+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Nghi lễ cưới xin ở Bình Định

  1. #1
    Gia nhập
    Feb 2007
    Bài gởi
    62

    Smile Nghi lễ cưới xin ở Bình Định


    Tỉnh Bình Định hiện nay có các dân tộc đang sinh sống:Kinh, Bana, Chăm, Hoa, Tày, Nùng, Thái...

    Người Việt cư trú chủ yếu ở đồng bằng, thành phố, huyện lỵ... số lượng người Tày, Nùng... ở Bình Định không nhiều .Chính vì lẽ đó ,các dân tộc thiểu số ở Bình Định chủ yếu la dân tộc Kinh, Bana, Chăm...

    Đám cưới người Việt ở Bình Định đã có những bước cải tiến nhằm phụ hợp với tiến trình của lịch sử, và phong tục tập quán, văn hóa của địa phương. Nghi lễ nghiêng về xã hội tính và đi vào dân gian nhiều hơn là thể hiện tính thuộc lưu, bác học; đã có nhiều ước lệ thoải mái cho trai gái hơn và chuyện trao đổi sui gia cũng không quá nặng câu nệ phép tắt như thời xưa.

    Ngày nay đám cưới của dân tộc Bình Định có tính cởi mở nhiều và ngày càng giản lược, nhất là từ khi thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới xin....

    Nửa đầu thế kỉ hai mươi, dám cưới bắt đầu diễn ra lối tân thời, thông qua văn hóa phương tây, du nhập vào Việt Nam .Ở các thành phố lớn, đám cươi thể hiện sự kết hợp nếp cưới truyền thống (y phục, hôn nhân, sắp đặt, mai mối, thách cưới, phù dâu, nghi thức xin dâu...) với những nét tân thời (âu phục thiệp mời...). Lời chúc trong đám cưới biểu lộ mong ước cho đôi vợ chồng mới sẽ hạnh phúc "đầu bạc răng long, con đàn cháu đống''...

    Đám cưới người Việt ở Bình Định trải qua các bước bắn tin, dạm ngỏ đàn gái ăn dặm hay vấn danh, ngày nay không còn , hầu như trao cho đôi trai gái tư quyết, cha mẹ hai bên chấp thuận thì hai bên trao đổi thống nhất ngày tổ chức lễ hỏi các bươc duy trì như sau đây :

    1. Lễ hỏi hay nạp lệ:

    Nghi lễ này ngày nay vẫn còn giữ gìn và phát huy. Đồng thời để tiến hành lễ cưới, ngoài quá trình chuẩn bị và thống ngày giờ tổ chức lễ cưới ,đôi trai gái còn có môt nghi lễ kéo dài gần mười năm nay: nghi thức nhận chứng nhận của ủy ban nhân dân xã của một trong hai nơi (địa phương nhà gái hay nhà trai)cấp .

    Giai đoạn lễ cưới và hỏi có một nghi thức nữa là đại nạp. Ngày nay nghi thức nay đã tịnh gọn ,thường kết hợp lễ hỏi và đại nạp một lần .

    2. Lễ cưới

    Tùy từng địa phương có nhưng nghi lễ khác nhau.Thông thường ở địa phương thôn quê khi họ hàng nhà trai đến nhà gái thì làm lễ gia tiên, chính quyền, công bố, xin rướt dâu... Nhà gái đến nhà trai có thêm mục gởi gắm con gái.

    Lễ cưới ở khu vực thàng phố đô thị ngày nay ngoài nghi lễ làm ở hai bên nhà, thường còn mời khách ở khách sạn nhà hàng.Có đám cưới phô trương tốn kém. Ở khu vực nông thôn đám cưới diễn ra ôn hòa giữa phong tục xưa kia và thời đại.

    NHT
    Last edited by Bé Múp; 28-03-2007 at 05:54 PM. Lý do: Lỗi nhiều quá :d
    NGUYỄN HỮU THƠ
    Hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương lòng nhân ái của con người.............

  2. #2
    Gia nhập
    Sep 2006
    Bài gởi
    1,415

    Trả lời: Nghi lễ cươi xin ở BÌNH ĐỊNH

    Lễ cưới hỏi của người Bình Định xưa


    Phong tục cưới hỏi của người Nhơn Thành, huyện An Nhơn nói riêng, Bình Định nói chung ngày xưa được tổ chức khá kỹ theo 7 bước: Lễ thăm nhà, Lễ sơ vấn (lễ nói), Lễ hỏi, Lễ đại nạp, Lễ cưới, Lễ nghinh hôn (rước dâu) và Lễ hồi dâu.

    Ở tất cả các lễ trên, trừ lễ hồi dâu nhà trai phải mang đến nhà gái một cặp rượu, một cặp trà, trầu cau và một góc tư rượu trắng, các rượu trà trên sẽ được nhà gái đặt trang trọng nơi bàn thờ như là một sự chấp nhận hôn nhân, còn góc tư rượu trắng thì được rót mời đôi bên khi hành lễ. Xong lễ, nếu còn rượu thì phải sang vào hũ của nhà gái rồi xách chai không về chứ không được xách chai còn rượu. Ngoài ra nhà trai còn có tiền bỏ xiểng để nhà gái làm mâm cổ thết đãi. Riêng ngày đại nạp, ngày cưới còn có các lễ vật như: chục bánh tét, đầu heo, bò, gà cồ và nữ trang, tiền cho cô dâu mua sắm chuẩn bị đám cưới.

    Trong các lễ trên, trừ lễ sơ vấn và lễ thăm nhà còn lại đều có từ 2 đến 6 bé gái 10-15 tuổi bưng quả bánh trái (tùy theo nhà giàu nghèo mà số lượng quả có khác nhau). Khi nhà trai ra về, nhà gái phải lại quả, tức là bỏ lại một phần nhỏ lễ vật trong các quả (lúc bấy giờ đã trống). Ngày nay, người ta không còn lại quả bằng lễ vật mà lại quả bằng tiền như là để cảm ơn các bé gái đã bưng quả (vì thế nên ngày nay từ lại quả thường được dùng trong các hành vi móc ngoặc tiền phần trăm trong các hợp đồng liên quan đến tài chính).

    Ngày xưa, thanh niên nam, nữ ở Nhơn Thành, cũng như ở Bình Định muốn thành vợ chồng phải có người mai mối. Nay tục này hầu như không còn, song vẫn còn rơi rớt ở các cô, cậu muộn mằn chuyện hôn nhân. Mai dong là người có vai trò quan trọng trong cưới hỏi. Ông mai như người liên lạc giữa hai nhà và luôn vun đắp cho cuộc hôn nhân được vuông tròn. Ông mai dong là người ăn nói giỏi giang có tài thuyết phục và xoay trở. Đầu tiên ông mai dong được nhà trai nhờ đánh tiếng dạm hỏi. Nếu được thì tiến hành lễ thăm nhà (hay còn gọi là lễ coi mắt). Đây là bước rất quan trọng, vì nó quyết định cho cả cuộc hôn nhân. Thành phần nhà trai trong lễ thăm nhà tùy theo từng nhà, song không thể thiếu chú rể và ông bố. Lễ thăm nhà (coi mắt) là để chàng trai, cô gái và cha mẹ 2 bên được tận mắt nhìn thấy cô dâu, chú rể tương lai. Vì lâu nay, họ chỉ biết qua lời miêu tả của ông mai dong.

    Sau lễ thăm nhà là lễ sơ vấn (đi nói). Tại lễ này, nếu nhà gái nhận cặp rượu, cặp trà thì coi như hôn nhân đã thành công 90%. Chỉ hạn hữu lắm mới có chuyện trả lễ, vì người Nhơn Thành cũng như người Bình Định quan niệm đã nhận trà rượu của nhà trai thì cũng giống như chấp nhận một đời chồng, nếu trả sẽ lỡ duyên cả đời con gái.

    Rồi đến lễ hỏi và đại nạp. Lễ hỏi là lễ nhà trai mang sính lễ, trầu cau đến chính thức hỏi cưới con dâu, còn nhà gái thì ra điều kiện, lễ vật để nhà trai chuẩn bị (gọi là thách cưới).

    Sau khi chuẩn bị mọi sính lễ theo yêu cầu của nhà gái, thì hai nhà tổ chức lễ đại nạp. Tại lễ này, nhà trai chuẩn bị ngoài lễ vật như trà, rượu bánh trái còn có tiền nát và nữ trang theo yêu cầu của nhà gái. Đây cùng là lúc chú rể trao nhẫn cho cô dâu và chính thức trở thành dâu, con trong hai nhà.

    Sau lễ đại nạp chỉ còn lễ cưới và nghinh dâu. Lễ cưới tiến hành bằng việc chào đón hai họ. Cô dâu chú rể bái lạy gia tiên sau khi ông bố vợ sắm sửa bàn thờ làm lễ cáo gia tiên bằng bài cúng sau:

    Bình Định tỉnh, An Nhơn huyện, Nhơn Thành xã

    Tuế thứ… Niên, cát ngoạt, cát nhật

    Gia chủ... tuổi

    Vợ … tuổi

    Cẩn dĩ hương đăng trà quả, phẩm vật

    Kính dâng: cáo lễ gia tiên

    Nam… tuổi

    Nữ … tuổi

    Gia chủ cung thỉnh

    Ngài Thổ Thần, ngài Táo Quân

    Gia chủ cung thỉnh: Đức ông tơ Hồng, Đức bà Nguyện lão

    Gia chủ cung thỉnh: Tổ tiên, ông bà từ cao đến thấp

    Cung thỉnh quí ngài về chứng giám Lễ kết hôn này.

    Nhờ ơn quí ngài phò hộ cho đôi lứa: Bá niên giai lão, làm ăn khá, sanh con lanh lợi.

    Gia chủ kính dâng lễ vật này để tạ ơn quí ngài.

    Cung thỉnh quí ngài đồng lai phối hưởng.

    Hoàn lễ, gia chủ kính mời quí ngài qui hồi bổn sở!

    Gia chủ kính bái!


    Bài cúng này cũng được dùng cho lễ gia tiên ở nhà đàng trai trước khi đi đón dâu. Người con trai phải làm lễ ở bàn thờ nhà mình, rồi khi tới nhà cô dâu cũng làm lễ gia tiên. Tùy theo nơi, có nơi kỹ hơn còn đưa cô dâu chú rể đến nhà thờ họ hai bên để làm lễ. Việc làm lễ gia tiên trước bàn thờ nhà chồng hoặc nhà vợ chính là dịp để chú rể, cô dâu trình diện với tổ tiên, nhận tổ tiên như tổ tiên nhà mình. Điều này còn có ý nghĩa đề cao vai trò trách nhiệm của dâu rể với tổ tiên dòng họ, buộc họ phải sống sao cho khỏi phụ lòng tổ tiên.

    Sau lễ cáo gia tiên là lễ làng (lễ nộp cheo). Cô dâu chú rể bái lạy già làng, hoặc chức sắc trong làng và xin nộp tiền cheo để rước dâu đi. Có lễ này thì hôn nhân coi như đã được làng chứng kiến đồng thuận.

    Cuối cùng là lễ hai họ và cha mẹ đôi bên rồi đến tiệc cưới mời hai họ, có làng đồng dự.

    Trong ngày cưới, người ta kiêng kỵ nói chuyện chia loan rẽ thúy và rất cẩn thận trong khi dùng chén dĩa, ly tách, vì nếu lỡ làm vỡ sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc lâu bền của hôn nhân.

    Sau lễ cưới là lễ nghinh dâu (rước dâu). Cô dâu nhà giàu được rước bằng kiệu, nhà trung nông thì rước bằng cáng che màn ngũ sắc, nhà vừa vừa thì bằng võng che lọng ngũ sắc, hoặc đi bộ có đội nón chụp bạc, chụp đồi mồi. Lễ này có họ nhà gái đưa dâu đến nhà trai và cũng diễn ra các lễ cáo gia tiên, lễ làng, lễ hai họ và cha mẹ đôi bên như ở lễ cưới. Tại lễ này, nhà gái thưa gởi con dâu và trao của hồi môn cho con gái cùng những lời dặn dò bịn rịn trước lúc ra về. Sau lễ nghinh hôn ba ngày, buổi sáng ngày thứ tư cô dâu được chú rể đưa về thăm nhà, người Nhơn Thành gọi là lễ hồi dâu. Lễ hồi dâu theo nghĩa "nữ tử qui ninh phụ mẫu", tức lần đầu tiên con gái về thăm cha mẹ sau ngày về nhà chồng làm dâu. Lễ vật của lễ hồi dâu là một quả bánh, thường là bánh ít.

    Liên quan đến hôn nhân, ở Nhơn Thành xưa còn có lễ mừng năm cơm mới và lễ tết mừng tuổi thường niên. Các lễ này thường duy trì ba năm sau lễ cưới…

    Như vậy lễ cưới xưa của người Nhơn Thành khá rườm rà và cầu kỳ. Ngày nay, thực hiện chủ trương văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội, người Nhơn Thành cũng như các địa phương khác của Bình Định đã giảm bớt nhiều bước trong lễ cưới hỏi, kể cả lễ vật và tiệc tùng; chỉ còn ba bước gồm: sơ vấn, đại nạp và lễ cưới, thậm chỉ có nhà giảm xuống còn hai bước là sơ vấn và lễ cưới. Tuy tên gọi là thế, nhưng nội dung và hình thức các lễ này cũng hiện đại và giản tiện hơn nhiều.

    Còn các tục lệ như nộp cheo, lễ làng, thách cưới thì đã không còn. Song đến nay vẫn còn tục bưng quả, lại quả, hồi dâu và lễ tết mừng tuổi. Lễ tết mừng tuổi không rườm rà như xưa, mà cô dâu, chú rể chỉ về thăm cha mẹ hai bên trong ngày tết Nguyên đán là đủ. Tục lễ tạ ông mai dong cũng đã không còn. Các chàng trai, cô gái cảm thấy không thoải mái trong việc này, dù họ không còn phải mang theo lễ vật trong lễ hồi dâu hay lễ tết. Tục hồi dâu và tục tết cha mẹ là những lễ tục có giá trị trong việc ứng xử ở gia đình và kính trọng cha mẹ như tục ngữ đã nói: mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ mùng ba tết thầy.


    Mai Thìn

    Last edited by Bé Múp; 13-05-2007 at 01:17 PM.

  3. #3
    Gia nhập
    Feb 2007
    Bài gởi
    62

    Trả lời: Nghi lễ cươi xin ở BÌNH ĐỊNH

    Xem ngày kén giờ

    Việc cưới xin, việc làm nhà cửa, việc vui mừng khai hạ, việc xuất hành đi xa, việc khai trương cửa hàng, cửa hiệu, việc gieo mạ cấy lúa, việc tế tự, việc thương biểu, việc nhập học, việc xuất quân, việc an táng... việc gì thường cũng phải xem ngày kén giờ, nhất là đầu năm mới bắt đầu làm việc gì, hoặc động thổ hoặc xuất hành, hoặc khai bút, khai ấn... lại cần xem ngày lắm. Đến những việc vụn vặt như cạo đầu xỏ tai cho trẻ thơ, việc tắm gội, may áo... cũng có người cẩn thận quá trong kén ngày.

    Kén thì phải xem đến lịch. Sách lịch do toà khâm thiên giám soạn ra. Mỗi năm về ngày mồng một tháng chạp, Hoàng Đế ngự điện khai trào, các quan Khâm thiên giám cung tiến Hiệp Kỷ Lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch khắc nơi...

    Ban lịch trọng thể nhất là để cho thiên hạ biết chính xác nhất tiết khí, tháng thiếu tháng đủ, ngày tốt ngày xấu, để tuân hành được đều nhau.

    Đại để ngày nào có nhiều sao cát tinh như thiên đức, nguyệt đức, thiên ân, thiên hỷ... hoặc là ngày trực khai, trực kiến, trực bình, trực mãn thì là ngày tốt. Ngày nào có những sao hung tính như sao trùng tang, trùng phục, thiên hình, nguyệt phá thì là ngày xấu.

    Kiêng nhất là ngày sát chủ, ngày thụ tử, việc gì cũng phải tránh. Mỗi tháng có ba ngày là ngày năm, mười bốn, hai mươi ba, gọi là ngày nguyệt kỵ, việc gì cũng nên kiêng và nhất là nên kiêng nhập phòng. Trong một năm lại có mười ba ngày gọi là ngày Dương công kỵ nhật, hết thảy việc gì cũng phải tránh những ngày ấy.

    Những ngày ấy là:

    Ngày 13 tháng giêng
    Ngày 11 tháng hai
    Ngày 9 tháng ba
    Ngày 7 tháng tư
    Ngày 5 tháng năm
    Ngày 3 tháng sáu
    Ngày 8, 29 tháng bảy
    Ngày 27 tháng tám
    Ngày 25 tháng chín
    Ngày 23 tháng mười
    Ngày 21 tháng một
    Ngày 19 tháng chạp

    Hễ phạm phải ngày ấy thì việc gì cũng hư hỏng không thành.

    Phàm việc lại cần kén ngày hợp mệnh, mà kiêng ngày tuổi.
    Ngoại giả lại còn những ngày thập linh, ngày đức hợp là tốt, ngày thập ác đại bại, ngày tứ lỵ, ngày tứ tuyệt là xấu.

    Nói qua mấy việc dân gian cần dùng nên kén nên kỵ.

    Cưới xin nên tìm ngày thiên đức, nguyệt đức, kỵ ngày trực phá, trực nguy. Làm nhà nên tìm ngày thiên ân. Thiên hỷ, kỵ ngày thiên hoả, địa hoả và ngày kim lâu. Xuất hành nên tìm ngày lộc mã, hoàng đạo, kỵ ngày trức phá, trực bế. An táng nên tìm ngày thiên hỷ, thiên đức, kỵ ngày tử khí quan phù...
    Còn như kén giờ thì việc gì lúc mới bắt đầu như lúc mới xuất hành, lúc mới ra ngõ đi cưới, lúc mới dựng nhà, lúc hạ huyệt... Thường đều kén lấy giờ hoàng đạo. Phép tính giờ hoàng đạo phải nhớ bốn câu thơ:

    Dần, thân gia tý; mão dậu dần
    Thìn, tuất tầm thìn: tý ngọ thân;
    Tỵ, hợi thiên cương tầm ngọ vị
    Sửu mùi tòng tuất định kỳ chân


    Lại cần phải nhớ hai câu:

    Đạo viễn kỷ thời thông đạt
    Lộ dao hà nhật hoàn trình.


    Lúc đánh giờ trước hết phải biết ngày gì, rồi dùng hai câu thơ dưới mà bấm theo giờ ở bốn câu thơ trên. Hễ bấm mà gặp cung nào có chữ "đạo, viễn, thông, đạt, dao hoàn" thì giờ ấy là giờ hoàng đạo...

    Xét phép chọn ngày, từ đời Đường, Ngu, Tam đại đã có. Song khi bấy giờ thì chỉ tuỳ việc mà chọn ngày: Nội sự dụng nhu, ngoại sự dụng cương. Nội sự là việc trong như việc tế tự cưới xin... thì dùng những ngày âm can là các ngày: ất, đinh, kỷ, tân, quý. Ngoại sự là việc ngoài như đánh dẹp, giao thiệp... thì dùng ngày dương can là các ngày: Giáp, bính, mậu, canh, nhâm. Dùng như thế chỉ có ý làm các việc êm ái, hoà nhã thì theo về ngày âm, việc cứng cáp mạnh mẽ thì theo về ngày dương, nghĩa kén lấy ngày có chút ý nghĩa hợp với nhau mà thôi.

    Đến đời sau các nhà âm dương thuật số mỗi ngày mới bày thêm ra ngày tốt, ngày sao xấu, ngày này nên là việc nọ, ngày kia nên làm việc kia. Hết ngày rồi lại có giờ sinh, giờ hợp, giờ xung, giờ khắc, động làm việc gì cũng phải xem ngày, kén giờ, thực là một việc phiền toái quá. Đã đành làm việc gì cũng nên cẩn thận, mà chọn từng ngày, kén từng giờ mà phí câu nệ khó chịu. Mà xét cho kỹ thì có ích gì đâu, chẳng qua việc thành hay bại cốt do ở người chớ có quan hệ gì ngày tốt hay ngày xấu. Nếu cứ chọn ngày giờ mà nên việc thì không cần gì phải dùng đến sức người nữa hay sao? (Trích "Việt Nam phong tục" Phan Kế Bính)



    Nguồn tin: Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam
    Last edited by Bé Múp; 13-05-2007 at 01:18 PM.
    NGUYỄN HỮU THƠ
    Hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương lòng nhân ái của con người.............

+ Trả Lời Ðề Tài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi tập tin đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn