KUPALINKA

(Dân ca Belarus)



Thể hiện: Alexander Rybak

Kupalinka (Belarusian version)
Kupalinka, kupalinka,
Ciomnaja nočka,
Ciomnaja nočka,
A dzie ž tvaja dočka?

Maja dočka ŭ sadočku
Ružu, ružu polić,
Ružu, ružu polić,
Bieły ručki kolić.

Kvietački rvieć, kvietački rvieć,
Vianočki źvivaje,
Vianočki źvivaje,
Śliozki pralivaje…

Kupalinka (English version)
Kupalinka, Kupalinka
dark is the night
dark is the night
and where is your daughter?

my dear daughter is in orchard
weeding, weeding roses
weeding, weeding roses
piercing, piercing her white hands

picking flowers, picking flowers
weaving, weaving her wreaths
weaving, weaving her wreaths
shedding, shedding her tears…

Ngày Jan Kupala trong bài hát

Kupala Night là một lễ kỷ niệm Slavic có nguồn gốc từ ngoại giáo cổ đại đánh dấu sự kết thúc của hạ chí và bắt đầu vụ (giữa mùa hè). Tại khu vực Lemko Ukraina và vùng Prešov nó được gọi là Sobitka. Trong thời Kitô giáo, nhà thờ đã cố gắng ngăn chặn lễ truyền thống này và thay thế bằng các ngày lễ Giáng sinh của Thánh John (24/06). Nhưng nó vẫn được duy trì bền lâu như một phần của nghi lễ dân gian Kupalo.

Ý nghĩa tên gọi Kupala

Belarus: Kupallie / Купальле;

Ukraina: Іван Купала;

Ba Lan: Nóc Kupały hoặc Nóc Świętojańska

Trong cuốn sách Teutonic Mythology (1835) của Jacob Grimme ghi nhận rằng từ Kupala mô tả các đống lửa dân gian do Slavonic thắp sáng vào hạ chí. Kupulo nghĩa là Vị Thần thu hoạch. Còn Kupalinka là con gái của thần Kupala.

Mặc dù Kupala (hoặc kupalo) thường được giải thích là “Bather” (từ kupat (i) ‘tắm’). Nhưng theo hai nhà triết học Nga Vyacheslav Ivanov và Vladimir Toporov, tên Kupala bắt nguồn từ gốc Ấn-Âu giống như tên của Cupid – thần La Mã của tình yêu, có nghĩa là “Niềm Đam mê” hoặc “Mong muốn”.

Kupala là Slavonic Cupid!

Ngày Hạ chí (Midsummer)

Ngày Jan Kupala tương tự như Ngày Hạ chí (Midsummer), tùy theo mỗi quốc gia mà ngày này có tên gọi khác nhau.

Tại Ba Lan, Nga, Belarus, Ukraina, Lithuania và một số nước châu Âu khác: Kupala được tổ chức vào đêm ngày 23 và 24/06 theo lịch Julian (ngày 06 và 07/07 theo lịch Gregorian).

Lithuania: Ngày của Thánh John (Joninės) hay Lễ hội Thánh Jonas, Rasos (Dew Holiday), Kupolė.

Latvia: Midsummer được gọi là Jani (Jānis là Latvian cho John) hoặc Ligo Svētki (Svētki = lễ hội).

Đan Mạch: Sankthansaften được tổ chức vào ngày 23/06 tại Na Uy; ngày này cũng được gọi là Jonsok, có nghĩa là “Ngày John thức giấc”.

Ngày hạ chí là ngày có ban ngày kéo dài nhất trong năm hay nói cách khác là mặt trời lên tới “điểm cao nhất” của năm.

Người Celts và Xla-vơ, đánh dấu ngày đầu tiên của mùa hè với các điệu nhảy và đốt lửa ngoài trời để hấp thu năng lượng mặt trời.

Người Trung Quốc tôn thờ Li – Nữ thần ánh sáng và mặt trời.

Người Druids kỷ niệm ngày hạ chí như lễ cưới của Bầu trời và Mặt đất.

Người Châu Âu xem ngày này là ngày lễ Tình yêu

“Kupalinka” là một bài hát dân ca Belarus nổi tiếng. Bài hát kể về một cô gái hái hoa hồng trong vườn và kết chúng thành những vòng hoa xinh đẹp. Cô gái Slavơ Kupala Night Kupalo được cho là Vị thần tình yêu, thu hoạch và hiện thân của khả năng sinh sản trên Trái đất.

Lời bài hát liên quan tới các kỳ nghỉ ngoại giáo cổ xưa của Ivan Kupala, được tổ chức hàng năm vào ngày 06/06.

Vào đêm này, thanh thiếu niên sẽ nhảy qua những ngọn lửa của đống lửa được thắp sáng bên bờ hồ. Đống lửa là hiện thân của vị thần Mặt Trời, sức mạnh của ngọn lửa biểu tượng cho Tuổi Trẻ và Sức Khỏe. Người ta tin rằng nếu nhảy cao được bao nhiêu thì vào mùa vụ cây trồng sẽ phát triển cao bấy nhiêu. Các cô gái sẽ kết vòng hoa, thắp sáng nến và thả chúng trôi trên sông. Họ nhìn theo hướng dòng chảy và tin rằng nếu vòng hoa trôi xa, họ sẽ kết hôn, nếu vòng hoa quay trở lại bờ, thì việc kết hôn không thành, vòng hoa chìm dưới nước, sẽ gặp bệnh tật . Cánh đàn ông thường cố gắng bắt lấy vòng hoa, với hy vọng thu hút được chú ý của các cô gái.

Niềm tin cổ xưa còn cho rằng đêm trước ngày Kupala là lần duy nhất trong năm hoa dương xỉ nở. Tất cả những kho báu bị chôn vùi dưới đất sẽ được tìm thấy. Sự thịnh vượng, may mắn, sự sáng suốt và sức mạnh sẽ đến với bất cứ ai tìm thấy một cây hoa dương xỉ. Do đó, trong đêm, dân làng sẽ đi lang thang qua những khu rừng để tìm kiếm các loại thảo mộc huyền diệu và đặc biệt là đóa hoa dương xỉ kỳ lạ này.

Ngày nay, vào ngày hạ chí, chúng ta vẫn bắt gặp hình ảnh Thanh thiếu niên tụ tập bên bờ sông và nhảy qua những đống lửa. Và cũng giống như hàng ngàn năm trước đây, tất cả mọi người đi tìm kiếm cho riêng mình một đóa “Paparats-kvetka.”

“Paparats-kvetka”- Hoa dương xỉ

Vì sao “Kupalinka” trở thành một bài hát dân gian?

Câu hỏi này đã được trả lời bởi sinh viên của Học viện Âm nhạc Belarus. Nghiên cứu đã chỉ ra mọi người nghe nhạc theo cảm giác và nhận thức.

Kapulinka gắn liền với mỗi người ở khắp mọi nơi: họ nghe nó từ thời thơ ấu trên các đài phát thanh, truyền hình và trong nhà hát. Nó được người dân hát trong các lễ kỷ niệm. Nó từ lâu đã là một trong những bài hát yêu thích nổi tiếng nhất và ngày nay còn đại diện cho văn hóa dân gian Belarus. Dường như giai điệu biểu cảm này đã thấm nhuần tinh thần quốc gia Belarus, được dệt từ văn hóa dân gian Belarus và thật sự thể hiện bản chất linh hồn của nhân dân.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, nhiều ca khúc nghệ thuật nổi tiếng góp phần tạo thêm nét vẽ tươi đẹp vào văn hóa dân gian. Tên của nhiều nhà văn chuyên nghiệp đã bị xóa khỏi lịch sử văn hóa Belarus trong một thời gian dài. Số phận tương tự xảy ra với tác giả của “Kupalinka”. Nhưng nó đã không thể cấm các bài hát đi vào lòng người …

Giai điệu của Kupalinka và lời mới được sáng tác và viết bởi Uladzimir Terausky tại vùng Minsk năm 1920. Terausky là một trong những người đặt những viên gạch đầu tiên vào nền móng Opera Quốc gia Belarus và Trường Âm nhạc Quốc gia. Ông cũng là tác giả của bài Quốc ca đầu tiên. Những bài hát dân gian Belarus đã hòa nhập vào tâm hồn ông, nắm bắt được tinh thần của các giai điệu dân gian, ông đã cách điệu chúng. Ngoài ra, ông còn viết thêm nhiều bài hát hay khác theo phong cách Belarus.

Terausky viết ca khúc “mới” của mình không chỉ dựa trên các văn bản được viết bởi các nhà soạn kịch Belarus, như bài hát Kupala, Dunin-Marcinkiewich mà còn dựa trên các văn bản dân gian truyền thống. Nhưng sự đóng góp của ông đối với nền âm nhạc quốc gia đã không cứu ông khỏi cuộc khủng bố và đàn áp. Việc phát hành quyển sách về các bài hát dân gian mới là lý do đưa Terausky vào tù. Tác phẩm mà ông viết bị gán tội danh “hoạt động chống Liên Xô”. Kể từ đó các bài hát của ông dần trở thành những bài hát dân gian.

Qua hơn nửa thế kỷ kể từ khi Uladzimir Terausky chính thức được phục hồi danh dự, nhưng số phận quay trở lại của “Kupalinka” vẫn còn khó khăn. Về sau ca từ của Kupalinka được cách điệu bởi Michas Chachot – một nhạc sĩ khác cũng bị đàn áp tại văn hóa Belarus. Một trong những công trình sáng tác nổi tiếng nhất của ông là vở nhạc kịch “Kupallie”, được dàn dựng bởi Eustsignei Mirovich vào năm 1921.

(Nam Phương)