khoải trong tim.”



    Hội mùa đông - Tháng chạp

    N.A.Nhecrasov


    “Chiều muộn Hội mùa đông
    Đám con gái má hồng
    Cởi giầy ném ra ngõ
    Xem hướng đi lấy chồng.”



    Sự xuất hiện của các tiểu phẩm “Bốn mùa" có liên quan trực tiếp đến quan hệ của Tchaikovsky với gia đình Bernard, những người chuyên nghề xuất bản nhạc phẩm và tạp chí “Nouvellist” của họ. Tạp chí được thành lập năm 1842. Người chủ gia đình là Matvei Ivanovich Bernard (1794-1871), người sáng lập công ty xuất bản âm nhạc và tạp chí “Nouvellist”, đồng thời cũng là một nhạc công piano kiêm nhà soạn nhạc. Người thừa kế và nối tiếp sự nghiệp của ông là con trai Nikolai Matveevich (1844-1905), cũng là một nhạc công nổi tiếng, và tổng biên tập tạp chí là Alexander Ivanovich(1816-1901), em ruột ông Matvei, cũng là một nhạc công kiêm nhà soạn nhạc nổi tiếng. Tạp chí “Nouvelist” giới thiệu với công chúng các tác phẩm mới của các nhà soạn nhạc Nga, các nhạc công nghiệp dư và cả các tác phẩm nước ngoài. Ngoài các bản ký âm, tạp chí còn giới thiệu các thông tin liên quan đến cuộc sống âm nhạc của nước Nga, Tây Âu và Mỹ. Tchaikovsky cộng tác với “Nouvellist” từ năm 1873 với một vài bản romance.

    Lý do Tchaikovsky sáng tác các tiểu phẩm “Bốn mùa” có lẽ là bức thư đặt hàng của chủ bút tạp chí “Nouvellist” N.M. Bernard (ngày nay không còn giữ được tài liệu này) vào tháng 11 năm 1875. Tuy vậy, nội dung của nó dễ được biết qua bức thư trả lời của nhà soạn nhạc đề ngày 24 tháng 11 năm đó: “Tôi đã nhận được thư của ngài. Tôi rất cảm ơn ngài về số tiền nhuận bút rất cao mà quý báo sẵn sàng trả. Tôi sẽ cố gắng để ngài hài lòng và bản thân không phải xấu hổ. Tôi sẽ gửi cho ngài tiểu phẩm đầu tiên sớm nhất có thể được, mà cũng có thể gửi ngay một lần 2 hoặc 3 tiểu phẩm. Nếu như không có gì trở ngại công việc sẽ kết thúc nhanh chóng: Hiện tôi đang rất có hứng sáng tác các tiểu phẩm cho piano. Tchaikovsky của ngài. Tất cả các đề từ của ngài tôi sẽ giữ lại”. Như vậy ta có thể hiểu tên gọi của các tiểu phẩm - đồng thời cũng là chủ đề các tiểu phẩm đó là do chủ bút tạp chí đề nghị.

    Tạp chí “Nouvellist” số ra tháng 12 năm 1875 đã in thông báo cho các bạn đọc thường xuyên đặt mua tạp chí về việc trong năm tới sẽ xuất bản các tiểu phẩm mới của nhạc sĩ Tchaikovsky và tên các tiểu phẩm tương ứng với mỗi tháng trong năm, hoàn toàn trùng với các nhan đề mà nhà soạn nhạc về sau sẽ viết trong bản thảo viết tay của mình.

    Ta còn lại rất ít thông tin về quá trình sáng tác những tiểu phẩm này, chỉ biết rằng, vào thời điểm bắt đầu làm việc từ cuối tháng 11 năm 1875, Tchaikovsky sống ở Matscơva. Ngày 13 tháng 12 năm 1875 ông viết cho N.M.Bernard: “Sáng sớm nay, mà cũng có thể là từ hôm qua tôi đã gửi cho ông qua bưu điện 2 tiểu phẩm đầu tiên. Tôi gửi chúng cho ông mà không tránh khỏi hồi hộp: có thể ông thấy chúng quá dài và không hay ho gì. Mong ông hãy cho tôi biết các nhận xét thật lòng của ông, để tôi có thể viết các tiểu phẩm tiếp theo có tính đến các nhận xét đó. Nếu như tiểu phẩm thứ 2 chưa đạt, xin ông hãy cho tôi biết. Nếu như ông muốn tôi viết lại "Lễ Phục sinh", xin ông đừng khách sáo, hãy cho tôi biết điều đó và hãy tin rằng tôi sẽ viết cho ông tiểu phẩm khác, đúng hẹn, tức là trước ngày 15 tháng giêng. Ông trả cho tôi khoản nhuận bút lớn khủng khiếp đến mức có quyền đòi hỏi bất cứ sự thay đổi, thêm bớt, rút ngắn hay viết lại"... Các tiểu phẩm đều làm N.M. Bernard thoả mãn, vì chúng đều được xuất bản theo đúng kế hoạch đã định trước và chính xác như bản viết tay của tác giả.

    Các tiểu phẩm "Bốn mùa" khi được xuất bản trên tạp chí "Nouvellist" đều có một thi phẩm nhỏ làm đề từ. Hai trong số đó (tiểu phẩm số 1 và số 3), căn cứ vào nét chữ, được chính N.M. Bernard viết tay vào bản thảo. Ông Bernard vốn là một người rất am hiểu về thi ca và văn học Nga, thậm chí ông cũng sáng tác một vài tác phẩm. Dường như chính ông là tác giả của sáng kiến đưa các đề từ bằng thơ này vào các tiểu phẩm của Tchaikovsky. Nhạc sĩ có biết trước về các đề từ này không, và có cùng với Bernard chọn thơ không, ngày nay chúng ta không được biết, tuy nhiên, các đề từ đó được in trong tất cả các lần xuất bản sau này khi Tchaikovsky còn sống, và điều đó khiến chúng ta có thể tin chắc Tchaikovsky biết và chấp nhận các đề từ đó.

    Nhan đề các tiểu phẩm được định trước, nhưng Tchaikovsky đã chủ động đưa thêm nhan đề phụ -- đó là tiểu phẩm thứ 8 - Mùa gặt, có thêm tên Skerso, còn số 12 - Waltz. Những nhan đề phụ này được giữ nguyên trong các xuất bản phẩm của Bernard, nhưng trong các xuất bản phẩm sau này của P.I. Yurgenson thì không còn nữa. Tên chung của 12 tiểu phẩm "Bốn mùa" xuất hiện vào cuối năm 1876, trong một tuyển tập cả 12 tiểu phẩm, sau khi tất cả các tiểu phẩm đã lần lượt được công bố trên tạp chí "Nouvellist", và sau đó xuất hiện trong tất cả các lần xuất bản sau, với các nhan đề phụ hơi khác nhau.

    Quá trình chuẩn bị cho việc xuất bản các tiểu phẩm trên tạp chí "Nouvellist" bắt đầu vào ngày 13 tháng 12 năm 1875, khi Tchaikovsky gửi đến Peterburg hai tiểu phẩm đầu tiên, căn cứ vào một bức thư của nhà soạn nhạc. Tạp chí ra vào ngày 1 hàng tháng. Các tiểu phẩm của Tchaikovsky mở đầu mỗi số, trừ một ngoại lệ - số tháng 9, vở nhạc kịch của V.I. Glavach mở đầu cho số này. Cũng trong số tháng 9 xuất hiện thông báo tặng cho bạn đọc thường xuyên của tạp chí một tuyển tập tất cả 12 tiểu phẩm của Tchaikovsky. Trên bìa của ấn phẩm này có in 12 tranh nhỏ và nhan đề "Bốn mùa".

    Người ta không còn giữ được chứng cứ về lần lần đầu tiên công diễn trọn vẹn 12 tiểu phẩm, về các buổi công diễn ra mắt từng tiểu phẩm riêng biệt cũng như không giữ được bất kỳ ý kiến phản hồi nào của bạn đọc. Tuy nhiên, chỉ một thời gian rất ngắn sau khi được công bố, tổ khúc "Bốn mùa" đã trở nên rất được ưa chuộng, và sau đó trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhạc Nga dành cho piano.


    “Bên lò sưởi” - Tháng giêng


    Trong những tối mùa đông dài, các gia đình Nga thường tập trung bên lò sưởi. Trong các căn nhà gỗ ở nông thôn đó là nơi phụ nữ làm ren, kéo sợi hay dệt vải, và họ vừa làm vừa hát những bài ca trữ tình buồn buồn. Trong các gia đình quý tộc bên lò sưởi là nơi để các thành viên gia đình đọc sách, trò chuyện và chơi nhạc. Tiểu phẩm “Bên lò sưởi” vẽ nên một bức tranh nhỏ với tâm trạng mơ mộng và man mác buồn.

    Phần đầu của tiểu phẩm xây dựng trên một chủ đề (theme) rất gợi cảm, gần như ngữ điệu của giọng người. Nó vang lên giống như những lời trò chuyện ngắn, chậm rãi, với những khoảng dừng và trong tâm trạng ưu tư trầm ngâm sâu lắng. Trạng thái tình cảm này có thể thấy trong những bức thư của Tchaikovsky: “Đó là cái tình cảm buồn trầm tư thường xuất hiện vào buổi tối, khi người ta ngồi một mình cô đơn, mệt mỏi vì những công việc ban ngày. Muốn cầm lấy cuốn sách mà sách cứ tự rơi khỏi tay lúc nào. Những hồi tưởng bất tận tràn về. Và buồn vì ta đã trải qua nhiều thế, nhưng tất cả đã trở thành quá khứ. Hồi tưởng về thời thanh xuân thật dễ chịu. Và tiếc nuối về quá khứ, và không còn muốn bắt đầu lại cuộc đời mình. Cuộc sống làm ta mệt mỏi. Phút nghỉ ngơi để nhìn lại quá khứ thật dễ chịu. Ta cảm thấy nỗi buồn nhẹ nhàng và thật ngọt ngào khi chìm vào những hồi tưởng về quá khứ”.

    Phần hai của tiểu phẩm sôi nổi hơn, nhưng cũng dựa trên những motive ngắn với những nét lướt (passage) gợi nhớ đến tiếng ngân rung của đàn harp. Phần ba trở lại giống với phần một với sự bổ sung và kết thúc cả tiểu phẩm với giai điệu lặng dần một cách rất riêng, vẫn với tiếng ngân của đàn harp. Âm nhạc như tan dần và bức tranh cảm xúc cũng dần dần biến mất.


    "Lễ Tiễn mùa đông" - Tháng hai


    Lễ Tiễn mùa đông, hay còn gọi là tuần Tiễn mùa đông, là tuần lễ hội diễn ra trước Tuần Đại trai. Trong tuần Tiễn mùa đông người ta tổ chức vui chơi tưng bừng với các trò chơi vui tưởng như không còn giới hạn, những cuộc dạo chơi trên xe ngựa và nhiều thú vui khác nữa. Nhà nhà làm bánh tráng blin, món ăn đã bén rễ trong cuộc sống của người Nga từ thuở xa xưa. Lễ hội Tiễn mùa đông trộn lẫn những nét riêng của nghi thức tiễn mùa đông của đa thần giáo sơ khai và phong tục đón mùa xuân của Thiên chúa giáo, diễn ra trước tuần Đại trai và lễ hội tôn giáo tiếp theo sau Đại trai là lễ Phục sinh.

    Lễ Tiễn mùa đông là bức tranh du xuân, những thời điểm náo nhiệt nhất của cuộc vui trong tiếng nhạc rộn ràng của đám đông đang đi dạo, vang vọng tiếng các nhạc cụ truyền thống. Tiểu phẩm như sự tổng hợp các bức tranh nhỏ, một kiểu kính vạn hoa trong đó các hoạt cảnh liên tiếp thay đổi cho nhau, nhưng luôn luôn quay lại chủ đề đầu tiên. Với nhịp điệu như ngắt quãng, hơi thô nhám, Tchaikovsky vẽ nên một bức tranh với những tiếng reo hò vui sướng của đám đông, tiếng giậm chân nhảy múa của những người diện các bộ cánh lễ hội, các trận cười bùng nổ và lẫn trong đó cả tiếng thì thầm bí mật. Âm nhạc vẽ nên một lễ hội dân gian rực rỡ sắc màu.


    "Chim sơn ca" - Tháng ba


    Chim sơn ca là loại chim sống trên đồng nội, ở Nga chúng được coi như con chim vui báo hiệu mùa xuân. Tiếng hót của nó gắn với mùa xuân đến, vạn vật bừng tỉnh khỏi giấc ngủ đông dài để bắt đầu một cuộc sống mới. Bức tranh phong cảnh Nga được vẽ bằng những hình ảnh rất đơn giản, nhưng vô cùng gợi cảm.

    Cơ sở của tiểu phẩm này là hai chủ đề: giai điệu trữ tình đệm bằng hợp âm (accord) rất khiêm tốn, và chủ đề thứ hai, cũng tương tự như vậy, nhưng với những hơi thở phóng khoáng và những cú thăng hoa cao vút. Hai chủ đề gắn kết và trộn lẫn với nhau một cách rất hài hoà, thể hiện rất nhiều sắc thái tình cảm – mơ mộng, buồn và tươi sáng. Sự hoà trộn hài hoà và phổ rộng cảm xúc như vậy mang lại sức quyến rũ của cả tiểu phẩm. Cả hai chủ đề có chung những yếu tố gợi nhớ đến tiếng hót rung vang của chim sơn ca trong bài hát mừng xuân của nó. Chủ đề đầu tiên như một cách tạo khung đóng cho chủ đề thứ hai, phát triển rộng hơn. Tiểu phẩm chấm dứt bằng âm hưởng tiếng hót chim sơn ca dần tắt.


    "
    Hoa xuyên tuyết " – Tháng tư


    Người Nga gọi loại hoa đồng nội nở rất sớm vào mùa xuân, ngay khi tuyết vừa bắt đầu tan, là hoa xuyên tuyết. Nó mong manh nở tím nhạt hay trắng ngay sau những cơn lạnh tê tái của mùa đông vừa chấm dứt, thiên nhiên như không còn sức sống. Đó là loại hoa đồng nội rất được yêu chuộng ở Nga, nó được coi như biểu tượng của sự hồi sinh trong thiên nhiên, và trở thành đề tài cho rất nhiều các nhà thơ Nga.

    Tiểu phẩm “Hoa xuyên tuyết” mang nhịp điệu như một bản waltz, toàn bộ tác phẩm thể hiện những cao trào của cảm xúc. Đó là nỗi xúc động trước sự hồi sinh của vạn vật khi xuân đến, cùng với nó là hy vọng lạc quan giấu kín tận đáy sâu tâm hồn về tương lai, và sự chờ đợi điều gì chưa rõ.

    Tiểu phẩm chia làm ba phần. Phần đầu và phần ba lặp lại nhau, nhưng phần thứ hai cũng không có một sự tương phản về hình tượng rõ rệt, nó chỉ khác các phần khác ở sự thay đổi trạng thái tình cảm, chính xác hơn là các sắc thái tinh tế của một cảm xúc mà thôi. Cao trào cảm xúc trong phần kết của tác phẩm được duy trì đến tận nốt nhạc cuối cùng.


    "Những đêm trắng" - Tháng năm


    Đêm trắng là cách gọi các đêm tháng năm ở miền Bắc Nga, nơi mà trong tháng này đêm cũng sáng gần như ngày. Những đêm trắng ở Peterburg, thủ đô Nga, luôn luôn được kỷ niệm với những cuộc dạo đêm đầy chất thơ và tràn đầy tiếng hát. Hình ảnh những đêm trắng được rất nhiều hoạ sĩ thể hiện trên các tác phẩm của mình, và được ngợi ca không kém trong thi ca. Nhà văn vĩ đại Fedor Dostoevsky có một tiểu thuyết nhan đề "Những đêm trắng".

    Âm nhạc trong tiểu phẩm này thể hiện sự thay đổi rất phức tạp của các tâm trạng hoàn toàn trái ngược: những suy tư đắng cay được thay dần bởi những phút lặng ngọt ngào của tâm hồn ngập tràn trong cảm phục trước khung cảnh thiên nhiên hiếm có, đầy chất lãng mạn trong thời kỳ đêm trắng. Tiểu phẩm gồm hai phần mở đầu và kết, đó là bức tranh phong cảnh bằng âm nhạc, và hình tượng chủ đạo của nó là những đêm trắng. Phần mở đầu bao gồm những giai điệu ngắn, như nhịp thở, gợi cho ta nhớ đến cái tĩnh lặng trên đường phố Peterburg vào những đêm trắng, đến tâm trạng cô đơn, đến ước mơ hạnh phúc. Phần thứ hai tâm trạng có đôi chút đổi khác, trở nên thiết tha hơn, và ngắt quãng hơn, những tình cảm dâng trong tâm hồn đến cao trào, đến mức trở thành hân hoan mừng vui. Sau phần thứ hai này là một bước chuyển ngắn sang phần kết, khép lại cả tiểu phẩm. Tâm trạng trở lại ôn hoà, và trước thính giả bức tranh những đêm trắng miền bắc trong thành phố Peterburg với vẻ đẹp thâm nghiêm lại dần hiện ra.

    Tchaikovsky rất gắn bó với Peterburg. Tại đây ông đã trải qua thời niên thiếu, được công nhận là một nhạc sĩ, chính nơi đây ông sống qua những phút giây thành công trong sự nghiệp, và cũng chính tại đây ông đã giã từ cuộc sống. Phần mộ của ông cũng ở đây.


    "Khúc hát người chèo thuyền" - Tháng sáu


    Barcarola là một từ tiếng Italia chỉ khúc hát của người chèo thuyền trong âm nhạc dân gian. Các khúc ca này đặc biệt thịnh hành ở Venise, thành phố trên bờ những con kênh, và phương tiện giao thông chính là những con thuyền đặc chủng đi lại trên các con kênh này trong giai điệu trầm bổng rất đặc trưng của các bài hát. Nhịp điệu và nhạc đệm của chúng mô phỏng những động tác chèo nhịp nhàng và tiếng mái chèo khua nước. Các bài hát này trở nên rất phổ biến trong nền âm nhạc Nga đầu thế kỷ XIX, và trở thành một phần không thể thiếu của thanh nhạc trữ tình Nga, đi vào thi ca Nga và cả hội hoạ.

    "Khúc hát người chèo thuyền" là một tiểu phẩm nữa vẽ nên phong cảnh Peterburg trong tổ khúc "Bốn mùa". Thậm chí ngay cả tên gọi của nó cũng làm người ta nhớ đến những con kênh đào và những dòng sông của Thủ đô phương Bắc.

    Giai điệu phóng khoáng của phần đầu tiểu phẩm vang lên ấm áp và gợi cảm, khiến người nghe như cảm thấy dường như cũng bị "lắc lư" theo nhạc đệm gợi nhớ đến tiếng ngân của ghita và măng đô lin trong các bản barcarola truyền thống. Phần tiếp theo tâm trạng thể hiện trong âm nhạc trở nên vui tươi hơn và vô lo hơn, người nghe dường như thấy cả những nhịp chèo khua nước nhanh và vang. Nhưng rồi sau đó tất cả lại trở về bình ổn, và giai điệu rất đẹp, khiến người ta cảm thấy yên lòng, cùng với phần đệm có cả giọng thứ réo rắt. Dường như đó là hai giọng song ca. Tiểu phẩm kết thúc bằng những nốt nhạc tắt dần - con thuyền đã đi xa, và cùng với nó những giọng ca cùng với tiếng sóng vỗ cùng dần tắt.


    "Bài ca cắt cỏ" - Tháng bảy


    Những người cắt cỏ phần lớn là đàn ông, ra đồng cắt cỏ từ mờ sương. Bằng những động tác vung tay nhịp nhàng đều đặn, và thường là theo đúng nhịp một bài dân ca lao động nào đó mà người ta thường hát trong khi làm việc. Những bài dân ca như thế tồn tại ở nông thôn Nga từ xa xưa. Người ta hát trong khi cắt cỏ rất đều và vui. Công việc cắt cỏ cũng là một đề tài quen thuộc trong nghệ thuật Nga. Nhiều thi sĩ, hoạ sĩ đã sáng tác về đề tài này. Còn các bài hát dân ca thì vô số.

    "Bài ca cắt cỏ" là một bức tranh bằng nhạc về cuộc sống lao động ở nông thôn. Giai điệu chủ đạo chứa những yếu tố gợi nhớ đến các bài dân ca. Tiểu phẩm gồm ba phần, về tính chất chung khá giống nhau. Phần đầu và phần cuối về bản chất đúng là bài ca của người nông dân cắt cỏ, cánh tay vung hái nhịp nhàng, mạnh mẽ, hát vang bài ca vui vẻ tràn đầy nghị lực, một bài hát có giai điệu và nhịp điệu rõ ràng. Trong phần thứ hai xuất hiện những hợp âm thoáng qua, có đôi chút gợi nhớ đến âm thanh của những nhạc cụ truyền thống của Nga. Đoạn kết trên nền bè đệm bài ca của người cắt cỏ vang lên một lần nữa, dường như anh ta đã trở lại với công việc của mình thật sung sức sau một khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn.

    Tchaikovsky rất yêu mùa hè ở nông thôn, ông viết trong một bức thư: “Vì sao thế? Vì sao một cảnh rất bình thường trong đời sống của người Nga, vì sao một cuộc dạo chơi mùa hè ở nông thôn Nga trên những cánh đồng, trong những khoảng rừng, trên thảo nguyên... thường gợi nên trong tôi những cảm xúc như thể tôi đang nằm dài trên mặt đất trong một tình trạng gần như bất lực vì làn sóng tình yêu thiên nhiên đang tràn đến”


    "Mùa gặt" - Tháng tám



    Mùa gặt là mùa thu hoạch lúa mì chín trên đồng. Mùa gặt trong cuộc sống của nông dân Nga là một thời gian cực kỳ quan trọng. Cả gia đình làm việc cật lực ngoài đồng từ sáng sớm đến tối mịt, và tất nhiên không thể thiếu các bài hát.

    “Mùa gặt” là một bức tranh lớn về cuộc sống nông thôn. Trong bản thảo của mình nhạc sĩ có viết thêm “skerso”. Thực tế, đó là một tiểu phẩm mở dành cho piano vẽ nên một bức tranh hoàn mỹ về cuộc sống đời thường của người nông dân. Trong đó ta thấy sự nhộn nhịp, cao trào đặc trưng của một công việc tập thể rất lớn của những người nông dân.

    Ở đoạn hai, bức tranh lao động được thay thế bằng bức tranh phong cảnh nông thôn trữ tình, đặc trưng cho phong cảnh miền Trung Nga, nơi đang diễn ra cảnh gặt hái. Và âm nhạc trong đoạn này khiến người ta liên tưởng đến những dòng viết của nhạc sĩ: “Tôi không thể diễn tả hết sức quyến rũ của nông thôn và phong cảnh Nga đối với bản thân mình”


    "Đi săn" - Tháng chín



    Đi săn là từ chỉ hoạt động kinh tế - việc săn bắt các con thú hoang, nhưng từ “đi săn” trong tiếng Nga lại có chung gốc với từ chỉ nguyện vọng, ước muốn, sự tự nguyện, lòng khát khao một cái gì đó. Săn bắn là một chi tiết cũng rất đặc trưng của cuộc sống Nga thế kỷ XIX, và là đề tài của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật lớn. Ta có thể nhắc đến những trang viết mô tả cảnh đi săn trong nhiều tác phẩm của L. Tolstoi, trong các truyện vừa và truyện ngắn của Turgenev, những bức tranh của các hoạ sĩ Nga. Đi săn ở Nga luôn là lĩnh vực của những con người khát khao, mạnh mẽ, say mê, thường một cuộc săn diễn ra hết sức ồn ào, vui vẻ, với tiếng tù và và rất nhiều chó. Đi săn trong các trang ấp của giới quý tộc thế kỷ XIX thường được tổ chức vào mùa thu, và nó không còn đơn thuần là hoạt động kinh tế, mà đã mang nặng tính giải trí, đòi hỏi những người tham gia lòng dũng cảm, sức mạnh, sự khéo léo, tính cách sôi nổi và sự nhiệt tình.


    "Bài ca mùa thu" - Tháng mười


    Mùa thu ở Nga là mùa được ca ngợi và mô tả nhiều nhất trong văn học nghệ thuật. Các nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ và nhạc sĩ có vô vàn các tác phẩm về đề tài này. Nó thể hiện vẻ đẹp hiếm có của phong cảnh thiên nhiên Nga được mùa thu khoác cho bộ cánh vàng lộng lẫy, xen lẫn với vô vàn các sắc màu khác. Nhưng cũng có những thời điểm thu hoàn toàn khác – mùa buồn, bởi đó là mùa chết của thiên nhiên, gắn liền với nỗi buồn về mùa hè đã qua, mà mùa hè là biểu tượng của cuộc sống. Cái chết của vạn vật vào thời điểm trước khi mùa đông tới là một trong những trang buồn nhất, bi thảm nhất trong mùa thu.

    “Bài ca mùa thu” chiếm một vị trí hết sức đặc biệt trong tổ khúc. Bởi màu sắc bi kịch của mình, nó trở thành trung tâm, thành đoạn tổng kết tất cả mọi điều đã được kể về cuộc sống Nga và thiên nhiên Nga. Tháng mười với “Bài ca mùa thu” là bài ca về cái chết của thiên nhiên, của sự sống.Trong giai điệu tràn đầy những nốt buồn, như những tiếng thở dài. Đoạn hai xuât hiện đôi chỗ cao trào, như sự thể hiện hy vọng vào cuộc sống và cuộc vật lộn để tự bảo vệ mình. Nhưng phần ba, nhắc lại phần đầu, trở lại với những tiếng thở dài buồn bã, và kết thúc bằng sự héo tàn vô vọng, cái chết trọn vẹn.

    Dòng nhạc cuối cùng của tiểu phẩm được tác giả viết “morendo” - tức là “chết lịm”, không còn một hy vọng nhỏ nhoi nào cho sự hồi sinh, cho sự xuất hiện cuộc sống mới. Toàn thể tiểu phẩm giống như một bức phác thảo trữ tình tâm lý, trong đó phong cảnh và tâm trạng con người đã hoà nhập làm một. Nhạc sĩ đã viết: “Ngày ngày tôi đi dạo rất xa, cố tìm cho mình một góc nhỏ ấm áp trong rừng và tận hưởng bầu không khí thu tràn ngập mùi lá rụng, sự yên tĩnh và cái quyến rũ của phong cảnh mùa thu với những sắc màu đặc trưng của nó”.


    "Trên xe tam mã" - Tháng mười một


    Xe tam mã là loại xe thường thấy ở Nga với ba con ngựa đóng chung một ách. Nó thường được trang trí bằng những cái chuông nhỏ, reo vui theo nhịp xe chạy, tiếng trong như tiếng bạc. Người Nga rất thích các cuộc dạo chơi trên xe tam mã, và đó là đề tài cho không ít các bài hát dân ca. Sự xuất hiện của tiểu phẩm “Trên xe tam mã” thường được đánh giá như niềm hy vọng vào cuộc sống, mặc dù nhìn chung âm nhạc ở đây khá buồn. Những con đường như dài vô hạn trên các khoảng rộng vô biên của nước Nga, bộ ba con ngựa trở thành một kiểu biểu tượng cho cuộc sống vẫn đang tiếp diễn. Tháng mười một ở Nga tuy theo lịch vẫn còn là mùa thu, nhưng thực tế thời tiết đã lạnh theo kiểu mùa đông rồi. “Những cơn lạnh nối tiếp nhau, dù mặt trời vẫn còn sưởi ấm đôi chút. Cây cối nằm dưới lớp tuyết màu trắng bạc, và bức tranh phong cảnh mùa đông đó đẹp đến mức khó có thể tả hết bằng lời” – chính Thaikovsky đã viết như vậy.

    Tiểu phẩm bắt đầu với một giai điệu phóng khoáng, gợi nhớ những bài hát dân ca Nga mênh mang, rồi xuất hiện những tiếng vọng buồn, những suy tư buồn, nhưng tiếng chuông ngân rung ngày càng rõ ràng hơn. Tiếng chuông vui vẻ dường như tạm thời che lấp và lấn át tâm trạng buồn kia, nhưng rồi giai điệu đầu tiên đã xuất hiện trở lại - lần này là bài hát của người đánh xe, được đệm bằng những chiếc chuông. Những nốt nhạc bắt đầu từ từ tắt, rồi tan hẳn khi chiếc xe đã đi xa.


    "Hội mùa đông" -Tháng chạp



    Hội mùa đông là khoảng thời gian giữa hai ngày lễ Thiên chúa giáo lớn - từ Giáng sinh đến lễ Ba vua. Đó là lễ hội dân gian có các yếu tố kết hợp giữa các nghi lễ của Thiên chúa giáo và đa thần giáo sơ khai bản địa. Trong hội mùa đông những đoàn người hoá trang đi đến các nhà, múa hát vui vẻ, các cô gái có nhiều cách để bói về tương lai của mình. Mọi gia đình đều vui chơi tưng bừng. Đoàn người hóa trang trong các trang phục ngộ nghĩnh độc đáo, hát các bài dân ca có nội dung chuyên về ngày hội này, và cầm tay nhau nhảy khorovod (một điệu nhảy dân gian Nga). Chủ nhà đãi họ bằng các thức ăn ngon và tặng quà.

    Tiểu phẩm cuối cùng của tổ khúc “Bốn mùa” có tiêu đề phụ do chính tay nhạc sĩ viết trong bản thảo là “Waltz”, và không phải là tình cờ ông viết tiểu phẩm này theo phong cách đó. Thời đó waltz là điệu nhảy rất phổ biến, tượng trưng cho các ngày lễ gia đình. Giai điệu chủ đạo của tiểu phẩm được viết theo phong cách âm nhạc đời thường, với từng đoạn waltz xen kẽ. Tiểu phẩm kết thúc bằng một đoạn nhạc waltz êm dịu, một ngày hội của gia đình đầm ấm xung quanh cây thông Giáng sinh. Và cả tổ khúc cũng kết thúc êm đềm như vậy.
    Mắt nào em ném trao anh
    Dao cau bổ dọc toang mành trời đêm
    Môi nào rót mật ...say mềm
    Mà giờ rơi rớt ... bên thềm lắt lay


    Vũ Anh Vũ


+ Trả Lời Ðề Tài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi tập tin đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn