+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2 trong 2 Đầu tiênĐầu tiên 1 2
kết quả từ 11 tới 12 trên 12

Ðề tài: Thơ HEINRICH HEINE - 301 bài Song Ngữ

  1. #11
    Gia nhập
    Mar 2009
    Bài gởi
    47

    Trả lời: Thơ HEINRICH HEINE - 301 bài Song Ngữ




    237.VẾT THƯƠNG HẠNH PHÚC

    Khi có em trong tay!
    Một niềm vui hạnh phúc
    Trong lòng tôi tràn ngập
    Những mơ ước diệu kỳ.

    Khi có em trong tay!
    Tôi hôn lên mái tóc
    Mái tóc vàng tuyệt đẹp
    Buông xõa trên vai này.

    Khi có em trong tay!
    Tôi tin rằng hiện thực
    Cõi thiên đường hạnh phúc
    Ngay trên mặt đất này.

    Nhưng như Thánh ngờ vực!
    Tôi còn nghi điều này
    Khi chưa đặt ngón tay
    Vào vết thương hạnh phúc.
    ____________
    *Thánh ngờ vực (Thomas) – tức Thánh Tô-ma tông đồ hay còn gọi là Tô-ma đa nghi hoặc Đi-đi-mô (Didymos). Là một trong 12 tông đồ của Giêsu, Ngài không tin bất cứ điều gì khi không chỉ nhìn tận mặt mà còn phải sờ tận tay (Giăng, 20: 25-28).

    Der Ungläubige

    Du wirst in meinen Armen ruhn!
    Von Wonnen sonder Schranken
    Erbebt und schwillt mein ganzes Herz
    Bei diesem Zaubergedanken.

    Du wirst in meinen Armen ruhn!
    Ich spiele mit den schönen
    Goldlocken! Dein holdes Köpfchen wird
    An meine Schultern lehnen.

    Du wirst in meinen Armen ruhn!
    Der Traum will Wahrheit werden,
    Ich soll des Himmels höchste Lust
    Hier schon genießen auf Erden.

    O, heil’ger Thomas! Ich glaub’ es kaum!
    Ich zweifle bis zur Stunde,
    Wo ich den Finger legen kann
    In meines Glückes Wunde.


    238.HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH

    Phụ nữ như bọ chét
    Nhiều bọ chét – ngứa nhiều
    Âm thầm chịu đớn đau
    Chẳng còn cách nào khác.

    Họ trả thù tinh khôn
    Thức giấc trong đêm vắng
    Bạn ôm nàng âu yếm
    Nàng với bạn – quay lưng.

    Zum Hausfrieden

    Viele Weiber, viele Flöhe,
    Viele Flöhe, vieles Jucken –
    Thun sie heimlich dir ein Wehe,
    Darfst du dennoch dich nicht mucken.

    Denn sie rächen, schelmisch lächelnd,
    Sich zur Nachtzeit – Willst du drücken
    Sie an’s Herze, lieberöchelnd,
    Ach, da dreh’n sie dir den Rücken.


    239.BIẾT VỀ ĐÂU LÚC NÀY?

    Biết về đâu lúc này
    Hay lại về nước Đức?
    Nhưng lý trí dứt khoát
    Thầm thì bên tai tôi:

    “Dù chiến tranh không còn
    Tòa án binh còn đó
    Biết bao người bị xử
    Ít nhiều có liên quan”.

    Điều này thật khó chịu
    Xử bắn hoặc bắt giam
    Tôi chẳng phải anh hùng
    Cũng không làm gì xấu.

    Tôi muốn sang nước Anh
    Nhưng có điều ở đó
    Là mùi hương của họ
    Sẽ làm tôi buồn nôn.

    Hay sẽ vượt đại dương
    Đi thuyền sang nước Mỹ
    Ai chẳng mong xứ sở
    Tự do và giàu sang.

    Có điều tôi ngại ngùng
    Là người nhai thuốc lá
    Và mọi nơi có thể
    Nhổ nước bọt ra đường.

    Nước Nga cũng dễ thương
    Có thể là an ủi
    Nhưng tôi không chịu nổi
    Roi quất của mùa đông.

    Tôi nhìn vào trời đêm
    Giữa sao trời vô khối
    Nhưng tôi không tìm thấy
    Ngôi sao của riêng mình.

    Giống như một mê cung
    Của sao trời vô số
    Giữa cuộc đời trần thế
    Tôi đánh mất con đường.

    Jetzt wohin?

    Jetzt wohin? Der dumme Fuß
    Will mich gern nach Deutschland tragen;
    Doch es schüttelt klug das Haupt
    Mein Verstand und scheint zu sagen:

    Zwar beendigt ist der Krieg,
    Doch die Kriegsgerichte blieben,
    Und es heißt, du habest einst
    Viel Erschießliches geschrieben.

    Das ist wahr, unangenehm
    Wär’ mir das Erschossen-werden;
    Bin kein Held, es fehlen mir
    Die pathetischen Geberden.

    Gern würd’ ich nach England geh’n,
    Wären dort nicht Kohlendämpfe
    Und Engländer – schon ihr Duft
    Giebt Erbrechen mir und Krämpfe.

    Manchmal kommt mir in den Sinn
    Nach Amerika zu segeln,
    Nach dem großen Freiheitstall,
    Der bewohnt von Gleichheits-Flegeln –

    Doch es ängstet mich ein Land,
    Wo die Menschen Tabak käuen,
    Wo sie ohne König kegeln,
    Wo sie ohne Spuknapf speien.

    Rußland, dieses schöne Reich,
    Würde mir vielleicht behagen,
    Doch im Winter könnte ich
    Dort die Knute nicht ertragen.

    Traurig schau ich in die Höh’,
    Wo viel tausend Sterne nicken –
    Aber meinen eignen Stern
    Kann ich nirgends dort erblicken.

    Hat im güldnen Labyrinth
    Sich vielleicht verirrt am Himmel,
    Wie ich selber mich verirrt
    In dem irdischen Getümmel. –


    240.MỘT KHÚC CA XƯA

    Em đã chết rồi, em có biết không
    Ánh lửa bừng không còn trong đôi mắt
    Trên đôi môi hồng giờ đây tái nhợt
    Em chết rồi, em đã chết rồi em.

    Trong đêm mùa hè đáng sợ mình anh
    Anh tự tay mình mang em ra mộ
    Chim sơn ca đã hót lên buồn bã
    Những ngôi sao nức nở giữa trời đêm.

    Anh đưa em đi qua một khu rừng
    Có những lời nguyện cầu trong đêm vắng
    Những cây thông mặc áo choàng đen đứng
    Đọc những lời cầu nguyện nhớ về em.

    Khi đến gần hồ nước, một đám đông
    Những tiên nữ kết vòng tròn nhảy múa
    Bỗng dừng lại, vẻ mặt buồn khôn tả
    Và lâm ly thống thiết để chia buồn.

    Còn khi bên hố huyệt để chôn em
    Mặt trăng cũng từ trời cao ghé xuống
    Trăng bày tỏ… thổn thức và cầu nguyện
    Từ xa xa vọng lại tiếng đồng chung.

    Altes Lied

    Du bist gestorben und weißt es nicht,
    Erloschen ist dein Augenlicht,
    Erblichen ist dein rothes Mündchen,
    Und du bist todt, mein todtes Kindchen.

    In einer schaurigen Sommernacht
    Hab’ ich dich selber zu Grabe gebracht;
    Klaglieder die Nachtigallen sangen,
    Die Sterne sind mit zur Leiche gegangen.

    Der Zug, der zog den Wald vorbei,
    Dort wiederhallt die Litaney;
    Die Tannen, in Trauermänteln vermummet,
    Sie haben Todtengebete gebrummet.

    Am Weidensee vorüber ging’s,
    Die Elfen tanzten inmitten des Ring’s;
    Sie blieben plötzlich stehn und schienen
    Uns anzuschaun mit Beileidsmienen.

    Und als wir kamen zu deinem Grab,
    Da stieg der Mond vom Himmel herab.
    Er hielt eine Rede. Ein Schluchzen und Stöhnen,
    Und in der Ferne die Glocken tönen.


    241.VẬT BẢO ĐẢM

    Tình yêu bảo vị thần
    Rằng cần vật bảo đảm
    Trước khi dâng hiến tình
    Bởi đời này khó lắm.

    Vị thần kia mỉm cười
    “Mọi thứ đều thay đổi
    Em là người cho vay
    Đưa người ta vào bẫy.

    Ta có cây đàn lia
    Mà đàn bằng vàng thật
    Đem đổi sẽ có được
    Bao nhiêu nụ hôn kia?”

    Solidität

    Liebe sprach zum Gott der Lieder,
    Sie verlange Sicherheiten
    Ehe sie sich ganz ergebe,
    Denn es wären schlechte Zeiten.

    Lachend gab der Gott zur Antwort:
    Ja, die Zeiten sich verändern,
    Und du sprichst jetzt, wie ein alter
    Wuchrer, welcher leiht auf Pfändern.

    Ach, ich hab’ nur eine Leier,
    Doch sie ist von gutem Golde.
    Wie viel Küsse willst du borgen
    Mir darauf, o meine Holde?


    242.DÒNG ĐỜI

    Nếu bạn có rất nhiều
    Trời còn cho nhiều nữa.
    Nếu có rất ít ỏi
    Cái cuối cũng đi tiêu.

    Nếu quả bạn rất nghèo
    Thì chúng tôi chôn bạn
    Đời này chỉ đáng sống
    Người có gì đấy thôi.

    Weltlauf

    Hat man viel, so wird man bald
    Noch viel mehr dazu bekommen.
    Wer nur wenig hat, dem wird
    Auch das Wenige genommen.

    Wenn du aber gar nichts hast,
    Ach, so lasse dich begraben –
    Denn ein Recht zum Leben, Lump,
    Haben nur die etwas haben.


    243.LỜI BÁO TRƯỚC

    Hỡi linh hồn bất tử, hãy dè chừng
    Để tránh cho ngươi những phiền muộn nhé
    Khi ngươi từ giã cuộc đời trần thế
    Sẽ theo đường vào cái chết, bóng đêm.

    Khi ngươi bay lên đến trước cổng vàng
    Ở đó có những đạo binh thiên quốc
    Người ta chỉ hỏi ngươi về công việc
    Chứ không cần chức tước hoặc danh xưng.

    Đôi giày của ngươi còn dính bụi trần
    Hãy bỏ lại ở phía ngoài cánh cổng
    Rồi đi vào miền tự do, tĩnh lặng
    Giày dép mềm và tiếng nhạc du dương.

    Fromme Warnung

    Unsterbliche Seele, nimm dich in Acht,
    Daß du nicht Schaden leidest,
    Wenn du aus dem Irdischen scheidest;
    Es geht der Weg durch Tod und Nacht.

    Am goldnen Thore der Hauptstadt des Lichts,
    Da stehen die Gottes-Soldaten;
    Sie fragen nach Werken und Thaten,
    Nach Namen und Amt fragt man hier nichts.

    Am Eingang läßt der Pilger zurück
    Die stäubigen, drückenden Schuhe –
    Kehr’ ein, hier findest du Ruhe,
    Und weiche Pantoffeln und schöne Musik.


    244.NGƯỜI SẮP CHẾT

    Khi ta chết sẽ nằm trong đất bụi
    Dưới mộ phần, tôi thấy sợ biết bao
    Bởi vì dù có được hồi sinh lại
    Tôi phải nằm chờ ở đó rất lâu.

    Một khi ánh sáng đời chưa tắt hẳn
    Khi con tim vẫn còn đập rộn ràng
    Tôi chỉ mong giá như được một lần
    Vị ngọt ngào của tình yêu lại nếm.

    Một cô tóc vàng dịu dàng âu yếm
    Và ánh nhìn tĩnh lặng tựa ánh trăng
    Sắp chết rồi, có lẽ đã không cần
    Cô tóc đen như mặt trời nóng bỏng.

    Ai còn trẻ trung tràn trề sức sống
    Thì người này cần đến sự đam mê
    Cần sự cuồng điên, đập phá, chửi thề
    Cần hai người yêu nhau như tra tấn.

    Tôi không còn trẻ, không còn khỏe mạnh
    Không cần yêu say đắm như ngày nào
    Tôi chỉ muốn yêu một cách tĩnh lặng
    Muốn hạnh phúc không một chút ồn ào.

    Der Abgekühlte

    Und ist man todt, so muß man lang
    Im Grabe liegen; ich bin bang,
    Ja, ich bin bang, das Auferstehen
    Wird nicht so schnell von Statten gehen.

    Noch einmal, eh’ mein Lebenslicht
    Erlöschet, eh’ mein Herze bricht –
    Noch einmal möcht’ ich vor dem Sterben
    Um Frauenhuld beseligt werben.

    Und eine Blonde müßt’ es sein,
    Mit Augen sanft wie Mondenschein –
    Denn schlecht bekommen mir am Ende
    Die wild brünetten Sonnenbrände.

    Das junge Volk voll Lebenskraft
    Will den Tumult der Leidenschaft,
    Das ist ein Rasen, Schwören, Poltern
    Und wechselseit’ges Seelenfoltern!

    Unjung und nicht mehr ganz gesund,
    Wie ich es bin zu dieser Stund,
    Mögt’ ich noch einmal lieben, schwärmen
    Und glücklich sein – doch ohne Lärmen.


    245.TÔI MONG BẠN TẬN HƯỞNG

    Tôi mong bạn tận hưởng
    Hết lạc thú trần gian!
    Bạn không sợ mũi tên
    Ai thích thì cứ bắn.

    Hạnh phúc thì chóng vánh
    Cần phải nắm bắt thôi
    Đừng xây nhà trên đồi
    Mà xây trong thung lũng.

    O laß nicht ohne Lebensgenuß

    O laß nicht ohne Lebensgenuß
    Dein Leben verfließen!
    Und bist du sicher vor dem Schuß,
    So laß sie nur schießen.

    Fliegt dir das Glück vorbei einmal,
    So fass’ es am Zipfel.
    Auch rath’ ich dir, baue dein Hüttchen im Thal
    Und nicht auf dem Gipfel.




    THƠ TUYỂN 1812 – 1827 (Nachgelesene Gedichte 1812 – 1827)

    246.KHI EM NGỒI BÊN ANH

    Khi em ngồi bên anh
    Con tim này hớn hở
    Anh nghĩ mình giàu có
    Mua được cả thế gian.

    Nhưng khi em từ giã
    Trong tim anh tối tăm
    Giàu có đã không còn
    Anh trở nên nghèo khó.

    Wenn ich bei meiner Liebsten bin

    Wenn ich bei meiner Liebsten bin
    Dann geht das Herz mir auf
    Dann dünk ich mich reich in meinem Sinn
    Und frag: ob die Welt zu Kauf?

    Doch wenn ich wieder scheiden tu
    Aus ihrem Schwanenarm
    Dann geht das Herz mir wieder zu
    Und ich bin bettelarm.


    247.TA ƯỚC AO NHỮNG BÀI HÁT CỦA TA

    Ta ước ao những bài hát của ta
    Sẽ trở thành những cánh hoa êm ái
    Để ta đem gửi cho người bạn gái
    Rồi nàng đưa môi hôn những bài ca.

    Ta ước ao những bài hát của ta
    Cũng biết cách hôn người ta đằm thắm
    Ta gửi bài ca một cách thầm lặng
    Cho người dấu yêu nhất của đời ta.

    Ta ước ao những bài hát của ta
    Sẽ thành những quả đậu non nho nhỏ
    Để ta đem nấu món súp đậu đũa
    Ngon như chưa ai từng nấu bao giờ.

    Ich wollte, meine Lieder

    Ich wollte, meine Lieder
    Das wären Blümelein:
    Ich schickte sie zu riechen
    Der Herzallerliebsten mein.

    Ich wollte, meine Lieder
    Das wären Küsse fein:
    Ich schickt sie heimlich alle
    Nach Liebchens Wängelein.

    Ich wollte, meine Lieder
    Das wären Erbsen klein:
    Ich kocht eine Erbsensuppe,
    Die sollte köstlich sein.


    248.VỚI NHỮNG CÔ GÁI ĐẦN

    Với những cô gái đần, tôi thường nghĩ
    Khó mà làm ăn với kẻ ngu đần
    Nhưng khi tôi gặp những cô thông minh
    Thì hiểu rằng còn khó hơn thế nữa.

    Người thông minh thì lại quá khôn ngoan
    Nhiều câu hỏi làm tôi mất kiên nhẫn
    Và khi tôi hỏi họ điều quan trọng
    Thì họ mỉm cười một cách tinh ranh.

    Mit dummen Mädchen, hab ich gedacht

    Mit dummen Mädchen, hab ich gedacht,
    Nichts ist mit dummen anzufangen;
    Doch als ich mich an die klugen gemacht,
    Da ist es mir noch schlimmer ergangen.

    Die klugen waren mir viel zu klug,
    Ihr Fragen machte mich ungeduldig,
    Und wenn ich selber das Wichtigste frug,
    Da blieben sie lachend die Antwort schuldig.


    249.DAN DÍU VỚI ĐÀN BÀ

    Dan díu với đàn bà bạn hãy nên khiêm tốn
    Hãy nhớ tiết kiệm lời và đừng vội nói tên
    Bởi nếu nàng tốt – thì cho nàng giữ kín
    Còn nếu không – thì cũng giữ cho mình.

    Hast du vertrauten Umgang mit Damen

    Hast du vertrauten Umgang mit Damen,
    Schweig, Freundchen, stille und nenne nie Namen:
    Um ihrentwillen, wenn sie fein sind,
    Um deinetwillen, wenn sie gemein sind.


    250.NHỮNG BÔNG HOA VƯƠN MÌNH

    Những bông hoa vươn mình
    Phía ánh mặt trời hướng đến
    Và sông gửi từng con sóng
    Về phía biển xanh.

    Còn tôi, những bài ca của mình
    Tôi đem gửi cho người tôi yêu mến
    Cả nước mắt, cả những lời đau đớn
    Bài ca ơi, hãy mang đến cho nàng.

    Es schauen die Blumen alle

    Es schauen die Blumen alle
    Zur leuchtenden Sonne hinauf;
    Es nehmen die Ströme alle
    Zum leuchtenden Meere den Lauf.

    Es flattern die Lieder alle
    Zu meinem leuchtenden Lieb;
    Nehmt mit meine Tränen und Seufzer,
    Ihr Lieder, wehmütig und trüb!


    251.ANH KHÔNG TIN THIÊN ĐÀNG

    Anh không tin thiên đàng
    Không tin lời linh mục
    Chỉ tin đôi mắt em –
    Là bầu trời hạnh phúc.

    Anh không tin Chúa Trời
    Không tin lời linh mục
    Chỉ trái tim em thôi
    Không thánh thần nào khác.

    Anh không tin linh hồn
    Bị đày nơi địa ngục
    Chỉ tin đôi mắt em
    Và con tim tai ác.

    Ich glaub nicht an den Himmel

    Ich glaub nicht an den Himmel,
    Wovon das Pfäfflein spricht;
    Ich glaub nur an dein Auge,
    Das ist mein Himmelslicht.

    Ich glaub nicht an den Herrgott,
    Wovon das Pfäfflein spricht;
    Ich glaub nur an dein Herze,
    'nen andern Gott hab ich nicht.

    Ich glaub nicht an den Bösen,
    An Höll und Höllenschmerz;
    Ich glaub nur an dein Auge,
    Und an dein böses Herz.


    252.NHỮNG BÔNG HOA NHỎ XINH

    Những bông hoa nhỏ xinh
    Cho ta được làm lành
    Hãy chuyện trò vui vẻ
    Cùng cười, cùng hát lên.

    Này em, hoa chuông trắng
    Và màu đỏ, hoa hồng
    Cẩm chướng, nhiều vết đốm
    Đừng quên tôi, màu xanh.

    Hãy đến đây, các em
    Tôi vui mừng chào đón
    Nhưng tôi không tiếp nhận
    Cỏ mộc tê trên đồng.

    Wir wollen jetzt Frieden machen

    Wir wollen jetzt Frieden machen,
    Ihr lieben Blümelein.
    Wir wollen schwatzen und lachen,
    Und wollen uns wieder freun.

    Du weißes Maienglöckchen,
    Du Rose mit rotem Gesicht,
    Du Nelke mit bunten Fleckchen,
    Du blaues Vergißmeinnicht!

    Kommt her, ihr Blumen, jede
    Soll mir willkommen sein -
    Nur mit der schlimmen Resede
    Laß ich mich nicht mehr ein.


    253.TÔI MUỐN ĐI VÀO RỪNG

    Tôi muốn đi ngay vào chốn rừng xanh
    Xem hoa nở và nghe sơn ca hót
    Bởi vì sau này nằm dưới mộ phần
    Đất sẽ lấp lên tai và lên mắt
    Sẽ không còn nghe tiếng sơn ca hót
    Không nhìn ra hoa đẹp nở tưng bừng.

    Ich will mich im grünen Wald ergehn

    Ich will mich im grünen Wald ergehn,
    Wo Blumen sprießen und Vögel singen;
    Denn wenn ich im Grabe einst liegen werde,
    Ist Aug und Ohr bedeckt mit Erde,
    Die Blumen kann ich nicht sprießen sehn,
    Und Vögelgesänge hör ich nicht klingen.


    254.ANH ĐÃ TỪNG Ở NƠI XA XÔI LẮM

    Anh đã từng ở nơi xa xôi lắm*
    Còn bây giờ cách em mấy bước chân
    Một ý nghĩ lởn vởn trong đầu anh:
    Chao ôi! Em đã thành cô hàng xóm.
    ____________
    *Anh đã từng ở nơi xa xôi lắm – ý Heine nói đến quãng thời gian ba năm sống tại Hamburg ở nhà ông chú Solomon Heine và sau đó trở về lại Düsseldorf.

    Ich wohnte früher weit von hier

    Ich wohnte früher weit von hier,
    Zwei Häuser trennen mich jetzt von Dir.
    Es kam mir oft schon in den Sinn:
    Ach! wärst Du meine Nachbarin.


    255.GỬI SOLOMON HEINE

    Cả nỗi buồn và đau đớn của tôi
    Tôi đã đem dồn hết vào cuốn sách
    Và khi từng trang sách này bạn đọc
    Là bạn đang đi vào trái tim này.

    An Salomon Heine

    Meine Qual und meine Klagen
    Hab ich in dies Buch gegossen,
    Und wenn du es aufgeschlagen,
    Hat sich dir mein Herz erschlossen.


    256.NGÀY ĐÊM TÔI LÀM THƠ

    Ngày đêm tôi làm thơ
    Nhưng mà chẳng được gì
    Chìm đắm trong hòa hợp
    Thì cũng chỉ hư vô.

    Tag und Nacht hab ich gedichtet

    Tag und Nacht hab ich gedichtet,
    Und hab doch nichts ausgerichtet;
    Bin in Harmonien geschwommen,
    Und bin doch zu nichts gekommen.


    257.TA YÊU MÀY CÚN Ạ

    Ta yêu mày, cún ạ
    Chắc mi hiểu điều này
    Ta cho mi ăn kẹo
    Mi vội liếm vào tay.

    Cả trong ruột, ngoài da
    Mi đúng là con chó
    Còn bè bạn của ta
    Họ giả vờ nhiều quá.

    Daß ich dich liebe, o Möpschen

    Daß ich dich liebe, o Möpschen,
    Das ist dir wohlbekannt.
    Wenn ich mit Zucker dich füttre,
    So leckst du mir die Hand.

    Du willst auch nur ein Hund sein,
    Und willst nicht scheinen mehr;
    All meine übrigen Freunde
    Verstellen sich zu sehr.


    258.BẠN HAY THÙ, YÊU HAY GHÉT

    Bạn hay thù, yêu thương hay ghét bỏ
    Những thứ kia tôi nếm trải hết rồi
    Nhưng nếu có gì còn bám vào tôi
    Thì tôi vẫn là tôi, như vốn có.

    Lieben und Hassen, Hassen und Lieben

    Lieben und Hassen, Hassen und Lieben,
    Ist alles über mich hingegangen;
    Doch blieb von allem nichts an mir hangen,
    Ich bin der allerselbe geblieben.


    259.GỬI EDOM*

    Hàng nghìn năm ta đã từng chịu đựng
    Vì mối tình huynh đệ giữa chúng ta
    Bạn từng chịu đựng hơi thở của tôi
    Còn tôi chịu đựng cơn điên của bạn.

    Trong bóng tối của một ngày xa vắng
    Khi đó bạn không làm chủ được mình
    Hoặc có thể là chỉ vì đức tin
    Bạn làm tôi chảy máu và đau đớn.

    Bây giờ tình bạn của ta bền vững
    Và sẽ còn bền chặt theo tháng năm
    Bởi vì tôi cũng bắt đầu nổi điên
    Hóa ra là càng hợp hơn với bạn.
    _____________
    *Đây là bài thơ mà Heine gửi cho người bạn Moses Moser (1797 – 1838) của mình. Edom, tức Esau (Sáng Thế ký, 25: 30) là nhân vật trong Kinh Thánh dùng để chỉ tình yêu ghét giữa những người anh em.

    An Edom!

    Ein Jahrtausend schon und länger,
    Dulden wir uns brüderlich,
    Du, du duldest, daß ich atme,
    Daß du rasest, dulde Ich.

    Manchmal nur, in dunkeln Zeiten,
    Ward dir wunderlich zu Mut,
    Und die liebefrommen Tätzchen
    Färbtest du mit meinem Blut!

    Jetzt wird unsre Freundschaft fester,
    Und noch täglich nimmt sie zu;
    Denn ich selbst begann zu rasen,
    Und ich werde fast wie Du.


    260.NHỮNG BÀI HÁT CỦA TÔI

    Những bài hát của tôi
    Xin các người lên tiếng
    Từ lâu giữa ngực này
    Tôi giữ trong im lặng.

    Hãy đến những đôi tai
    Rồi vào tim trong ngực
    Một nỗi đau tràn ngập
    Đã hàng ngàn năm nay.

    Cả già trẻ đều khóc
    Cả những người chết rồi
    Phụ nữ và hoa tươi
    Sao trên trời cũng khóc.

    Và tất cả nước mắt
    Đều chảy về phương Nam
    Chảy ra và đổ hết
    Vào dòng sông Gioóc đan.

    Brich aus in lauten Klagen

    Brich aus in lauten Klagen,
    Du düstres Martyrerlied,
    Das ich so lang getragen
    Im flammenstillen Gemüt!

    Es dringt in alle Ohren,
    Und durch die Ohren ins Herz;
    Ich habe gewaltig beschworen
    Den tausendjährigen Schmerz.

    Es weinen die Großen und Kleinen,
    Sogar die kalten Herrn,
    Die Frauen und Blumen weinen,
    Es weinen am Himmel die Stern!

    Und alle die Tränen fließen
    Nach Süden, im stillen Verein,
    Sie fließen und ergießen
    Sich all in den Jordan hinein.


    261.NGƯỜI BỘI GIÁO

    Nhiệt huyết thời tuổi trẻ
    Sao vội vàng qua nhanh
    Giờ trong máu lạnh lùng
    Bạn hững hờ trước Chúa.

    Bạn hướng lên thập tự
    Mà trong lòng coi thường
    Chỉ vừa mới mấy tuần
    Mà đổi thay tất cả.

    Cứ đọc đi sẽ rõ
    Haller, Burke, Schlegel
    Hôm qua là anh hùng
    Nay thành kẻ chống trả.
    _______________
    *Karl Ludwig von Haller (1768 – 1854) – nhà chính trị, lý thuyết gia của phong trào Phục hưng Thụy Sĩ, năm 1820 chuyển sang đạo Cơ đốc. Edmund Burke (1729 – 1797) – nhà chính trị, nhà văn Anh, người phản đối Cách mạng Pháp. Friedrich Schlegel (1772 – 1829) – nhà văn, nhà thơ Đức, thời trẻ tham gia câu lạc bộ Gia-cô-banh (Jacobins) của Pháp sau đó lại quay về ca ngợi Đức, năm 1808 cải đạo.

    Einem Abtrünnigen

    O des heilgen Jugendmutes!
    O, wie schnell bist du gebändigt!
    Und du hast dich, kühlern Blutes,
    Mit den lieben Herrn verständigt.

    Und du bist zu Kreuz gekrochen,
    Zu dem Kreuz, das du verachtest,
    Das du noch vor wenig Wochen
    In den Staub zu treten dachtest!

    O, das tut das viele Lesen
    Jener Schlegel, Haller, Burke -
    Gestern noch ein Held gewesen,
    Ist man heute schon ein Schurke.


    262.TÔI KIẾM TÌNH YÊU

    Tôi kiếm tình yêu ngọt ngào dễ thương
    Lại tìm ra sự hận thù cay đắng
    Tôi thở dài và tôi nguyền rủa hắn
    Thì máu chảy từ ngàn vạn vết thương.

    Tôi đã thành thật cả ngày lẫn đêm
    Để cùng với lũ súc sinh kết bạn
    Khi đã nghiên cứu kỹ càng về chúng
    Thì tôi viết ra “Ratcliff William”.
    ____________
    *William Ratcliff – là một vở kịch của Heine.

    Ich habe die süße Liebe gesucht

    Ich habe die süße Liebe gesucht,
    Und hab den bittern Haß gefunden,
    Ich habe geseufzt, ich habe geflucht,
    Ich habe geblutet aus tausend Wunden.

    Auch hab ich mich ehrlich Tag und Nacht
    Mit Lumpengesindel herumgetrieben,
    Und als ich all diese Studien gemacht,
    Da hab ich ruhig den Ratcliff geschrieben.


    THƠ TUYỂN 1828 – 1844 (Nachgelesene Gedichte 1828 – 1844)

    263.ÁNH TRĂNG NGỜI TRÊN BIỂN

    Ánh trăng ngời trên biển
    Tiếng sóng vỗ rì rào
    Giữa lòng tôi trĩu nặng
    Vì câu chuyện thuở nào.

    Chuyện về những thành phố
    Chìm đắm giữa đại dương
    Dường như còn nghe rõ
    Lời cầu nguyện vang lên.

    Lời nguyện và tiếng chuông
    Không giúp gì được cả
    Ai đã một lần chôn
    Không còn quay về nữa.

    Im Mondenglanze ruht das Meer

    Im Mondenglanze ruht das Meer,
    Die Wogen murmeln leise;
    Mir wird das Herz so bang und schwer,
    Ich denk der alten Weise,

    Der alten Weise, die uns singt
    Von den verlornen Städten,
    Wo aus dem Meeresgrunde klingt
    Glockengeläut und Beten -

    Das Läuten und das Beten, wißt,
    Wird nicht den Städten frommen,
    Denn was einmal begraben ist,
    Das kann nicht wiederkommen.


    264.NHỮNG ĐAM MÊ MỘT THUỞ

    Những đam mê từng một thuở cháy lên
    Chúng về đâu khi tim không còn nữa?
    Chúng về nơi từng ra đi ở đó
    Là địa ngục, nơi thiêu đốt rủa nguyền.

    Die Liebesgluten, die so lodernd flammten

    Die Liebesgluten, die so lodernd flammten,
    Wo gehn sie hin, wenn unser Herz verglommen?
    Sie gehn dahin, woher sie einst gekommen,
    Zur Hölle, wo sie braten, die Verdammten.


    265.MẮT LÀ NGÔI SAO ĐẸP

    “Mắt là ngôi sao đẹp!”
    Anh nhớ một bài ca
    Nghe ở Toskana
    Khi ngồi bên bến nước.

    Cô gái hát bài ca
    Khi cô ngồi vá lưới
    Ánh nhìn cô hướng tới
    Và anh đã hôn cô.

    Giờ anh ngồi bên em
    Nhớ bài ca ngày ấy
    Nhớ biển và cô gái…
    Hãy để anh hôn em!

    »Augen, sterblich schöne Sterne!«

    »Augen, sterblich schöne Sterne!«
    Also mag das Liedchen klingen,
    Das ich weiland in Toskana
    An dem Meere hörte singen.

    Eine kleine Dirne sang es,
    Die am Meere Netze flickte;
    Sah mich an, bis ich die Lippen
    An ihr rotes Mündchen drückte.

    An das Lied, an Meer und Netze
    Hab ich wieder denken müssen,
    Als ich dich zuerst erblickte -
    Doch nun muß ich dich auch küssen.


    266.NHỮNG BÀI HÁT CON CON

    Những bài hát con con
    Tôi tặng người yêu mến
    Tôi chắp thêm đôi cánh
    Để bay đến bên em.

    Những bài hát con con
    Tìm chồng cho em nhé
    Chúng chạy đến với mẹ
    Qua thung lũng, cánh đồng.

    Moi người sẽ vui lòng
    Nghe những bài hát đó
    Khi những chàng trai hú
    Sẽ cảm thấy lâng lâng.

    Ai người hát trong đêm
    Khi người này buồn bã
    Thì sẽ yêu thích nó
    Hơn bài hát của mình.

    Ich mache die kleinen Lieder

    Ich mache die kleinen Lieder
    Der Herzallerliebsten mein,
    Die heben ihr klingend Gefieder
    Und fliegen zu dir hinein.

    Es stammen die kleinen Jungen
    Vom schnalzenden Herrn Gemahl,
    Die kommen zu dir gesprungen
    Über Wiese, Busch und Tal.

    Die Leute so gerne weilen
    Bei meiner Lieder Chor;
    Doch bei der Jungen Heulen
    Sie halten sich zu das Ohr.

    Und der dies Lied gesungen,
    Der liegt allein in der Nacht
    Und hätte weit lieber die Jungen,
    Ach, als die Lieder gemacht!


    267.NGHE VANG NHƯ CÂU HÁT

    Nghe vang như câu hát
    Những gì tôi nghĩ suy
    Thần tình yêu, tôi biết
    Đấy là việc của ngươi.

    Bậc thầy trong nhà hát
    Nhà hát trái tim này
    Những gì tôi nghĩ suy
    Ngươi liền đem phổ nhạc.

    Es erklingt wie Liedestöne

    Es erklingt wie Liedestöne
    Alles, was ich denk und fühl.
    Ach! da hat der kleine schöne
    Liebesgott die Hand im Spiel.

    Der Maestro im Theater
    Meines Herzens ist er jetzt;
    Was ich fühl und denke, hat er
    Gleich schon in Musik gesetzt.


    268.HOA HỒNG VÀNG THÌ CÓ NGHĨA GÌ ĐÂY?

    Hoa hồng vàng thì có nghĩa gì đây?
    Đấy là vật lộn của yêu và ghét
    Ghét, đã đành, vẫn làm khổ tình yêu
    Nhưng yêu thì phải yêu qua nước mắt.

    Was bedeuten gelbe Rosen?

    Was bedeuten gelbe Rosen?
    Liebe die mit Ärger kämpft,
    Ärger der die Liebe dämpft,
    Lieben und sich dabei erbosen.


    269.BUỒN CƯỜI MÀ LẠI ĐAU

    Buồn cười mà lại đau
    Khi hai ta thừa nhận
    Hai con tim yêu nhau
    Nhưng đầu không tin tưởng.

    Em yêu ơi có hiểu
    Tình yêu trong tim này?
    Nàng lắc đầu, thầm thĩ:
    “Có trời biết yêu ai!”

    Wir müssen zugleich uns betrüben

    Wir müssen zugleich uns betrüben
    Und lachen, wenn wir schaun,
    Daß sich die Herzen lieben
    Und sich die Köpfe nicht traun.

    Fühlst du, mein süßes Liebchen,
    Wie liebend mein Herz bewegt?
    Sie schüttelt das Köpfchen und flüstert:
    »Gott weiß, für wen es schlägt!«


    270.ĐIỀU NÀY LÀM CHO CON NGƯỜI HẠNH PHÚC

    Điều này làm cho con người hạnh phúc
    Mà cũng làm cho người ấy ngu đần
    Khi có đến ba người yêu xinh đẹp
    Trong khi người này chỉ có hai chân.

    Tôi chạy đến một người buổi sớm mai
    Và với người thứ hai khi đêm xuống
    Còn người thứ ba với tôi tự đến
    Không hiểu sao lại chỉ đến ban ngày.

    Tôi phải chia tay với cả ba người
    Bởi vì tôi chỉ có hai chân nhỏ
    Tôi chỉ muốn đi về miền thôn dã
    Tận hưởng thiên nhiên xinh đẹp mà thôi.

    Das macht den Menschen glücklich

    Das macht den Menschen glücklich,
    Das macht den Menschen matt,
    Wenn er drei sehr schöne Geliebte
    Und nur zwei Beine hat.

    Der einen lauf ich des Morgens,
    Der andern des Abends nach;
    Die dritte kommt zu mir des Mittags
    Wohl unter mein eignes Dach.

    Lebt wohl, ihr drei Geliebten,
    Ich hab zwei Beine nur,
    Ich will in ländlicher Stille
    Genießen die schöne Natur.


    271.CHẠY TRỐN

    Dưới ánh trăng sáng tỏ
    Nghe tiếng sóng rì rào
    Có hai người yêu nhau
    Trên một con thuyền nhỏ.

    – “Sao mặt em tê tái
    Hở người anh yêu thương!”
    – “Anh yêu, anh biết không
    Bố em đuổi theo đấy”.

    – “Ta sẽ chèo nhanh vậy
    Hở người anh yêu thương!”
    – “Anh nghe tiếng hét không?
    Bố em đang chửi đấy”.

    – ‘Hãy giữ chặt mái đầu
    Người anh yêu thương nhé!”
    – “Anh yêu, em nghe rõ
    Giọt nước chảy vào tai”.

    – “Đôi chân anh tê liệt
    Ôi, người anh yêu thương!”
    – “Anh yêu, em muốn được
    Chết trong vòng tay anh”.

    Die Flucht

    Die Meeresfluten blitzen,
    Bestrahlt vom Mondenschein.
    Im schwanken Kahne sitzen
    Zwei Buhlen, die schiffen allein.

    »Du wirst ja blaß und blasser,
    Du Herzallerliebste mein!« -
    »Geliebter! dort ruderts im Wasser,
    Mein Vater holt uns ein.« -

    »Wir wollen zu schwimmen versuchen,
    Du Herzallerliebste mein !« -
    »Geliebter! ich hör ihn schon fluchen,
    Ich höre ihn toben und schrein.« -

    »Halt nur den Kopf in die Höhe,
    Du Herzallerliebste mein!« -
    »Geliebter! Das Wasser, o wehe,
    Dringt mir in die Ohren hinein.« -

    »Es werden steif mir die Füße,
    O Herzallerliebste mein!« -
    »Geliebter, der Tod muß süße
    In deinen Armen sein.«


  2. #12
    Gia nhập
    Mar 2009
    Bài gởi
    47

    Trả lời: Thơ HEINRICH HEINE - 301 bài Song Ngữ




    272.Ở ĐÂU?

    Ở đâu, người lữ thứ
    Sẽ gửi nắm xương tàn?
    Phương Nam, dưới bóng cọ?
    Hay dưới liễu sông Ranh?

    Hay ở nơi sa mạc
    Tay người lạ sẽ chôn?
    Hay bên bờ biển xanh
    Mộ nằm trên bờ cát?

    Ở nơi nào cũng được
    Miễn là có bầu trời
    Và trên mộ của tôi
    Có sao như đèn đốt.

    Wo?

    Wo wird einst des Wandermüden
    Letzte Ruhestätte sein?
    Unter Palmen in dem Süden?
    Unter Linden an dem Rhein?

    Werd ich wo in einer Wüste
    Eingescharrt von fremder Hand?
    Oder ruh ich an der Küste
    Eines Meeres in dem Sand?

    Immerhin! Mich wird umgeben
    Gotteshimmel, dort wie hier,
    Und als Totenlampen schweben
    Nachts die Sterne über mir.


    273.KHÚC TRÁNG CA

    Tôi là ngọn lửa, tôi là thanh gươm.

    Tôi soi sáng cho các bạn giữa bóng đêm, và khi trận đánh mở màn, tôi đã tiến lên phía trước, ở hàng đầu tiên.

    Xung quanh tôi là xác bạn bè tôi đang nằm, nhưng chúng ta đã thắng. Chúng ta đã thắng, nhưng xác bạn bè tôi vẫn nằm ở xung quanh. Trong tiếng kèn mừng chiến thắng ta nghe ra tiếng kèn của lễ tang. Nhưng chúng ta không có thời gian để mừng vui hoặc đau buồn. Những hồi trống lại nổi lên, giục giã ta bước vào trận đánh.

    Tôi là ngọn lửa, tôi là thanh gươm.

    Hymnus

    Ich bin das Schwert, ich bin die Flamme.

    Ich habe euch erleuchtet in der Dunkelheit, und als die Schiacht begann, focht ich voran, in der ersten Reihe.

    Rand um mich her liegen die Leichen meiner Freunde, aber wir haben gesiegt. Wir haben gesiegt, aber rund umher liegen die Leichen meiner Freunde. In die jauchzenden Triumphgesänge tönen die Choräle der Totenfeier. Wir haben aber weder Zeit zur Freude noch zur Trauer. Aufs neue erklingen die Drommeten, es gilt neuen Kampf -

    Ich bin das Schwert, ich bin die Flamme.


    274.GỬI NHÀ THƠ CHÍNH TRỊ

    Như Tytai, thơ anh
    Ca ngợi những anh hùng
    Nhưng thời cuộc thay đổi
    Bạn đọc đã không còn.

    Họ lắng nghe, tất nhiên
    Và không ngớt lời khen
    Rằng thơ nhiều ý tưởng
    Độc đáo cách gieo vần.

    Nhưng tay cầm rượu vang
    Hoan hô, họ kêu lên
    Và bài ca trận mạc
    Họ cùng nhau hát lên.

    Và họ vẫn hát vang
    Trong quán nhậu tưng bừng
    Nhưng chẳng qua là để
    Ăn và uống ngon hơn.
    ____________
    *Tyrtäus (Tyrtaios) – nhà thơ Hy Lạp cổ đại sống vào khoảng thế kỷ VII trước CN, người làm thơ ca ngợi những người lính Sparta trong cuộc chiến tranh Messenian thứ 2 (Second Messenian War).

    An einen politischen Dichter

    Du singst wie einst Tyrtäus sang,
    Von Heldenmut beseelet,
    Doch hast du schlecht dein Publikum
    Und deine Zeit gewählet.

    Beifällig horchen sie dir zwar,
    Und loben schier begeistert:
    Wie edel dein Gedankenflug,
    Wie du die Form bemeistert.

    Sie pflegen auch beim Glase Wein
    Ein Vivat dir zu bringen,
    Und manchen Schlachtgesang von dir
    Lautbrüllend nachzusingen.

    Der Knecht singt gern ein Freiheitslied
    Des Abends in der Schenke:
    Das fördert die Verdauungskraft
    Und würzet die Getränke.




    THƠ TUYỂN 1845 – 1856 (Nachgelesene Gedichte 1845 – 1856)

    275.KHÁT KHAO TĨNH LẶNG

    Hãy để máu chảy ra từ vết thương
    Và để nước mắt thành dòng chảy xuống
    Trong nỗi buồn có đam mê bí ẩn
    Chẳng có rượu vang nào ngọt ngào hơn.

    Khi bạn gây ra vết thương cho mình
    Mà không phải vì bàn tay ai đó
    Thì bạn hãy nhớ cám ơn Thiên Chúa
    Vì nước mắt đang chảy xuống triền miên.

    Khi tiếng động ngày im ắng, đến đêm
    Bạn sẽ tìm ra lặng yên ở đó
    Không còn tiếng của người ta la ó
    Hay những lời kể khổ của người thân.

    Bạn tìm được nơi trú ẩn cho mình
    Khỏi tiếng nhạc réo rắt như tra tấn
    Khỏi tiếng ồn ào ở Nhà hát Lớn
    Nơi tiếng sáo đàn không ngớt ầm vang.

    Khỏi danh xưng là nghệ sĩ bậc thầy
    Khỏi những lời vang lên như tiếng sấm
    Những lời khen từ năm châu bốn biển
    Trước vinh quang Giacomo thiên tài.

    Ôi ngôi mộ! Thiên đường cho đôi tai
    Trước âm thanh ngọt ngào luôn sợ sệt
    Chết là tốt, nhưng tốt hơn nếu được
    Mẹ đừng sinh ta ra ở trên đời.

    Ruhelechzend

    Laß bluten deine Wunden, laß
    Die Tränen fließen unaufhaltsam -
    Geheime Wollust schwelgt im Schmerz,
    Und Weinen ist ein süßer Balsam.

    Verwundet dich nicht fremde Hand,
    So mußt du selber dich verletzen;
    Auch danke hübsch dem lieben Gott,
    Wenn Zähren deine Wangen netzen.

    Des Tages Lärm verhallt, es steigt
    Die Nacht herab mit langen Flören.
    In ihrem Schoße wird kein Schelm,
    Kein Tölpel deine Ruhe stören.

    Hier bist du sicher vor Musik,
    Vor des Piano-Fortes Folter,
    Und vor der großen Oper Pracht
    Und schrecklichem Bravourgepolter.

    Hier wirst du nicht verfolgt, geplagt
    Vom eitlen Virtuosenpacke
    Und vom Genie Giacomos
    Und seiner Weltberühmtheitsclaque.

    O Grab, du bist das Paradies
    Für pöbelscheue, zarte Ohren -
    Der Tod ist gut, doch besser wärs,
    Die Mutter hätt uns nie geboren.


    276.TRONG THÁNG NĂM

    Những bạn bè tôi quí trọng, mến thương
    Họ làm cho tôi đủ điều khốn khổ
    Tim tôi đau. Nhưng mặt trời vui vẻ
    Luôn mỉm cười để chào đón mùa xuân.

    Cây cối đâm chồi. Giữa chốn rừng xanh
    Tiếng của chim hót trên cành vui vẻ
    Những cô gái và hoa cười hớn hở
    Ôi cuộc đời tuyệt đẹp, thật là kinh!

    Tôi mê vương quốc thần chết nhiều hơn
    Vì ở đó không có gì tương phản
    Những con tim khổ đau còn vui sướng
    Trên sông Stige dù nước màu đêm.

    Nơi đó giọng nói, vẻ mặt u buồn
    Có tiếng chim Stymphal ăn thịt
    Và tiếng hát thần trả thù khủng khiếp
    Tiếng chó Xéc-be-rơ vẫn sủa canh chừng.

    Đã đành đấy là xứ sở đau thương
    Thung lũng u sầu, vương quốc bóng tối
    Nơi nữ thần Proserpinen qua lại
    Nhưng hợp hơn với nước mắt người trần.

    Còn ở đây thật nghiệt ngã vô cùng
    Mặt trời và hoa vẫn làm tôi khổ
    Ôi bầu trời, bầu trời xanh danh dự
    Ôi cuộc đời tuyệt đẹp, thật là kinh!
    ______________
    *Trong bài này có một số danh từ cần chú thích như sau: *Vương quốc thần chết (Orkus) – tức xứ sở của thần Orkus trong thần thoại La Mã; **sông Stige dòng sông dưới Địa ngục trong thần thoại Hy Lạp; ***chim Stymphal – là loài chim ăn thịt có lông như mũi tên trong thần thoại Hy Lạp; ****thần trả thù – tức Furies (La Mã), hoặc Erinyes (Hy Lạp) là nữ thần trả thù trong thần thoại Hy Lạp, La Mã; *****Cerberus – là chó săn ba đầu, đuôi rắn canh giữ cổng vào Địa ngục trong thần thoại Hy Lạp; ******Proserpinen – là bà hoàng Âm phủ trong thần thoại Hy Lạp, một năm trở lại trần gian vào mùa xuân nên còn được gọi là là nữ thần mùa xuân.

    Im Mai

    Die Freunde, die ich geküßt und geliebt,
    Die haben das Schlimmste an mir verübt.
    Mein Herze bricht; doch droben die Sonne,
    Lachend begrüßt sie den Monat der Wonne.

    Es blüht der Lenz. Im grünen Wald
    Der lustige Vogelgesang erschallt,
    Und Mädchen und Blumen, sie lächeln jungfräulich -
    O schöne Welt, du bist abscheulich!

    Da lob ich mir den Orkus fast;
    Dort kränkt uns nirgends ein schnöder Kontrast;
    Für leidende Herzen ist es viel besser
    Dort unten am stygischen Nachtgewässer.

    Sein melancholisches Geräusch,
    Der Stymphaliden ödes Gekreisch,
    Der Furien Singsang, so schrill und grell,
    Dazwischen des Cerberus Gebell -

    Das paßt verdrießlich zu Unglück und Qual -
    Im Schattenreich, dem traurigen Tal,
    In Proserpinens verdammten Domänen,
    Ist alles im Einklang mit unseren Tränen.

    Hier oben aber, wie grausamlich
    Sonne und Rosen stechen sie mich!
    Mich höhnt der Himmel, der bläulich und mailich -
    O schöne Welt, du bist abscheulich!


    277.GỬI LAXARƠ

    Hãy bỏ những dụ ngôn
    Và các giả thuyết thánh
    Xin hãy trả lời thẳng
    Câu hỏi của người trần.

    Tại sao người đàng hoàng
    Lại khổ đau, bất hạnh
    Sao những thằng đểu cáng
    Lại hạnh phúc, vinh quang.

    Ai có lỗi? Chúa chăng
    Ngài không đủ quyền hạn?
    Hay Ngài cũng nghịch ngợm?
    Nếu vậy, quả đáng thương.

    Cho đến ngày cuối cùng
    Ta vẫn còn mong muốn
    Chết đất lấp đầy miệng –
    Là câu trả lời chăng?

    Zum Lazarus

    Laß die heilgen Parabolen,
    Laß die frommen Hypothesen -
    Suche die verdammten Fragen
    Ohne Umschweif uns zu lösen.

    Warum schleppt sich blutend, elend,
    Unter Kreuzlast der Gerechte,
    Während glücklich als ein Sieger
    Trabt auf hohem Roß der Schlechte?

    Woran liegt die Schuld? Ist etwa
    Unser Herr nicht ganz allmächtig?
    Oder treibt er selbst den Unfug?
    Ach, das wäre niederträchtig.

    Also fragen wir beständig,
    Bis man uns mit einer Handvoll
    Erde endlich stopft die Mäuler -
    Aber ist das eine Antwort?


    278.MỘT CÔ GÁI TÓC ĐEN

    Một cô gái tóc đen
    Đưa bàn tay ve vuốt
    Mái đầu tôi đã bạc
    Nước mắt chảy ròng ròng.

    Người tôi bị uốn cong
    Nụ hôn làm mù mắt
    Héo hon trong đầu óc
    Vì những nụ hôn nồng.

    Thân tôi như xác chết
    Linh hồn bị cầm tù
    Trên bảo dưới không nghe
    Chẳng biết làm sao được.

    Sự bất lực chết tiệt!
    Giống như một bầy ruồi
    Chỉ đành chịu đựng thôi
    Đành nguyện cầu và khóc.

    Es hatte mein Haupt die schwarze Frau

    Es hatte mein Haupt die schwarze Frau
    Zärtlich an’s Herz geschlossen;
    Ach! meine Haare wurden grau,
    Wo ihre Thränen geflossen.

    Sie küßte mich lahm, sie küßte mich krank,
    Sie küßte mir blind die Augen;
    Das Mark aus meinem Rückgrat trank
    Ihr Mund mit wildem Saugen.

    Mein Leib ist jetzt ein Leichnam, worin
    Der Geist ist eingekerkert –
    Manchmal wird ihm unwirsch zu Sinn,
    Er tobt und rast und berserkert.

    Ohnmächtige Flüche! Dein schlimmster Fluch
    Wird keine Fliege tödten.
    Ertrage die Schickung, und versuch’
    Gelinde zu flennen, zu beten.


    279.SAO NGƯƠI BÒ CHẬM THẾ

    Sao ngươi bò chậm thế
    Hở con sên thời gian
    Ta nằm yên một chỗ
    Đau đớn vì bệnh tình.

    Tia nắng hay hy vọng
    Không còn ghé nhà ta
    Ta biết ngày sắp đến
    Nghĩa trang thay cho nhà.

    Có lẽ ta đã chết
    Từ lâu, chỉ bóng ma
    Đêm đêm lại hiện về
    Lượn lờ trong đầu óc.

    Mà có thể bóng ma
    Từ thời nào xưa cổ
    Về đây để chọn lựa
    Hộp sọ của nhà thơ.

    Trò chơi đến lạ kỳ
    Của những điều mộng mị
    Và bàn tay thi sĩ
    Buổi sáng vẫn làm thơ.

    Wie langsam kriechet sie dahin

    Wie langsam kriechet sie dahin,
    Die Zeit, die schauderhafte Schnecke!
    Ich aber, ganz bewegunglos
    Blieb ich hier auf demselben Flecke.

    In meine dunkle Zelle dringt
    Kein Sonnenstrahl, kein Hoffnungsschimmer;
    Ich weiß, nur mit der Kirchhofsgruft
    Vertausch’ ich dies fatale Zimmer.

    Vielleicht bin ich gestorben längst;
    Es sind vielleicht nur Spukgestalten
    Die Phantasieen, die des Nachts
    Im Hirn den bunten Umzug halten.

    Es mögen wohl Gespenster sein,
    Altheidnisch göttlichen Gelichters;
    Sie wählen gern zum Tummelplatz
    Den Schädel eines todten Dichters. –

    Die schaurig süßen Orgia,
    Das nächtlich tolle Geistertreiben,
    Sucht des Poeten Leichenhand
    Manchmal am Morgen aufzuschreiben.


    280.TỪNG ĐI QUA BAO VÙNG

    Từng đi qua bao vùng
    Nhiều bông hoa đã thấy
    Nhưng vì lười, không hái
    Chỉ kiêu hãnh đi ngang.

    Giờ bất hạnh, đáng thương
    Giờ sắp nằm trong mộ
    Tôi lại nghe rất rõ
    Mùi hoa từng bỏ quên.

    Có một bông hoa vàng
    Cháy lên trong đầu óc
    Thấy tiếc đến day dứt
    Không thưởng thức một lần.

    Chỉ còn an ủi rằng
    Sông Lethe quyền lực
    Sẽ giúp người ngu ngốc
    Quên trong đêm dịu dàng.
    ____________
    *Lethe – dòng sông Quên lãng ở dưới Địa ngục được nói đến trong nhiều tác phẩm cổ, mà đặc biệt là trong “Thần Khúc” của Dante Alighieri.

    Einst sah ich viele Blumen blühen

    Einst sah ich viele Blumen blühen
    An meinem Weg; jedoch zu faul,
    Mich pflückend nieder zu bemühen,
    Ritt ich vorbei auf stolzem Gaul.

    Jetzt, wo ich todessiech und elend,
    Jetzt, wo geschaufelt schon die Gruft,
    Oft im Gedächtniß höhnend, quälend,
    Spukt der verschmähten Blumen Duft.

    Besonders eine feuergelbe
    Viole brennt mir stets im Hirn.
    Wie reut es mich, daß ich dieselbe
    Nicht einst genoß, die tolle Dirn.

    Mein Trost ist: Lethe’s Wasser haben
    Noch jetzt verloren nicht die Macht,
    Das dumme Menschenherz zu laben
    Mit des Vergessens süßer Nacht.




    281.HÌNH DẠNG CỦA NHÂN SƯ

    Hình dạng của Nhân sư*
    Gán vào người phụ nữ
    Chỉ khác phần phụ là
    Thân hình con sư tử.

    Bóng đen của cái chết
    Đây quả đúng Nhân sư
    Câu hỏi không giải ra
    Cha của chàng Ê-đíp**.

    Cũng may, lời giải đáp
    Tôi không đủ sức làm
    Nếu không, cả thế gian
    Sẽ hoang tàn đổ nát.
    ___________
    *Nhân sư (Sphinx) - là một nhân vật thần thoại biến thái động vật được thể hiện bằng một con sư tử nằm với một cái đầu người phụ nữ. Người Hy Lạp cổ cho là một quái vật nữ, “kẻ bóp cổ”, một nhân vật cổ của thần thoại Hy Lạp.
    **Ê-đíp (Oedipus) – là con trai của vua Laius và hoàng hậu Jocasta thành Thebes (Hy Lạp). Từ trước khi chàng ra đời, có một lời sấm cho rằng chàng là người sẽ giết vua cha và cưới mẹ chàng. Vì vậy, Laius lo sợ và ông đã bàn với hoàng hậu là phải giết Oedipus do sợ chàng sẽ giết cha, cưới mẹ. Cuối cùng, Oedipus lại được giấu đi, và được một người khác nuôi ở nơi khác. Khi chàng lớn lên, lúc đó xứ Thebes gặp một tai họa lớn, có một con Nhân sư quái ác thường ra một câu đố oái oăm, ai không trả lời được thì nó xé xác. Vua Laius nghe tin, ông đi tới trả lời câu hỏi của nó, ở đây Oedipus gặp Laius, họ tranh cãi về hướng đi rồi Oedipus giết Laius mà không biết đó là cha mình. Oedipus tiếp tục đi về Thebes và giải phóng vương quốc này bằng cách giải được câu đố của Nhân sư. Chàng được phong làm vua và cưới hoàng hậu Jocasta góa phụ mà không hề biết đó là mẹ mình. Ngày kia, có một hầu cận già của vua Laius đã cho biết câu chuyện. Khi đó hoàng hậu Jocasta tự tử, Oedipus lấy cái trâm trên đầu hoàng hậu mà chọc đui mắt của mình.


    Die Gestalt der wahren Sphinx

    Die Gestalt der wahren Sphinx
    Weicht nicht ab von der des Weibes;
    Faselei ist jener Zusatz
    Des betatzten Löwenleibes.

    Todesdunkel ist das Rätsel
    Dieser wahren Sphinx. Es hatte
    Kein so schweres zu erraten
    Frau Jokastens Sohn und Gatte.

    Doch zum Glücke kennt sein eignes
    Rätsel nicht das Frauenzimmer;
    Spräch es aus das Lösungswort,
    Fiele diese Welt in Trümmer.


    282.BA CÔ Ở NGÃ TƯ

    Ba cô ở ngã tư
    Ngồi quay tơ xe chỉ
    Họ thở dài, suy nghĩ
    Khi xâu chỉ, xe tơ.

    Người đầu tiên phải lo
    Xâu chỉ vào guồng sợi
    Phải ngậm ướt đầu chỉ
    Môi lúc nào cũng khô.

    Người thứ hai xoay trục
    Để kéo dài vòng đời
    Công việc đến buồn cười
    Nên mắt cô đỏ rực.

    Trong tay cô thứ ba
    Là một chiếc kéo lớn
    Cô hát bài Thánh ca
    Trên mũi cô đầy mụn.

    Thôi hãy cắt cho chóng
    Sợi chỉ chuộc đời tôi
    Để kết thúc cuộc đời
    Khổ đau và cay đắng!
    ___________
    *Ba cô – tức ba nữ thần của số phận con người trong thần thoại Hy Lạp (Moirai), La Mã (Parcae). Trong đó Làchesis xâu chỉ (bắt đầu cuộc đời), Cloto kéo sợi (kéo dài cuộc đời) và Atropos cắt chỉ (kết thúc cuộc đời).

    Es sitzen am Kreuzweg drei Frauen

    Es sitzen am Kreuzweg drei Frauen,
    Sie grinsen und spinnen,
    Sie seufzen und sinnen;
    Sie sind gar häßlich anzuschauen.

    Die erste trägt den Rocken,
    Sie dreht die Fäden,
    Befeuchtet jeden;
    Deshalb ist die Hängelippe so trocken.

    Die zweite läßt tanzen die Spindel;
    Das wirbelt im Kreise,
    In drolliger Weise;
    Die Augen der Alten sind rot wie Zindel.

    Es hält die dritte Parze
    In Händen die Schere,
    Sie summt Miserere;
    Die Nase ist spitz, drauf sitzt eine Warze.

    O spute dich und zerschneide
    Den Faden, den bösen,
    Und laß mich genesen
    Von diesem schrecklichen Lebensleide!


    283.LỜI KHUYÊN CHÂN THÀNH

    Đừng e ngại, rụt rè
    Hãy ra tay hành động
    Rồi bạn sẽ được dẫn
    Cô dâu đến nhà thờ.

    Nhớ cho nhạc công tiền
    Để họ chơi vui vẻ
    Khi ôm hôn mẹ vợ
    Nghĩ: “Hãy biến cho nhanh”.

    Khen ngợi các quí ông
    Đừng làm phiền phụ nữ
    Nếu thịt lợn đã mổ
    Thì đừng tiếc giăm bông.

    Nếu Giáo hội không thương
    Hãy thường xuyên thăm họ
    Nếu Linh mục ở đó
    Biếu ông chai rượu vang.

    Nếu ngứa ngáy trong mình
    Hãy gãi trong danh dự
    Nếu giày đẹp không có
    Cứ việc đi dép thường.

    Nếu người vợ yêu thương
    Nấu món xúp mặn quá
    Thì cười: “Búp bê ạ
    Xúp em nấu rất ngon”.

    Nếu vợ cần chiếc khăn
    Mua tặng nàng hai chiếc
    Đồ trang sức vàng bạc
    Nhớ mua tặng cho nàng.

    Hãy làm theo lời khuyên
    Và bạn sẽ thỏa mãn
    Sống dưới đất yên ổn
    Chết được lên thiên đàng.

    Guter Rat

    Laß dein Grämen und dein Schämen!
    Werbe keck und fordre laut,
    Und man wird sich dir bequemen,
    Und du führest heim die Braut.

    Wirf dein Gold den Musikanten,
    Denn die Fiedel macht das Fest;
    Küsse deine Schwiegertanten,
    Denkst du gleich: Hol euch die Pest!

    Rede gut von einem Fürsten,
    Und nicht schlecht von einer Frau;
    Knickre nicht mit deinen Würsten,
    Wenn du schlachtest eine Sau.

    Ist die Kirche dir verhaßt, Tor,
    Desto öfter geh hinein;
    Zieh den Hut ab vor dem Pastor,
    Schick ihm auch ein Fläschchen Wein.

    Fühlst du irgendwo ein Jücken,
    Kratze dich als Ehrenmann;
    Wenn dich deine Schuhe drücken,
    Nun, so zieh Pantoffeln an.

    Hat versalzen dir die Suppe
    Deine Frau, bezähm die Wut,
    Sag ihr lächelnd: Süße Puppe,
    Alles was du kochst ist gut.

    Trägt nach einem Schal Verlangen
    Deine Frau, so kauf ihr zwei;
    Kauf ihr Spitzen, goldne Spangen
    Und Juwelen noch dabei.

    Wirst du diesen Rat erproben,
    Dann, mein Freund! genießest du
    Einst das Himmelreich dort oben,
    Und du hast auf Erden Ruh.


    284.VỢ CHỒNG KẺ CẮP

    Khi Laura say sưa
    Hôn tôi và âu yếm
    Thì anh chồng khốn nạn
    Lấy sạch tiền của tôi.

    Bây giờ túi tôi rỗng
    Chẳng lẽ tại Laura
    Lẽ thật là cái gì?
    Phi-lát đâu cần chứng*.

    Thế giới này dối gian
    Tôi cần mau từ giã
    Sống mà không có tiền
    Coi như chết một nửa.

    Hỡi những hồn hằng phúc
    Tôi muốn về đó ngay
    Nơi đó có đủ đầy
    Không ai cần ăn cắp.
    _______
    *Lẽ thật là cái gì? – đây là câu mà quan xét xử Phi-lát hỏi Giêsu trong Kinh Thánh (Giăng, 18: 38).

    Schnapphahn und Schnapphenne

    Derweilen auf dem Lotterbette
    Mich Lauras Arm umschlang - der Fuchs,
    Ihr Herr Gemahl, aus meiner Buchs
    Stibitzt er mir die Bankbillette.

    Da steh ich nun mit leeren Taschen!
    War Lauras Kuß gleichfalls nur Lug?
    Ach! Was ist Wahrheit? Also frug
    Pilat und tät die Händ sich waschen.

    Die böse Welt, die so verdorben,
    Verlaß ich bald, die böse Welt.
    Ich merke: hat der Mensch kein Geld,
    So ist der Mensch schon halb gestorben.

    Nach Euch, Ihr ehrlich reinen Seelen,
    Die Ihr bewohnt das Reich des Lichts,
    Sehnt sich mein Herz. Dort braucht Ihr nichts,
    Und braucht deshalb auch nicht zu stehlen.


    285.ĐỪNG NHỚ ĐẾN HẮN TA

    “Đừng nhớ đến hắn ta!”
    Nhiều lần tôi nghe thấy
    Bà Esther Wolf nói vậy
    Tôi còn nhớ đến giờ.

    Người đời quên hắn ta
    Sẽ không còn dấu vết
    Kẻ đáng nguyền rủa nhất
    Đừng nhớ đến hắn ta!

    Dù trong trái tim kia
    Máu sôi như cơn lũ
    Nhưng đừng nhắc về nó
    Đừng nhớ đến hắn ta!

    Đừng nhớ đến hắn ta!
    Trong lời ca, trong sách
    Cứ để cho hắn chết
    Như con chó trong mồ.

    Cả khi kèn gọi ra
    Người chết nằm trong mộ
    Khi trong ngày phán xử
    Đám đông đứng trước tòa.

    Thiên thần sẽ gọi ra
    Ai phải về địa ngục
    Ai thiên đường hạnh phúc
    Đừng nhớ đến hắn ta!

    Nicht gedacht soll seiner werden!

    »Nicht gedacht soll seiner werden!«
    Aus dem Mund der armen alten
    Esther Wolf hört ich die Worte,
    Die ich treu im Sinn behalten.

    Ausgelöscht sein aus der Menschen
    Angedenken hier auf Erden,
    Ist die Blume der Verwünschung -
    Nicht gedacht soll seiner werden!

    Herz, mein Herz, ström aus die Fluten
    Deiner Klagen und Beschwerden,
    Doch von ihm sei nie die Rede -
    Nicht gedacht soll seiner werden!

    Nicht gedacht soll seiner werden,
    Nicht im Liede, nicht im Buche -
    Dunkler Hund im dunkeln Grabe,
    Du verfaulst mit meinem Fluche!

    Selbst am Auferstehungstage,
    Wenn, geweckt von den Fanfaren
    Der Posaunen, schlotternd wallen
    Zum Gericht die Totenscharen,

    Und alldort der Engel abliest
    Vor den göttlichen Behörden
    Alle Namen der Geladnen -
    Nicht gedacht soll seiner werden!


    286.VỚI NHỮNG NGƯỜI HẠNH PHÚC

    Với những người hạnh phúc
    Tôi không ghen cuộc đời
    Nhưng tôi ghen họ chết
    Thật nhàn nhã, thảnh thơi.

    Đang trong bữa tiệc vui
    Mặc áo quần sang trọng
    Bỗng tử thần ập đến
    Dùng lưỡi hái bắt ngay.

    Quần áo đẹp, hoa tươi
    Như khi đang còn sống
    Vào vương quốc của bóng
    Người yêu của thần tài.

    Không đau ốm liệt giường
    Cái chết là ân sủng
    Và được đến cung điện
    Của nữ thần mùa xuân*.

    Còn tôi đã bảy năm
    Vẫn mong chờ cái chết
    Vậy mà không chết được
    Chỉ dằn vặt trên giường.

    Xin rút ngắn thời gian
    Xin nguyện cầu Thiên Chúa!
    Bởi vì chịu đau khổ
    Tôi không có tài năng.

    Tôi lấy làm ngạc nhiên
    Bởi một điều nghịch lý:
    Sao nhà thơ vui vẻ
    Lại chẳng có hân hoan?

    Hãy cho tôi được chết
    Đừng bắt tôi u buồn
    Để tôi sẽ trở thành
    Người theo đạo Cơ đốc.

    Tôi van xin hết mực
    Theo cách của con chiên:
    Xin Ngài kết thúc giùm
    Kẻ khôi hài số một!
    _____________
    *Proserpine – là nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, qua câu chuyện về nữ thần này, được người đời gọi là nữ thần của mùa xuân.

    Die Söhne des Glückes beneid ich nicht

    Die Söhne des Glückes beneid ich nicht
    Ob ihrem Leben, beneiden
    Will ich sie nur ob ihrem Tod,
    Dem schmerzlos raschen Verscheiden.

    Im Prachtgewand, das Haupt bekränzt
    Und Lachen auf der Lippe,
    Sitzen sie froh beim Lebensbankett -
    Da trifft sie jählings die Hippe.

    Im Festkleid und mit Rosen geschmückt,
    Die noch wie lebend blühten,
    Gelangen in das Schattenreich
    Fortunas Favoriten.

    Nie hatte Siechtum sie entstellt,
    Sind Tote von guter Miene,
    Und huldreich empfängt sie an ihrem Hof
    Zarewna Proserpine.

    Wie sehr muß ich beneiden ihr Los!
    Schon sieben Jahre mit herben,
    Qualvollen Gebresten wälz ich mich
    Am Boden und kann nicht sterben!

    O Gott, verkürze meine Qual,
    Damit man mich bald begrabe;
    Du weißt ja, daß ich kein Talent
    Zum Martyrtume habe.

    Ob deiner Inkonsequenz, o Herr,
    Erlaube, daß ich staune:
    Du schufest den fröhlichsten Dichter, und raubst
    Ihm jetzt seine gute Laune.

    Der Schmerz verdumpft den heitern Sinn
    Und macht mich melancholisch;
    Nimmt nicht der traurige Spaß ein End,
    So werd ich am Ende katholisch.

    Ich heule dir dann die Ohren voll,
    Wie andre gute Christen -
    O Miserere! Verloren geht
    Der beste der Humoristen!


    287.ÔI VĨNH HẰNG

    Ôi Vĩnh hằng, sao mà ngươi dài thế
    Ngươi nhiều hơn, so với cả nghìn năm…
    Một nghìn năm tôi đã từng đốt cháy
    Mà vẫn không tìm ra điểm cuối cùng

    Ôi Vĩnh hằng, sao mà ngươi dài thế
    Ngươi nhiều hơn, so với cả nghìn năm…
    Và cuối cùng quỉ Sa tăng cũng tới
    Gặm nhấm tôi cả da thịt và xương.

    Ewigkeit, wie bist du lang

    Ewigkeit, wie bist du lang,
    Länger noch als tausend Jahr;
    Tausend Jahre brat ich schon,
    Ach! und ich bin noch nicht gar.

    Ewigkeit, wie bist du lang,
    Länger noch als tausend Jahr;
    Und der Satan kommt am End,
    Frißt mich auf mit Haut und Haar.


    288.CÁI CHẾT VỀ BÂY GIỜ TÔI MỚI NÓI

    Cái chết về. Bây giờ tôi mới nói
    Đành bỏ qua thề thốt một lời nguyền
    Rằng con tim đã bao năm nhức nhối
    Một nỗi buồn mòn mỏi chỉ vì em.

    Quan tài đợi. Và bóng đen cau có
    Tôi ngủ quên trong giấc ngủ muôn đời
    Chỉ mình em, Maria, hãy nhớ
    Chỉ mình em khóc thương tiếc cho tôi.

    Bàn tay đẹp em nhớ đừng làm hỏng
    Chỉ thế thôi số phận của con người
    Ai chỉ sống với cuộc đời cao thượng
    Khi chết rồi chỉ còn tiếc mà thôi.

    Es kommt der Tod - jetzt will ich sagen

    Es kommt der Tod - jetzt will ich sagen,
    Was zu verschweigen ewiglich
    Mein Stolz gebot: für dich, für dich,
    Es hat mein Herz für dich geschlagen!

    Der Sarg ist fertig, sie versenken
    Mich in die Gruft. Da hab ich Ruh.
    Doch du, doch du, Maria, du
    Wirst weinen oft und mein gedenken.

    Du ringst sogar die schönen Hände -
    O tröste dich - Das ist das Los,
    Das Menschenlos: - was gut und groß
    Und schön, das nimmt ein schlechtes Ende.


    289.TÔI KHÔNG HỀ QUYẾN RŨ

    Tôi không hề quyến rũ
    Thiếu nữ bằng thơ tình
    Không đụng đến phụ nữ
    Nếu người đó có chồng.

    Bởi nếu tôi nói phét
    Thì đâu còn xứng danh
    Và bạn sẽ có quyền
    Nhổ nước bọt vào mặt.

    Hab eine Jungfrau nie verführet

    Hab eine Jungfrau nie verführet
    Mit Liebeswort, mit Schmeichelei;
    Ich hab auch nie ein Weib berühret,
    Wußt ich, daß sie vermählet sei.

    Wahrhaftig, wenn es anders wäre,
    Mein Name, er verdiente nicht
    Zu strahlen in dem Buch der Ehre;
    Man dürft mir spucken ins Gesicht.


    290.CHÉN TÌNH TÔI UỐNG CẠN

    Chén tình tôi uống cạn
    Cho đến giọt cuối cùng
    Nó giống như rượu mạnh
    Làm sức lực tiêu tan.

    Bây giờ tôi chuyển sang
    Chén bạn bè nồng ấm
    Giống như cốc trà nóng
    Ấm áp tận ruột gan.

    Geleert hab ich nach Herzenswunsch

    Geleert hab ich nach Herzenswunsch
    Der Liebe Kelch, ganz ausgeleert;
    Das ist ein Trank, der uns verzehrt
    Wie flammenheißer Kognakpunsch.

    Da lob ich mir die laue Wärme
    Der Freundschaft; jedes Seelenweh
    Stillt sie, erquickend die Gedärme
    Wie eine fromme Tasse Tee.


    291.BẠN TÔI ƠI PHẠM THƯỢNG!

    Bạn tôi ơi, phạm thượng!
    Khi bạn làm điều này:
    Bỏ Hanne tròn lẳn
    Để yêu Marianne gầy!

    Nếu yêu thịt – thì bạn
    Được coi là bình thường
    Còn phóng đãng với xương
    Điều này là ghê tởm.

    Quỉ Sa tăng nham hiểm
    Đưa ta vào bẫy đây
    Giống như người ăn mặn
    Bỗng dưng thích ăn chay.

    Welcher Frevel, Freund! Abtrünnig

    Welcher Frevel, Freund! Abtrünnig
    Wirst du deiner fetten Hanne,
    Und du liebst jetzt jene spinnig
    Dürre, magre Marianne!

    Läßt man sich vom Fleische locken,
    Das ist immer noch verzeihlich;
    Aber Buhlschaft mit den Knochen,
    Diese Sünde ist abscheulich!

    Das ist Satans böse Tücke,
    Er verwirret unsre Sinne:
    Wir verlassen eine Dicke,
    Und wir nehmen eine Dünne!


    292.TÔI KHÔNG MÊ ĐỒNG CỎ CHỐN THIÊN ĐÀNG

    Tôi không mê đồng cỏ chốn thiên đàng
    Và cuộc sống ở nơi đầy hằng phúc
    Những phụ nữ dưới đất này xinh đẹp
    Tôi không hề đi kiếm ở trời xanh.

    Cả những cô tiên dịu dàng đôi cánh
    Không thể nào thay thế được vợ tôi
    Cũng không phải trò tiêu khiển như vầy:
    Ngồi trên mây hát những bài Thánh Vịnh.

    Tốt nhất là nơi trần thế, Chúa ơi
    Ngài cho phép cuộc đời tôi tiếp tục
    Tôi chỉ xin sức khỏe cho thân xác
    Và đừng quên cho một ít tiền tiêu.

    Tôi biết thế gian tội lỗi còn nhiều
    Nhưng tôi đã quen và tôi chịu đựng
    Bản thân tôi cũng bao phen lận đận
    Trên con đường còn lắm nước mắt rơi.

    Cảnh lăng xăng bận rộn của người đời
    Chẳng hề làm tôi vui hay buồn bực
    Tôi chỉ thích khoác áo choàng, đi dép
    Ngồi hàn huyên với vợ ở nhà thôi.

    Hãy để cho tôi sống với người này
    Nghe giọng nói ngọt ngào như suối nhạc
    Nhìn vẻ âu yếm dịu dàng trong mắt
    Rất thủy chung, trung thực của vợ tôi.

    Chỉ sức khỏe và một ít tiền tiêu
    Là những điều mà tôi cầu xin Chúa
    Và xin thêm những tháng ngày dài nữa
    Bên người vợ hiền, và chỉ thế thôi.

    Mich locken nicht die Himmelsauen

    Mich locken nicht die Himmelsauen
    Im Paradies, im selgen Land;
    Dort find ich keine schönre Frauen
    Als ich bereits auf Erden fand.

    Kein Engel mit den feinsten Schwingen
    Könnt mir ersetzen dort mein Weib;
    Auf Wolken sitzend Psalmen singen,
    Wär auch nicht just mein Zeitvertreib.

    O Herr! ich glaub, es wär das Beste,
    Du ließest mich in dieser Welt;
    Heil nur zuvor mein Leibgebreste,
    Und sorge auch für etwas Geld.

    Ich weiß, es ist voll Sünd und Laster
    Die Welt; jedoch ich bin einmal
    Gewöhnt, auf diesem Erdpechpflaster
    Zu schlendern durch das Jammertal.

    Genieren wird das Weltgetreibe
    Mich nie, denn selten geh ich aus;
    In Schlafrock und Pantoffeln bleibe
    Ich gern bei meiner Frau zu Haus.

    Laß mich bei ihr! Hör ich sie schwätzen,
    Trinkt meine Seele die Musik
    Der holden Stimme mit Ergötzen.
    So treu und ehrlich ist ihr Blick!

    Gesundheit nur und Geldzulage
    Verlang ich, Herr! O laß mich froh
    Hinleben noch viel schöne Tage
    Bei meiner Frau im statu quo!




    293.NHÃ CA

    Thân thể người phụ nữ
    Quả là một bài thơ
    Do Thượng Đế tạo ra
    Từ ngày đầu sáng tạo.

    Trong một giờ nào đấy
    Ngài đã rất vui mừng
    Từ vật liệu đầu tiên
    Ngài bắt đầu làm chủ.

    Cơ thể người phụ nữ
    Quả là một bài ca
    Mà lời ca tuyệt vời
    Không gì hơn được nữa.

    Ý tưởng của Thượng Đế
    Chính là chiếc cổ trần
    Chính là mái tóc xoăn
    Đặt ở trên đầu nhỏ.

    Núm vú như nụ hồng
    Là bài thơ trào phúng
    Đẹp ngoài sự tưởng tượng
    Là lạch nhỏ cách ngăn.

    Ngài tạo ra cặp đùi
    Như làm bằng nhựa dẻo
    Đằng sau chiếc lá vả
    Là nơi chốn tuyệt vời.

    Thơ Ngài không trìu tượng
    Có da thịt, tay chân
    Biết cười và biết hôn
    Bằng bờ môi âu yếm.

    Thơ ở trong mọi chỗ
    Thơ ở từng bước đi
    Trên trán của bài ca
    Đẹp đến mức hoàn mỹ.

    Con khen Ngài, Thượng Đế
    Trước Ngài, xin cúi mình!
    So với Nhà thơ Thiên
    Con chỉ đồ cẩu thả.

    Con muốn chìm – Lạy Chúa!
    Trong tác phẩm của Ngài
    Suốt cả đêm cả ngày
    Con miệt mài nghiên cứu.

    Suốt cả đêm cả ngày
    Con không ngừng tìm hiểu
    Đôi chân con gầy yếu
    Vì sự nghiên cứu này.

    Das Hohelied

    Des Weibes Leib ist ein Gedicht,
    Das Gott der Herr geschrieben
    Ins große Stammbuch der Natur,
    Als ihn der Geist getrieben.

    Ja, günstig war die Stunde ihm,
    Der Gott war hochbegeistert;
    Er hat den spröden, rebellischen Stoff
    Ganz künstlerisch bemeistert.

    Fürwahr, der Leib des Weibes ist
    Das Hohelied der Lieder;
    Gar wunderbare Strophen sind
    Die schlanken, weißen Glieder.

    O welche göttliche Idee
    Ist dieser Hals, der blanke,
    Worauf sich wiegt der kleine Kopf,
    Der lockige Hauptgedanke!

    Der Brüstchen Rosenknospen sind
    Epigrammatisch gefeilet;
    Unsäglich entzückend ist die Zäsur,
    Die streng den Busen teilet.

    Den plastischen Schöpfer offenbart
    Der Hüften Parallele;
    Der Zwischensatz mit dem Feigenblatt
    Ist auch eine schöne Stelle.

    Das ist kein abstraktes Begriffspoem!
    Das Lied hat Fleisch und Rippen,
    Hat Hand und Fuß; es lacht und küßt
    Mit schöngereimten Lippen.

    Hier atmet wahre Poesie!
    Anmut in jeder Wendung!
    Und auf der Stirne trägt das Lied
    Den Stempel der Vollendung.

    Lobsingen will ich dir, o Herr,
    Und dich im Staub anbeten!
    Wir sind nur Stümper gegen dich,
    Den himmlischen Poeten.

    Versenken will ich mich, o Herr,
    In deines Liedes Prächten;
    Ich widme seinem Studium
    Den Tag mitsamt den Nächten.

    Ja, Tag und Nacht studier ich dran,
    Will keine Zeit verlieren;
    Die Beine werden mir so dünn -
    Das kommt vom vielen Studieren.


    294.HỌC THUYẾT

    Hãy đánh trống thật to
    Hãy hôn nàng thắm thiết
    Đấy là môn khoa học
    Đấy ý nghĩa sâu xa.

    Người đang ngủ hãy thức
    Bằng sức sống trẻ trung
    Đánh trống khi diễu hành
    Đấy là môn khoa học.

    Đấy triết học Hegel
    Ý nghĩa sâu xa nhất
    Vì tôi tay trống tốt
    Vì tôi người thông minh.

    Doktrin

    Schlage die Trommel und fürchte dich nicht,
    Und küsse die Marketenderin!
    Das ist die ganze Wissenschaft,
    Das ist der Bücher tiefster Sinn.

    Trommle die Leute aus dem Schlaf,
    Trommle Reveille mit Jugendkraft,
    Marschiere trommelnd immer voran,
    Das ist die ganze Wissenschaft.

    Das ist die Hegelsche Philosophie,
    Das ist der Bücher tiefster Sinn!
    Ich hab sie begriffen, weil ich gescheit,
    Und weil ich ein guter Tambour bin.


    295.ADAM ĐẦU TIÊN

    Ngài phái những thiên binh
    Với giáo gươm rực lửa
    Đuổi con khỏi thiên đàng
    Vì tội con phạm phải.

    Con với vợ của mình
    Sống ở cõi trần gian
    Nhưng vẫn mê trái cấm
    Ngài không thể cấm con.

    Con đã biết được rằng
    Điều đó thật đáng thương
    Dù cái chết, sấm sét
    Ngài vẫn dọa chúng con.

    Và lại cũng đáng thương
    “Ta khuyên ngươi hãy biến!”
    Và cả thứ ánh sáng
    “Ánh sáng cho thế gian!”

    Không thể nào tưởng tượng
    Không thể nào hình dung
    Sao lại gọi Thiên đường
    Mà vẫn còn trái cấm?

    Con muốn tự do hẳn
    Không cấm đoán điều chi
    Thiên đường mà cấm đoán
    Là Địa ngục, Nhà tù.
    ______________
    *Consilium-abeundi! (lời khuyên ra đi – tiếng Latinh); Lumen-Mundi! (ánh sáng cho thế gian – tiếng Latinh).

    Adam der Erste

    Du schicktest mit dem Flammenschwert
    Den himmlischen Gensd’armen,
    Und jagtest mich aus dem Paradies,
    Ganz ohne Recht und Erbarmen!

    Ich ziehe fort mit meiner Frau
    Nach and’ren Erdenländern;
    Doch daß ich genossen des Wissens Frucht,
    Das kannst du nicht mehr ändern.

    Du kannst nicht ändern, daß ich weiß
    Wie sehr du klein und nichtig,
    Und machst du dich auch noch so sehr
    Durch Tod und Donnern wichtig.

    O Gott! wie erbärmlich ist doch dies
    Consilium-abeundi!
    Das nenne ich einen Magnifikus
    Der Welt, ein Lumen-Mundi!

    Vermissen werde ich nimmermehr
    Die paradiesischen Räume;
    Das war kein wahres Paradies –
    Es gab dort verbotene Bäume.

    Ich will mein volles Freiheitsrecht!
    Find’ ich die g’ringste Beschränkniß,
    Verwandelt sich mir das Paradies
    In Hölle und Gefängniß.



    296.ĐIỀU BÍ MẬT

    Không thổn thức, lệ rơi
    Dù tiếng cười nghe rõ
    Trong mắt không thấy rõ
    Bí mật giấu trong tôi.

    Ẩn giấu tận trong lòng
    Nỗi khổ đau câm nín
    Con tim dù đau đớn
    Miệng vẫn cứ lặng im.

    Hãy hỏi trẻ trong nôi
    Người chết rồi trong mộ
    Có lẽ họ biết rõ
    Điều bí mật trong tôi.

    Geheimnis

    Wir seufzen nicht, das Aug ist trocken,
    Wir lächeln oft, wir lachen gar!
    In keinem Blick, in keiner Miene,
    Wird das Geheimnis offenbar.

    Mit seinen stummen Qualen liegt es
    In unsrer Seele blutgem Grund;
    Wird es auch laut im wilden Herzen,
    Krampfhaft verschlossen bleibt der Mund.

    Frag du den Säugling in der Wiege,
    Frag du die Toten in dem Grab,
    Vielleicht daß diese dir entdecken,
    Was ich dir stets verschwiegen hab.


    297.SỰ THOÁI HÓA

    Thiên nhiên cũng xuống cấp
    Đều gian dối cả thôi
    Cả động vật, thực vật
    Cũng gian dối như người.

    Huệ không còn trinh trắng
    Tôi đã chẳng còn tin
    Bướm lượn vòng âu yếm
    Thì đâu còn trắng trong.

    Hoa tím vốn khiêm nhường
    Giờ không còn thế nữa
    Loài hoa này giờ đã
    Khao khát sự vinh quang.

    Tình cảm đã không còn
    Trong lời sơn ca hót
    Và tiếng lòng thổn thức
    Dường như chỉ thói quen.

    Sự thật, lòng thủy chung
    Đều biến mất đâu cả
    Cái vẫy đuôi của chó
    Không còn vẻ trung thành.

    Entartung

    Hat die Natur sich auch verschlechtert,
    Und nimmt sie Menschenfehler an?
    Mich dünkt, die Pflanzen und die Tiere,
    Sie lügen jetzt wie jedermann.

    Ich glaub nicht an der Lilje Keuschheit,
    Es buhlt mit ihr der bunte Geck,
    Der Schmetterling; er küßt und flattert
    Am End mit ihrer Unschuld weg.

    Von der Bescheidenheit der Veilchen
    Halt ich nicht viel. Die kleine Blum,
    Mit den koketten Düften lockt sie,
    Und heimlich dürstet sie nach Ruhm.

    Ich zweifle auch, ob sie empfindet,
    Die Nachtigall, das was sie singt;
    Sie übertreibt und schluchzt und trillert
    Nur aus Routine, wie mich dünkt.

    Die Wahrheit schwindet von der Erde,
    Auch mit der Treu ist es vorbei.
    Die Hunde wedeln noch und stinken
    Wie sonst, doch sind sie nicht mehr treu.


    298.BÊN KIA SÔNG RANH

    Giữa đồng cỏ hoang sơ
    Giữa hoa hồng thơm ngát
    Láu lỉnh và khù khờ
    Yêu nhau theo đủ cách
    Trong nghệ thuật tình yêu
    Bậc thầy là người Pháp.

    Còn chúng ta hiểu nhau
    Người Đức chỉ biết ghét
    Chất chứa ở trong đầu
    Hận thù như thuốc độc
    Giá như mà đem rót
    Thùng Hai-đơ-béc bé teo*.
    ________________
    *Thùng ở Heidelberg – là một chiếc thùng cực lớn bằng gỗ sồi có dung tích 212.422 lít dùng để ủ rượu vang được đặt ngầm dưới một tòa lâu đài. Đây là một danh thắng nổi tiếng của thành phố Heidelberg.

    Diesseits und jenseits des Rheins

    Sanftes Rasen, wildes Kosen,
    Tändeln mit den glühnden Rosen,
    Holde Lüge, süßer Dunst,
    Die Veredlung roher Brunst,
    Kurz, der Liebe heitre Kunst -
    Da seid Meister ihr, Franzosen!

    Aber wir verstehn uns baß,
    Wir Germanen, auf den Haß.
    Aus Gemütes Tiefen quillt er,
    Deutscher Haß! Doch riesig schwillt er,
    Und mit seinem Gifte füllt er
    Schier das Heidelberger Faß.


    Thùng Hai-đơ-béc

    299.NƯỚC ĐỨC QUÊ HƯƠNG TÔI

    Nước Đức quê hương tôi
    Đâu cũng có cây đời
    Trái chín mọng, nhưng khổ
    Hình nộm dọa khắp nơi.

    Ta như bầy chim sẻ
    Sợ yêu tinh, quỉ sứ
    Nhìn anh đào nở hoa
    Mà đành lòng nín chịu.

    Anh đào đỏ, nhưng hột
    Bên trong là cái chết
    Chỉ ở trên trời cao
    Có anh đào không hột.

    Chúa Cha – Con – Thánh thần
    Mà hồn ta ngợi khen
    Khát khao cái vĩnh cửu
    Linh hồn Đức đáng thương.

    Chỉ nơi có thiên thần
    Là hạnh phúc muôn năm
    Còn ở đây đau khổ
    Anh đào cũng chua lòm.

    Im lieben Deutschland daheime

    Im lieben Deutschland daheime,
    Da wachsen viel Lebensbäume;
    Doch lockt die Kirsche noch so sehr,
    Die Vogelscheuche schreckt noch mehr.

    Wir lassen uns wie Spatzen
    Einschüchtern von Teufelsfratzen;
    Wie auch die Kirsche lacht und blüht,
    Wir singen ein Entsagungslied:

    Die Kirschen sind von außen rot,
    Doch drinnen steckt als Kern der Tod;
    Nur droben, wo die Sterne,
    Gibts Kirschen ohne Kerne.

    Gott Vater, Gott Sohn, Gott heiliger Geist,
    Die unsere Seele lobt und preist -
    Nach diesen sehnet ewiglich
    Die arme deutsche Seele sich.

    Nur wo die Engel fliegen,
    Da wächst das ewge Vergnügen;
    Hier unten ist alles Sünd und Leid
    Und saure Kirsche und Bitterkeit.


    300.CELIMENE

    Đừng nghĩ tôi ngu dốt
    Mà bỏ quá cho em
    Đừng nghĩ tôi thiên thần
    Lỗi lầm đều tha tuốt.

    Chỉ với tôi mà thôi
    Bởi vì tôi nhẫn nhục
    Còn nếu như người khác
    Họ đã giết em rồi.

    Thập ác nặng cho tôi
    Nhưng kiên trì chịu đựng
    Lỗi lầm tôi đã phạm
    Bởi vì yêu em rồi.

    Em – Tĩnh ngục của tôi
    Nhưng vì vòng tay xấu
    Tôi sẽ xin chuộc tội
    Bằng ân sủng của Ngài.

    Celimene

    Glaube nicht, daß ich aus Dummheit
    Dulde deine Teufeleien;
    Glaub auch nicht, ich sei ein Herrgott,
    Der gewohnt ist zu verzeihen.

    Deine Nücken, deine Tücken
    Hab ich freilich still ertragen.
    Andre Leut an meinem Platze
    Hätten längst dich tot geschlagen.

    Schweres Kreuz! Gleichviel, ich schlepp es!
    Wirst mich stets geduldig finden -
    Wisse, Weib, daß ich dich liebe,
    Um zu büßen meine Sünden.

    Ja, du bist mein Fegefeuer,
    Doch aus deinen schlimmen Armen
    Wird geläutert mich erlösen
    Gottes Gnade und Erbarmen.


    301.CUỘC ĐỜI CỦA TÔI

    Cuộc đời của tôi xưa nay tôi vẫn
    Đem dâng cho những ham muốn nhất thời
    Và lần này lại nếm vị đắng cay
    Con tim của ta ơi đừng than vãn.

    Như người Xắc-xông từ xưa đã nói
    “Người hạnh phúc sống theo số phận mình”
    Cuộc đời đã trôi qua, tôi bằng lòng
    Và con tim tôi chẳng hề tiếc nuối.

    Niềm hạnh phúc mà tôi từng nếm trải
    Tôi cảm nhận rằng đấy chỉ phút giây
    Nhưng ai người trong khoái lạc ngất ngây
    Lại đi tính đếm những giờ khắc ấy.

    Bởi hạnh phúc là cả cõi vĩnh hằng
    Nơi ngọn lửa của tình yêu bừng cháy
    Tất cả đam mê cùng hòa nhập lại
    Chẳng có không gian, chẳng có thời gian.

    Für eine Grille - keckes Wagen!

    Für eine Grille - keckes Wagen! -
    Hab ich das Leben eingesetzt;
    Und nun das Spiel verloren jetzt,
    Mein Herz, du darfst dich nicht beklagen.

    Die Sachsen sagen: »Minschenwille
    Ist Minschen-Himmelryk« - Ich gab
    Das Leben hin, jedoch ich hab
    Verwirklicht meines Herzens Grille!

    Die Seligkeit, die ich empfunden
    Darob, war nur von kurzer Frist:
    Doch wer von Wonne trunken ist,
    Der rechnet nicht nach eitel Stunden.

    Wo Seligkeit, ist Ewigkeit;
    Hier lodern alle Liebesflammen
    In eine einzge Glut zusammen,
    Hier gibt es weder Raum noch Zeit.


+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2 trong 2 Đầu tiênĐầu tiên 1 2

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi tập tin đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn