+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Tỉnh Phú Thọ

  1. #1
    Gia nhập
    Jul 2007
    Bài gởi
    275

    Tỉnh Phú Thọ

    Khái lược lịch sử hình thành tỉnh Phú Thọ

    Hàng nghìn năm qua, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến ngày nay, địa bàn Phú Thọ đã trải qua nhiều đổi thay về địa danh và địa giới hành chính.

    Thời Hùng Vương, địa bàn Phú Thọ nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang. Thời An Dương Vương với Nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ nằm trong huyện Mê Linh.

    Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước công nguyên đến thế kỷ X), Phú Thọ nằm trong địa bàn quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.

    Thời kỳ phong kiến độc lập, đơn vị hành chính nước ta có sự thay đổi, chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang. Đầu triều Nguyễn, Phú Thọ nằm trong hai tỉnh Hưng Hoá và Sơn Tây.

    Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà vua đã tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong nước là tỉnh, điều chuyển một số huyện từ tỉnh nọ sang tỉnh kia, chia tách một số huyện lớn… ở phạm vi hai tỉnh Hưng Hoá và Sơn Tây, chuyển huyện Tam Nông thuộc tỉnh Sơn Tây về Hưng Hoá; năm 1833, tách huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng của tỉnh Hưng Hoá thành hai huyện Thanh Sơn và Thanh Thuỷ.

    Sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp thi hành chính sách chia để trị, lập ra các tỉnh mới địa bàn nhỏ hơn trước để dễ dàng và chủ động đàn áp các phong trào kháng chiến của nhân dân ta. Chúng còn lập ra các quân khu, đạo quan binh, các tiểu quân khu. Một số huyện của tỉnh Sơn Tây và Hưng Hoá nằm trong tiểu quân khu Yên Bái.

    Đối với tỉnh Hưng Hoá, sau khi cắt đi 16 châu, 4 phủ và hai huyện Trấn Yên, Văn Chấn để thành lập các tỉnh mới Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, chính quyền thực dân điều chỉnh một số huyện của tỉnh Sơn Tây sang, cộng với một số huyện còn lại để thành lập tỉnh Hưng Hoá mới.

    Địa phận tỉnh Hưng Hoá được thành lập theo Điều I của Nghị định toàn quyền Đông Dương ngày 8 tháng 9 năm 1891 (là tiền thân của tỉnh Phú Thọ sau này) gồm có:

    1. Các huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ, huyện Thanh Thuỷ bỏ tổng Cự Thắng nhưng tăng thêm tổng Tinh Nhuệ của huyện Thanh Sơn.
    2. Các huyện Sơn Vi, Thanh Ba và Phù Ninh của phủ Lâm Thao tỉnh Sơn Tây.

    Như vậy tỉnh Hưng Hoá mới thành lập có 5 huyện.

    Ngày 9 tháng 12 năm 1892 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chuyển huyện Cẩm Khê nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái về tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 5 tháng 6 năm 1893 huyện Hạ Hoà tách khỏi tiểu quân khu Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Tiếp đó ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh Sơn và Yên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về tỉnh Hưng Hoá. Ngày 24 tháng 8 năm 1895 hai huyện Hùng Quan và Ngọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang thuộc đạo quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hoá. Năm 1900 thành lập thêm huyện Hạc Trì.

    Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hoá (từ làng Phúc Trê huyện Tam Nông) lên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi và từ đây tỉnh Hưng Hoá đổi tên thành tỉnh Phú Thọ với 10 huyện: Tam Nông, Thanh Thuỷ, Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hoà, Hạc Trì, Hùng Quan, Ngọc Quan và hai châu là Thanh Sơn, Yên Lập.

    Từ năm 1903 (năm tỉnh có tên là Phú Thọ) đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản là đơn vị hành chính trong tỉnh không có những thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số huyện và thành lập một số làng xã mới.

    Ngày 22 tháng 10 năm 1907 thành lập thị xã Phú Thọ và thị xã Việt Trì.

    Năm 1919 bỏ tên huyện Sơn Vi đổi gọi là phủ Lâm Thao. Cũng chính năm này hai huyện Hùng Quan và Ngọc Quan hợp nhất thành phủ Đoan Hùng.

    Năm 1939, phủ Đoan Hùng chuyển gọi là châu Đoan Hùng. Cũng năm này huyện Thanh Ba đưa lên thành phủ Thanh Ba.

    Đến năm 1940, tỉnh Phú Thọ bao gồm hai phủ: Lâm Thao, Thanh Ba; sáu huyện: Hạ Hoà, Cẩm Khê, Hạc Trì, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Phù Ninh; ba châu: Thanh Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng; hai thị xã: Phú Thọ, Việt Trì và một thị trấn Hưng Hoá. Toàn tỉnh có 66 tổng, 467 làng xã, 22 phố.

    Cách mạng tháng Tám thành công, về mặt hành chính Nhà nước ta thống nhất gọi là các phủ, châu, huyện là huyện. bỏ cấp tổng và tiến hành hợp nhất các làng nhỏ thành xã. Năm 1946, tỉnh Phú Thọ từ 467 làng cũ hợp nhất thành 106 xã mới. Do có xã quá lớn nên giữa năm 1947 Chính phủ lại chia tách một số xã, đưa số xã từ 106 lên 150 xã.

    Cũng năm 1947, 5 huyện hữu ngạn sông Thao là Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập sát nhập vào khu 14 không thuộc tỉnh Phú Thọ. Đến tháng 2 năm 1948 khu 14 hợp nhất với khu 10 thành liên khu 10.5 huyện hữu ngạn sông Thao lại trở về tỉnh Phú Thọ.

    Thời kỳ cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế sau hoà bình (1955 - 1957) lại có sự điều chỉnh, chia tách các xã, nên số xã từ 150 xã lên 271 xã. Từ năm 1957 trở đi đơn vị xã cơ bản ổn định cho đến ngày nay, chỉ có thay đổi tên gọi một số xã vào cuối năm 1964.

    Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), Bộ Nội vụ ra quyết định thành lập ba thị trấn là thị trấn nông trường Vân Hùng thuộc huyện Đoan Hùng, thị trấn nông trường Vân Lĩnh thuộc huyện Thanh Ba và thị trấn nông trường Phú Sơn thuộc huyện Thanh Sơn. Ngày 4 tháng 6 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 65 thành lập thành phố Việt Trì.

    Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Uỷ banh Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết 504, quyết định hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phú.

    Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178 về việc hợp nhất các huyện trong tỉnh. ở địa bàn Phú Thọ, chỉ có huyện Thanh Sơn là giữ nguyên, còn các huyện khác đều hợp nhất: Tam Nông hợp nhất với Thanh Thuỷ thành huyện Tam Thanh; Lâm Thao hợp nhất với Phù Ninh thành huyện Phong Châu; Cẩm Khê, Yên Lập và 10 xã hữu ngạn sông Thao của Hạ Hoà hợp nhất thành huyện Sông Thao; Thanh Ba, Đoan Hùng và các xã còn lại của Hạ Hoà cùng với 7 xã của Phù Ninh hợp nhất thành huyện Sông Lô. Do địa bàn huyện khá rộng, gây nhiều khó khăn cho công tác chỉ đạo, lãnh đạo, ngày 22 tháng 2 năm 1980, Hội đồng chính phủ ra Quyết định số 377 về sửa đổi một số đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Theo quyết định, Sông Thao tách thành Sông Thao và Yên Lập, Sông Lô chia thành Thanh Hoà và Đoan Hùng.

    Năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định thành lập thị trấn Phong Châu. Tháng 10 năm 1995, hai huyện Thanh Ba và Hạ Hoà tái lập; một tháng sau ( 11 - 1995), Chính phủ ra Nghị định thành lập thị trấn Thanh Ba và thị trấn Đoan Hùng là huyện lỵ của hai huyện trên.

    Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ chính thức được tái lập và đi vào hoạt động ngày 1 tháng 1 năm 1997.

    Đến ngày 28 tháng 5 năm 1997, Chính phủ ra Nghị định số 55 về việc thành lập 6 thị trấn: thị trấn Yên Lập; thị trấn Hạ Hoà; thị trấn Hưng Hoá; thị trấn Lâm Thao; thị trấn Phú Hộ và thị trấn Thanh Sơn.

    Tiếp đến ngày 24 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ra Nghị định số 59 chia tách hai huyện cuối cùng của tỉnh Phú Thọ là Phong Châu và Tam Thanh để tái lập các huyện cũ là Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông và Thanh Thuỷ.

    Phú Thọ có sông Lô là giới hạn tự nhiên với tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc, sông Đà là giới hạn tự nhiên với tỉnh Hà Tây. Phía bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình; phía Đông giáp tỉnh Hà Tây và Vĩnh Phúc; phía Tây giáp tỉnh Sơn La.

    Tỉnh Phú Thọ tái lập (1997) và được công nhận là tỉnh miền núi năm 1998 có diện tích tự nhiên 3.496 km vuông. Theo điều ra dân số năm 1999 có 1.261.900 người, mật độ dân số trung bình 373 người / km vuông, gồm 21 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh chiếm đa số (1.2 triệu người), người Mường hơn 10 vạn, người Dao hơn 6.000 người, Cao Lan hơn 2.000 người… Đến nay toàn tỉnh có 12 huyện, thành, thị đó là 10 huyện: Thanh Sơn, Yên Lập, Sông Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh, thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ với 270 xã, phường, thị trấn, trong đó có 214 xã miền núi.

    Tỉnh Phú Thọ:

    1. Thành phố Việt Trì
    - Diện tích: 63 km vuông
    - Dân số: 132.700 người
    - 16 xã phường

    2. Thị xã Phú Thọ
    - Diện tích: 29 km vuông
    - Dân số: 39.800 người
    - 7 xã phường

    3. Huyện Lâm Thao
    - Diện tích: 130 km vuông
    - Dân số: 122.000 người
    - 17 xã, thị trấn ( + thị trấn Hùng Sơn nữa là 18 ^^)

    4. Huyện Phù Ninh
    - Diện tích: 173 km vuông
    - Dân số: 120.800 người
    - 21 xã, thị trấn

    5. Huyện Tam Nông
    - Diện tích: 155 km vuông
    - Dân số: 79.000 người
    - 19 xã, thị trấn

    6. Huyện Thanh Thuỷ
    - Diện tích: 112 km vuông
    - Dân số: 73.500 người
    - 16 xã, thị trấn

    7. Huyện Thanh Sơn
    - Diện tích: 1337 km vuông
    - Dân số: 183.900 người
    - 40 xã, thị trấn

    8. Huyện Yên Lập
    - Diện tích: 443 km vuông
    - Dân số: 76.600 người
    - 17 xã, thị trấn

    9. Huyện Sông Thao
    - Diện tích: 234 km vuông
    - Dân số: 129.600 người
    - 31 xã, thị trấn

    10. Huyện Đoan Hùng
    - Diện tích: 304 km vuông
    - Dân số: 101.600 người
    - 27 xã, thị trấn

    11. Huyện Thanh Ba
    - Diện tích: 183 km vuông
    - Dân số: 121.200 người
    - 26 xã, thị trấn

    12. Huyện Hạ Hoà
    - Diện tích: 339 km vuông
    - Dân số: 113.900 người
    - 33 xã, thị trấn

    [nguồn: xin cảm ơn bạn Diễm Hằng đã cung cấp các tài liệu trên mà bạn sưu tầm từ các sách vở và các tạp chí)
    Ôi có đôi khi thèm như gió đi hoang
    Sống kiếp lang thang dạo chơi khắp núi rừng...

  2. #2
    Gia nhập
    Jul 2007
    Bài gởi
    275

    Trả lời: Tỉnh Phú Thọ

    Vị trí địa lí

    Phú Thọ có tọa độ địa lý 20.55’ - 21.43’ vĩ độ Bắc, 104.48’ - 105.27’ kinh độ Đông, Bắc giáp Tuyên Quang, Nam giáp Hòa Bình, Đông giáp Vĩnh Phúc và Hà Tây, Tây giáp Sơn La và Yên Bái, ở vị trí tiếp giáp giữa Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, và Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông Bắc. Diện tích chiếm 1,2% diện tích cả nước và chiếm 5,4% diện tích vùng miền núi phía Bắc.

    Với vị trí “ngã ba sông”, cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, cầu nối các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Đông Bắc. Thành phố Việt Trì là thủ phủ của tỉnh, được xác định là trung tâm kinh tế chính trị- kinh tế- xã hội của vùng trung du Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 80 km tính theo đường ô tô và cách các tỉnh xung quanh từ 100km - 300km. Các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía Tây Đông Bắc đều qui tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, như: quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì đi Tuyên Quang - Hà Giang sang Vân Nam - Trung Quốc (đây là tuyến nằm trong hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh); quốc lộ 70 xuất phát từ thị trấn Đoan Hùng đi Yên Bái - Lào Cai và cũng sang Vân Nam - Trung Quốc, tuyến này đang được nâng cấp để trở thành con đường chiến lược Hà Nội - Hải Phòng - Côn Minh (Trung Quốc); quốc lộ 32A nối Hà Nội - Trung Hà - Sơn La, quốc lộ 32B Phú Thọ - Yên Bái với cầu Ngọc Tháp qua sông Hồng tại thị xã Phú Thọ là một phần của đường Hồ Chí Minh, nhánh 32C thuộc hữu ngạn sông Hồng đi thành phố Yên Bái, là những yếu tố thuận lợi để Phú Thọ giao lưu kinh tế với bên ngoài.

    Địa thế

    Có thể chia địa thế Phú thọ thành ba khu vực khác nhau:

    1. Vực sông Thao: thung lũng sông Thao ở giữa tỉnh và hướng theo chiều Tây Bắc – Đông Nam. Thung lũng này về phía mạn Băc còn hẹp, song càng xuống phía Nam càng rộng. Đến Việt Trì, bề ngang có tới 10km.

    2. Hữu ngạn: giữa sông Thao và sông Đà, là một khoảng đồi núi khá cao. Thỉnh htoảng, có vùng đất bằng cày cấy tốt.

    3. Tả ngạn: tả ngạn không hiểm trở như hữu ngạn. Song, đất không được tốt lắm.

    Gò núi

    Gò núi đều ở phía hữu ngạn và tả ngạn vực sông Thao:

    1. Hữu ngạn: có nhiều đồi núi. Trong các đồi núi này, một vài ngọn có đá vôi hay khuê thổ, đất xấu, cây cối không mọc được. Những ngọn núi chính ở vùng này là: mạn Bắc có núi òng, núi Yạc, núi Na, núi Đống. Núi Đống cao ngót 900m, mẽ chân núi bên bờ ngòi Lao có nhiều dân Mường sinh sống. Gần ngòi Lao: các núi Am, núi Tiên cao ngót 500m. Phía Nam Đồn Vàng, thuộc hạt Thanh Sơn có núi Cẩn, nhất là núi Lưỡi Hái, trong này có nhiều ngọn cao tới 1000m.

    2. Tả ngạn: về tả ngạn sông Thao, núi đã ít lại thấp. Trên đỉnh và sườn núi, cây cối cũng lưa thưa, phần nhiều là những đồi tương tự nhau, cao từ 40 đến 60m, thỉnh thoảng nhô lên một ngọn 150 - 300m, như núi Túy Qua, Con Voi, Cổ tích. Tả ngạn, địa chất không tốt như hữu ngạn, song trái lại, nhiều nưoi mở mang rất chóng, nguyên ở đâycách vận tải dễ, khí hậu lại lành mà rừng thưa dễ phá, cho nên ít lâu nay nhiều nơi đổi thay khác hẳn.

    Sông ngòi

    Phú Thọ có ba sông lớn chảy qua là Thao Giang và hai chi lưu là Lô Giang và Đà Giang.

    1. Sông Thao: chính là thượng lưu Hồng Hà, phát nguyên từ hồ Ba - Mặc, huyện Mông Tự tỉnh Vân Nam, nước Trung Quốc. Sông này chảy qua Lào Cai, Yên Bái rồi đến Phú Thọ. Về phía Bắc, thuộc huyện Hạ Hòa, lòng sông còn hơi hẹp, nên nước chảy thẳng và mạnh. Từ tỉnh lỵ Phú Thọ, lưu vực đã rộng, hai bên bờ phù sa bồi thành bãi. Đến địa phận huyện Tam Nông thì hợp lưu với Đà Giang, đến Việt Trì hợp lưu với Lô Giang. Vì có bãi nổi và lòng sông không sâu lắm, nên tàu thủy lúc nước cạn chỉ lên đến Việt Trì, về mùa nước mới lên đến Phú Thọ và Yên Bái.

    2. Sông Lô: còn gọi là Lư Giang hay Thanh Giang, phát nguyên từ phủ Khai Hóa, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc, qua Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ. Xuống đến Việt Trì thì hợp lưu với Thao Giang. Lúc đến châu lỵ Đoan Hùng, có sông Chảy là chi lưu. Sông Chảy phát nguyên từ núi Hoàng Tư Phố bên Trung Quốc, chảy qua Lục An (Yên Bái), phủ Yên Bình (Tuyên Quang) rồi vào Đoan Hùng.

    3. Sông Đà: còn gọi là sông Bờ, hay Hắc Giang

    4. Các chi lưu: sông Thao còn một số chi lưu nhỏ khác

    - Sông Bứa phát nguyên ở xứ Mường, chảy qua Đồn Vàng và hợp lưu với sông Thao ở gần làng Tứ Mỹ.
    - Ngòi Giành: phát nguyên ở núi Đại Thân gặp sông Thao ở làng Tăng Xá.
    - Ngòi Lao: phát nguyên ở gần Nghĩa Lộ Yên Baia, chảy và sông Thao tại làng Văn Lang.
    - Đầm ao: gần nơi hợp lưu sông Thao và sông Đà, có nhiều đầm ao: đầm Thượng Nông và đầm Dị Nởu gần Hưng Hóa, đầm Rừng Già gần Cát Trù, đầm Phương Xá, Tiên Động, Binh Kiên. Về tử ngạn sông Thao có đầm Chính Công và đầm Gio Nghĩa bên trên Việt Trì.

    Dân số

    Phú Thọ có dân số trung bình năm 2003 là 1.302,7 triệu người, tốc độ tăng dân số tự nhiên, 1,01% và tăng cơ học là 0,1%, với 21 dân tộc trong đó đông nhất là người Kinh, người Mường. Cơ cấu dân số phân theo giới tính năm 2003 là nam (49%), nữ (51%). Mật độ dân số khoảng 370 người/km2, trong đó thành thị (15,1%), nông thôn (84,9%).

    Dự báo dân số có nhịp độ tăng bình quân giai đoạn 2006- 2010 là 0,84, giai đoạn 2010- 2020 là 0,66 để đến năm 2020 dân số trung bình đạt 1.479,0 ngàn người, trong đó thành thị (42%), nông thôn (58%).

    Trình độ học vấn

    Trình độ học vấn hiện nay của dân cư Phú Thọ vào loại khá so với cả nước, số người chưa biết chữ chỉ chiếm 0,5% so với tổng số dân toàn tỉnh, trong khi cả nước còn tới 3,5% số người chưa biết chữ so với tổng số dân cả nước. Tỉnh có 1 trường Đại học, 1 trường Cao đẳng, 4 trường Trung học chuyên nghiệp, 27 trường, trung tâm và cơ sở dạy nghề, 600 trường phổ thông và gần 20 Viện, trung tâm nghiên cứu khoa học của Trung ương và của tỉnh đóng góp trên địa bàn. Tổng số học sinh, sinh viên theo học các cấp là đại học, cao đẳng (6.600), trung học chuyên nghiệp (4.700), học nghề (9.800) và học sinh phổ thông (307.000), bình quân 2.310 học sinh/vạn dân. Số người có trình độ Đại học 12. 469 người, thạc sỹ 142 người, tiến sỹ 43 người.

    Nguồn nhân lực

    Tổng nguồn lao động xã hội năm 1997 có khoảng 680 nghìn lao động, chiếm 52,8%, năm 2000 có khoảng 727,5 nghìn lao động, chiếm 57,1%, năm 2002 có khoảng 730 nghìn lao động, chiếm 56,3% và 2003 có khoảng 750,6 nghìn lao động, chiếm 57,6% dân số toàn tỉnh. Số lao động đã qua đào tạo năm 2003 đạt 26%, trong đó có 17% là công nhân kỹ thuật.

    Dự báo năm 2005 (???) có khoảng 777 nghìn lao động, năm 2010 có khoảng 845 nghìn lao động và năm 2020 có khoảng 976 nghìn lao động, trong đó lao động qua đào tạo đạt 60 - 65%
    Ôi có đôi khi thèm như gió đi hoang
    Sống kiếp lang thang dạo chơi khắp núi rừng...

  3. #3
    Gia nhập
    Jul 2007
    Bài gởi
    275

    Trả lời: Tỉnh Phú Thọ

    Kinh tế Phú Thọ

    Giai đoạn 1997 - 2000 có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá đạt 8,16%; giai đoạn 2001- 2004 đạt 9,74%, cao hơn bình quân trung bình cả nước (6,7% và 7,2%) và vùng núi phía bắc (4,56% và 5,13%). Trong đó giai đoạn 1997- 2000 là công nghiệp xây dựng 11,4%, nông lâm sản 5,9%, dịch vụ 6,97%, tỷ lệ tương ứng giai đoạn 2001- 2004 là (13%- 7,3% và 8%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 1997 công nghiệp xây dựng 33,2%, nông lâm sản 31,1%, dịch vụ 33,7%, tỷ lệ tương ứng năm 2000 là 36,6%- 29,8%- 33,% và năm 2004 dự kiến là 40,5%- 26,9%- 32,6% (so với vùng miền núi phía Bắc và cả nước) có sự chênh lệch đáng kể. Năm 2000 tỷ trọng công nghiệp + xây dựng của Phú Thọ cao hơn các tỉnh vùng miền núi phía Bắc 8% và thấp hơn cả nước 0,3%, tỷ trọng nông lâm thuỷ sản thấp hơn vùng miền núi phía Bắc 1,3% và cao hơn cả nước 5,4%, tỷ trọng các ngành dịch vụ thấp hơn 6,7% vùng miền núi phía Bắc và thấp hơn cả nước 5,1%.

    1. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

    Giai đoạn 1991-1997 và giai đoạn 2000- 2004 có mức tăng trưởng khá, đạt tốc độ tăng bình quân khoảng 11,6% (gần bằng mức tăng trưởng của cả nước 13,8%). Một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng nhanh như: cao lanh, rượu,bia các loại, giấy, bìa, phân bón vô cơ; may mặc, chè, xi măng, gạch xâyv.v... Đã hình thành một số ngành sản xuất quan trọng không những có ý nghĩa đối với tỉnh mà còn có ý nghĩa cả nước như: giấy, hoá chất, phân bón... Các ngành dệt, may, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm sản... tiếp tục thu hút được các dự án đầu tư mới, một số ngành nghề truyền thống như trạm khắc gỗ, mây tre đan v.v... được khôi phục và phát triển đã có thị trường tiêu thụ.

    2. Sản xuất nông lâm thủy sản

    Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản năm 2004 so với năm 2000 tăng 1,43 lần, kinh tế nông nghiệp - nông thôn phát triển tương đối toàn diện, vững chắc. Sản xuất nông lâm thủy sản đã đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục giai đoạn 1997 - 2000, tốc độ tăng của Phú Thọ là 5,91% . Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước (bình quân giai đoạn 1997- 2000 là 5,9%, giai đoạn 2001- 2004 là 9,31%).


    Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển tương đối toàn diện, nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 3,95%/năm. Thực hiện chương trình cấp I hoá giống lúa, đưa giống ngô lai, lúa lai vào sản xuất; năng suất lúa tăng 39,4 tạ/ha năm 2000 lên 48,1 tạ/ha năm 2004. Lương thực bình quân/người đã đạt 320,6 kg vào năm 2004, so với năm 2000 đã tăng 65,9 kg và gấp 1,66 lần so với năm 1997. Sản lượng lương thực quy thóc năm 2004 đạt 420 ngàn tấn, tăng2,7% so năm 2000.

    Đã chú trọng phát triển vùng sản xuất chè tập trung (Đoan Hùng, Thanh Ba, Hạ Hoà, Phù Ninh, Cẩm Khê, Thanh Sơn, Yên Lập và Thanh Thuỷ), gắn với công nghiệp chế biến. Do đó diện tích, năng suất, sản lượng tăng nhanh. Diện tích tăng 53,7%, sản lượng chè búp tăng 94,9% so với năm 2000, chè xuất khẩu năm 2004 ước đạt 12,1 nghìn tấn. Đã hình thành vùng chè tập trung ở các huyện.


    Sản xuất lâm nghiệp có nhiều tiến bộ, nâng độ che phủ của rừng từ 35,8% năm 2000 lleenhown 43% so 2004. Tài nguyên rừng tiếp tục được phát triển và bảo vệ tốt, nạ chặt phá rừng đã hạn chế. Đã hình thành vùng nguyên liệu giấy trên 30 ngàn ha, đáp ứng một phần cho Nhà máy giấy Bãi Bằng (5- 6 ngàn tấn năm).


    Phát triển đàn bò, đàn lợn, theo hướng tăng cả về số lượng và chất lượng. Tổng đàn trâu tăng 8,5%, đàn bò tăng 4,7%, đàn lợn tăng 21%, đàn gia cầm tăng 18,3%.

    3. Về dịch vụ:

    Tiếp tục phát triển với tốc độ 8,01%/năm, đã đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống. Thương mại, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ khác đều có bước phát triển, cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia thị trường có sự thay đổi đáng kể, thương nghiệp tư nhân, cá thể phát triển mạnh (Giá trị sản lượng hàng hoá tăng bình quân 10,8%/năm, trong đó giá trị bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội từ năm 2000 đến hết năm 2004 ước đạt 10.911 tỷ đồng (giá so sánh 1994).
    Ôi có đôi khi thèm như gió đi hoang
    Sống kiếp lang thang dạo chơi khắp núi rừng...

+ Trả Lời Ðề Tài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi tập tin đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn