|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 17
Gia nhập: Jul 2010
|
|
|
TÙY BÚT PHẠM TÚ UYÊN -
22-07-2010, 07:11 PM
NHẤT TỰ SƠN
Tùy bút
Nhất Tự Sơn là một hòn đảo nằm trong vịnh Xuân Đài, thuộc xã Xuân Thọ, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Có người cho rằng: Núi đảo hình chữ “nhất”, người địa phương thì bảo: Trên núi có một ngôi chùa, có mộ bà Vãi! Hình chữ nhất thì đúng rồi – thiên nhiên dùng bút lông vạch ngang một đường trên nền biển xanh. Diện tích đảo chừng năm hét ta, đỉnh núi chạy thẳng từ Bắc sang Nam , hai đầu vách núi hiểm trở, thẳng đứng. Trên lưng chừng núi có một ngôi mộ, không biết đã có từ bao giờ. Những ngày lễ tết, đôi khi rằm, dân cư trong vùng vẫn ra thắp hương, và đồn rằng ”còn có vết tích một ngôi chùa” – người dù có trí tưởng tượng phong phú cỡ nào cũng khó hình dung đó là vết tích – Một tảng đá tương đối bằng phẳng, mỗi bề chừng 3m, một số đá nhỏ “giựt tam cấp”, nằm trên đỉnh phía Bắc - là ngôi chùa nên phải có Sư hoặc Vãi, và thế, hiển nhiên ngôi mộ của bà Vãi là hợp lý hơn!
Điểm đặc biệt của Nhất Tự Sơn mà không một nơi nào có được: Đường thiên nhiên…vượt biển ra đảo! Thật ra, Nhất Tự Sơn như một tấm bình phong nằm ngoài biển, cách bờ chừng 300m, che chắn sóng gió cho làng Mỹ Hải và Mỹ Thành. Tấm bình phong đảo tạo nên hai luồng sóng bên Bắc, bên Nam xô vào. Hai con sóng hai phương ập xéo đến thành “sóng chọi rồng”. Từ tháng chín trở đi “sóng chọi rồng” trở nên kỳ vĩ, khởi đầu từ trong đất liền một cột sóng “ùn” lên, càng lúc càng lớn và cao, có thể tưởng đó như chiếc đầu rồng – con rồng sóng uốn éo trườn ra đảo, va vào gành đá hóa thân thành bụi nước tung mù trắng xóa. Những “con rồng” ấy mang đá, cát đắp thành đường nối liền từ bờ ra đảo. Khi nước triều xuống, ẩn hiện một con đường, người dân có thể qua lại dễ dàng thậm chí có lúc đường đi hoàn toàn khô ráo!
Đảo như một khu vườn nguyên sinh. Sườn phía Tây bờ dốc thoai thoải, Bằng lăng, Trắc…mọc nhiều. Sườn bên Nam vách đá hiểm trở có vô số mai vàng, có những cội mai cổ thụ, thân sần sùi, khúc khủy, gân guốc, tháng năm chống chọi với gió bão. Người dân trong vùng từ ngàn xưa luôn xem đảo như vị thần trấn giữ biển Đông, nên giữ gìn, bảo vệ dù một tảng đá, cành cây! Chỉ một cơn “áp thấp” ngoài khơi xa, sóng biển đã xô vào gành đá tung bụi nước trắng mù cao trên 3m. Mặt đảo hướng đông phong cảnh cực kỳ ngoạn mục. sự xâm thực của sóng, của bảo tố, gió biển mài mòn, khoét sâu vào lòng núi những hang động hun hút sâu, nhiều ngóc ngách, có thể chứa hàng trăm người! Thời chống Mỹ, hang Dơi là nơi trú ẩn của bộ đội và du kích địa phương. Muốn vào hang Dơi phải trầm mình xuống nước, lặn một hơi dài như ống “cổ cò”. Bên trong hang, ánh sáng nhờ nhờ từ những lỗ thông trên vách núi.
Mùng năm, ngày tết hoặc những ngày lễ lớn, khách từ Tuy Hòa, Quy Nhơn về đây rất đông. Chiêm ngưỡng một cảnh quan thiên nhiên còn đang sơ khai. Đứng từ xa nhìn về Nhất Tự Sơn, hai bên ghe, thuyền, lồng tôm hùm ken nhau san sát – du khách “đi” qua đảo trên con đường mấp mem sóng nước cứ ngỡ như đoàn người đang đi trên mặt biển!
MỐI TÌNH CỦA BIỂN
tùy bút
Kè chắn sóng Tam Giang – Mỹ Hải vào giai đoạn hoàn thành. Con đường dài gần 4km. Khởi đầu từ đoạn cuối hạ lưu sông Tam Giang, ôm trọn thôn Dân Phước, che chắn hơn nghìn hộ dân khỏi nguy cơ bị sóng biển mang đi. Con đường không dừng lại ở đó, men theo chân núi, trải dài đến Mỹ Thành, hòa vào QL1 dưới chân dốc Găng – một con dốc “dữ tợn” của thị xã Sông Cầu (Phú Yên). Con đường đi ngang trước đảo Nhất Tự Sơn, thế là dự án Khu du lịch được mở ra. Tôi về Nhất Tự Sơn vào những ngày tháng tám.
Mùa mưa ở miền biển thật buồn, nhất là những nơi xóm làng còn nghèo, còn hoang vắng! Buồn hơn nữa khi một bên là biển, một bên là làng chài dưới chân núi. Trong màn mưa trắng xóa, núi đá thâm u, cây rừng trầm mặc, những hàng dừa rũ rượi, ngã nghiêng theo từng cơn gió. Năm tháng mùa mưa như thế này mà biến một vùng hoang sơ, cây cối, gai góc um tùm thành một khu du lịch: có nhà nghỉ, bến bãi, cầu tàu, nhà hàng, vườn thú thì quả thật…như mơ! Trời vừa tạnh, tôi lang thang qua khỏi bãi Lổ Sâu, con đường ngoằn ngoèo một bên biển một bên núi. Đi chừng hơn hai trăm mét là đến đầu thôn Mỹ Thành, nơi dẫn qua đảo Nhất Tự Sơn. Thủy triều đang rút nên con đường ẩn hiện dưới những đợt sóng “chọi rồng”. Từng cột nước được sóng tạo trồi lên, kéo vồng “chạy” uốn khúc qua bên đảo. Tôi định xắn quần lội qua:
- Anh qua giờ này ướt hết, sóng thế kia…
Tôi quay lại, một cô gái mặt áo mưa phủ kín để lộ khuôn mặt bầu bầu:
- Sóng đẹp ghê!
- Chưa đẹp đâu, khi nào có gió mạnh kìa!
- Nhà…bé ở đâu?
Cô bé chỉ tay về phía đỉnh dốc nghịch ngợm:
- Ở đây nhà nào…cao nhất là nhà em
Thấy tôi có ý định muốn qua đảo, cô bé liếng thoắn:
- Sóng không chỉ làm ướt đồ đâu, nó xô ngã đấy! Tốt nhất anh đi bằng thúng chai...
Tôi bối rối nhìn quanh:
- Anh...đứng đây đợi!
- Đợi nước rút ư? Hai giờ nữa mới đi được, em sẽ chở anh qua đảo.
- Cô bé ?
- Dạ, dân biển mà!
Tôi phụ cô gái khiêng chiếc thúng đang úp gần đó xuống mép sóng:
- Anh leo lên đi.
Một đợt sóng ập vào, hai người nhảy vội vào thúng, chiếc thúng chòng chành rồi nhẹ nhàng lướt sóng thẳng hướng ra đảo:
- Anh tên Nguyên, cô bé tên gì?
- Dạ, là Huyền.
- Huyền đang đi học chứ?
- Dạ…thi rớt!
- Sang năm thi lại?
- Dạ…
Thúng sắp cập vào gành phía bắc của đảo, Huyền ngoáy mái dầm, thuyền thúng đứng yên:
- Chỗ này sâu lắm à anh.
Tôi đưa tay khoáy khoáy vào những con sóng dập dềnh bên mạn thúng, màu nước biển xanh thẩm:
- Rất tốt!
- Tốt gì cơ?
- À! Ý anh muốn nói ở đây nước sâu rất tốt.
- …
- Ở đây tàu nhỏ có thể vào được Huyền nhỉ?
- Dạ được ạ!
Tôi trèo lên bờ tạm biệt cô bé Huyền, chiếc thuyền thúng lại nhẹ nhàng trở về làng. Mưa lất phất gió thổi mạnh, ngôi nhà của anh em công nhân được lắp ghép bằng gỗ nằm nép mình bên gốc Bằng lăng cổ thụ. Trên đảo chỉ có những lối mòn nhỏ, men quanh co theo chân bờ sóng cây cối, dây leo mọc chằng chịt. Trong trại vọng tiếng đàn của Thế Hà, nhạc sĩ đang công tác tại nhà Văn hóa trung tâm: “Nghe dân gian kể lại, bao linh thiêng đồn rằng chuyện huyền thoại giống thật, sóng chọi rồng giống rồng… Nhất Nhất Nhất Tự Sơn, yêu cái tên luôn thèm gọi…”. Tiếng đàn, giọng hát trong chốn rừng núi thâm u, ướt sủng nước mưa, nó trầm trầm đậm đặt như từ cây cối, đất đá, hơi núi phát ra: “…thăm bà Vãi lên đỉnh cao tháng năm nắng mưa dãi dầu. Đá xếp tầng đùa biển, biển xanh sóng bạc đầu…”. Tôi không muốn đứt đoạn nguồn cảm hứng của Thế Hà nên theo lối đường mòn vào sâu trong đảo.
Một chuyến tàu ra bãi Ôm gồm năm người: Giám đốc Công ty, tôi, nhạc sĩ Thế Hà, lái tàu và một người dân địa phương. Trên đường về ghé lại bãi Than. Cái tên bãi Than đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng – đá toàn một màu đen xám của than đá. Từ những tảng đá to bằng ngôi nhà đến hòn nhỏ cỡ nắm tay, được sóng biển khoét, bào mòn thành những “tác phẩm” kỳ diệu.
Tàu được thả neo cẩn thận, ngoài biển Đông đang có áp thấp nhiệt đới. Tôi và Thế Hà vô bờ sau cùng. Mọi người quần áo ướt sủng nước, một con sóng đưa thuyền thúng và cả bọn chúng tôi lên bờ cát, líu víu những rau muống biển, sóng đập vào gành bãi Than tung bọt trắng xóa. Anh Cự dân địa phương, người đen nhẻm, rắn chắc trạc bốn mươi tuổi lo lắng nhìn chúng tôi:
- Nếu các anh ở đây lâu sợ khó ra lại thuyền, sóng lớn dữ quá!
Anh Việt Giám đốc Công ty du lịch nữa đùa nữa thật:
- Nếu không chèo được, mọi người…sẽ bơi!
Nỗi e ngại sóng to bão lớn không còn làm chúng tôi bận tâm, phong cảnh nơi đây đã thật sự cuốn hút nhóm người mới lần đầu đặt chân lên bãi Than. Nhạc sĩ Thế Hà hát nghêu ngao: “Ra vũng Sứ không thấy sứ ngồi vũng Me không thấy me – A! Đây rồi chân đứng trước vũng Chào, vũng La sao đẹp thế, thấy vũng nào xinh cũng xinh – Bãi Ôm đang đợi tình ta…”. Chợt anh Sự đưa tay lên miệng làm loa gọi: “Mọi người nên về thôi, biển có bão nguy hiểm lắm!” Giọng anh mất hút trong từng đợt gió rít, tiếng ầm ào của sóng. Ngoài khơi thấp thoáng hai chiếc tàu cá đang thẳng hướng bãi Than, tôi quay sang anh Cự:
- Hình như tàu đang vào chỗ mình?
Anh Cự không trả lời, vừa chạy vừa hú gọi mọi người trở về tàu. Hai chiếc tàu mới đến thả neo ngoài xa, những người đứng trên tàu vẫy gọi rối rít. Tôi chưa hiểu chuyện gì, anh Cự và mọi người quay trở lại. Như một người chỉ huy, anh hét:
- Tất cả về thuyền, áp thấp đã mạnh lên thành bão, ở đây rất nguy hiểm.Trong làng cử hai chiếc tàu đi tìm chúng ta…
Qủa thật chúng tôi chưa thấy sự nguy hiểm đang ở hướng nào, khoảng cách một trăm mét bơi ra thuyền cũng dễ! Sóng gió dù đang gào thét, những bãi đá lởm chởm nhe ra như răng cá sấu cũng chưa đủ làm chúng tôi sợ, chỉ cần ra tàu, một loáng là về tới bờ, mọi người nghĩ vậy nên chẳng ai lo lắng. Thúng chai được kéo xuống nước, một con sóng ập tới “ào” mọi người ngã nhào, thúng chai to là thế mà sóng “quăng” lên gần cuối bãi cát. Cứ quăng lên dội xuống vài lần, không thể đi bằng thúng ra tàu, chúng tôi quyết định cùng bơi ra. Một trăm mét thì chẳng có gì, nhưng anh Cự lại không yên:
- Gió đang thổi rất mạnh, chếch Tây Nam , các anh đừng để bị đừa vô gành đá, có mấy vụ kiểu này rồi, dập tan hết…!
Giám đốc Việt là người bơi ra đầu tiên, tự tin lắm, mà anh bơi cũng cừ, theo sau hai người nữa – rồi tất cả cùng lao xuống biển. Hơn năm phút ngụp lặn, sóng biển nhồi lên dìm xống bọn tôi đã mệt phờ mà tàu thì vẫn còn xa, chợt anh Cự hét thất thanh:
- Vô lại bờ - tất cả vô lại bờ!
Phạm Tú Uyên
(Còn tiếp)
Last edited by Phạm Tú Uyên; 04-08-2010 at 04:30 PM..
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 17
Gia nhập: Jul 2010
|
|
|
Trả lời: TÙY BÚT PHẠM TÚ UYÊN -
29-07-2010, 05:25 PM
MỐI TÌNH CỦA BIỂN (Tiếp theo)
Mọi người chưa hiểu điều gì thì đã thấy anh cố sức quay lui. Đang loay hoay chưa biết có nên bơi tiếp hay theo lời anh thì một con sóng dữ dội lôi vút tôi lên ném “ào”. Những tiếng la thét, tiếng gió gào, tiếng sóng – mớ âm thanh hổn độn không phân biệt được cứ bủa vây, cứ làm tê liệt sức lực gần như cạn kiệt của những người chúng tôi. Nhưng bản năng sinh tồn khiến tôi cảm nhận được cái chết đang cận kề - phải sống, phải vượt qua. Tôi dùng hết sức, những gì còn lại cố tránh những con sóng. Vách đá lởm chởm lờn vờn bên cạnh, chỉ một tích tắc, chỉ một cái lơi tay - chỉ một rủi ro dù nhỏ nhất cũng đủ làm tôi tan xác! Thấp thoáng trong những đợt sóng còn có hai người nữa đang cố vượt qua vùng nguy hiểm. Tôi nhoài người cố tránh bức tường nước đang ập tới và định hướng thật chính xác khu vực bãi cát, lặn một hơi dài – trận đánh cuối cùng, “được ăn cả, ngã…tùy trời! Vừa ngút hơi ngoi lên khỏi mặt nước người tôi bỗng nhẹ tênh, sự bất lực – vâng! Tôi hoàn toàn bất lực. Con sóng khủng khiếp nâng vút tôi lên cao. Chẳng lẽ chết đơn giản đến thế này thôi ư? Tôi sẽ bị đập tung vào gành đá lô nhô ở bãi Than – tan tành! Trong ầm ào của trời biển dường như có cả tiếng người. “Ào” cuối cùng con sóng cũng đến đích của nó - tôi nằm gọn trong đám rau muống biển xác xơ. Giám đốc Việt đang lồm cồm ngồi dậy bên cạnh, Thế Hà xa hơn, cuối bờ cát giáp gành đá. Nếu anh chàng cao hơn hai mét thì cái đầu đã bị đá...lấy mất rồi! Hú vía ba đời cho cái anh chàng nhạc sĩ!
Mọi người lại ở điểm xuất phát. Phương án được đưa ra: anh Cự một mình bơi ra lấy dây thừng, chúng tôi níu theo dây, bơi và tất cả nhanh chóng về tàu. Hai chiếc tàu đánh cá của dân vẫn đang thả neo, mọi người bớt lo lắng khi thấy chúng tôi ra an toàn. Thế là thoát nạn! Cả bọn thở phào nhẹ nhỏm. Anh Hòa cho tàu chạy áp sát chúng tôi:
- Bình yên cả chứ?
- Mỏ neo bị dính đá không kéo lên được, chắc phải cắt bỏ
Anh Việt hét trả lời và cho Long lái tàu nổ máy. Máy vừa nổ anh lại mũi mở dây neo, bên kia Hòa hét lên: “Khoan mở!”. Nói xong anh quăng một đầu sợi dây thừng sang bảo cột chặt. Sợi dây được anh Việt quấn sơ sài vào mũi tàu, còn dây neo thả rơi như sợi chỉ mong manh, mất tăm vào biển cả mênh mông dậy sóng. Chiếc tàu rùng mình hướng mũi ra khơi, bên anh Hòa vẫn cho tàu chạy song song cùng chúng tôi, bỗng như có điều gì đó không bình thường trên tàu. Chiếc tàu khựng lại, chòng chành chao nghiêng hất mọi người ngã nhào trên boong. Tàu anh Hòa vượt lên. Tiếng kêu thất thanh từ dưới hầm tàu: “Chết máy!”. Tôi đang lòm còm ngồi dậy phía đằng mũi, sợi dây thừng được anh Việt quấn lỏng lẻo tuột ra, khúc dây còn lại trườn nhanh dưới chân. Tôi lao tới chụp sợi dây định cột vòng nhanh vào cột mái ở mạn tàu nhưng không được. Không thể được! Không có một sức mạnh nào có thể giữ nổi sợi dây. Nó lôi tôi đi như tên bắn. Những người trên hai chiếc tàu thét lên khủng khiếp. Số kiếp bọn tôi đã được định đoạt ở bãi Than này rồi!. Tôi vẫn bám chặt sợi dây thừng và rơi xuống biển đang dậy sóng. Trong một phút – không! Trong một khoảnh khắc nào đó tôi có nghe ai gọi tên tôi từ trong sóng biển: “Anh Nguyên!” Thảng thốt và vô vọng. Tôi khựng lại một khoảnh khắc. Chính khoảnh khắc ấy cứu được những anh em trên tàu. Tôi ngã chúi qua một bên và sợi dây thừng cong bám vào khe mũi tàu, tạo nên lực ma sát lớn bám vào trụ mũi tàu. Sợi dây run lên bần bật Tôi chới với giữa trời nước mênh mông. Mọi người trên hai tàu kinh hoàng, tất cả nhoài người ra thành boong. Tay tôi vẫn bám chặt sợi dây thừng. Chưa ai có phương án gì khả dĩ giải quyết tình huống trong lúc này. Bên tàu anh Hòa - hay trong biển cả mênh mông, âm vang giọng nói quen thuộc: "Giữ sợi dây! Giữ chặt lấy sợi dây đừng buông anh Nguyên ơi! Chiếc tàu được giữ lại bằng sinh mạng của chính tôi.
Tôi thức dậy vừa chập choạng tối. Trong đầu vẫn còn nghe "ung ung", choáng váng. Đi một mình ra bãi Lổ Sâu. Bầu trời đêm đầy sao, xa xa, đèn trên những lồng tôm hùm chập chờn theo con sóng. Suốt hai ngày nằm li bì trong trại, tay chân như không còn là của tôi - rã rời, tê dại. Những cú va đập liên tiếp vào mạn tàu mà còn đi được như thế này quả là được...trời nuôi! Đâu đó văng vẳng: "Anh Nguyên!" Tôi bỗng rùng mình nhìn ra khơi xa đen mù thăm thẳm có cả tiếng sóng ầm ào vỗ vào gành đá - "Anh Nguyên!" Tiếng gọi như từ biển cả, tôi vẫn bước tiếp xuống mép nước - từng con sóng ánh bạc, lấp lánh trườn đến sát chân rồi chìm tan vào cát trắng:
- Anh Nguyên!
Tôi sững sờ, giật mình quay lui. Một bóng người từ sau tiến lại:
- Mấy ngày qua anh nằm mê man, em sợ ghê...
- Ôi, cô bé! Anh khỏe lại nhiều rồi. Em ra đây một mình... Không sợ lạnh ư?
- Em vẫn hay ra đây chơi mà. Hôm trên tàu em thấy dễ sợ quá!
- ...?
- Nếu không có anh thì tàu du lịch bị sóng đập tan tành vào gành đá.
- Sao Huyền biết?
- Dạ, em cũng có ở trên tàu. Hôm đó biển động mà anh đi biển. Em sợ nên kêu ba đi tìm các anh...
Cô bé bỗng dưng im bặt, dí dí bàn chân xuống cát. Tôi đến bên:
- Cám ơn Huyền.
Cô bé hỏi đột ngột:
- Quê anh có biển không? Anh có...yêu biển không?
- Anh ở đồng bằng, nhưng rất yêu biển. Giờ lại biết thêm một điều rằng: Những người dân làng chài ven biển đáng yêu biết bao - Huyền đáng yêu biết bao!
Cô bé lại im lặng nhìn ra khơi xa:
"...Nhất Nhất nhất Tự Sơn yêu cái tên luôn thèm gọi, ai có đến Tự Sơn xem bức tranh đẹp như tiên..."
Tôi xúc động:
- Huyền hát hay quá! Ai bày em hát thế?
- Dạ! Chú Thế Hà. Mấy hôm nay em tới đây hoài à. Ba cũng tới. Ba đu dây xuống đem anh lên đấy!
- Anh Hòa?
- Dạ!
Trong tôi lúc này thật khó diễn tả. Một luồng gì đó thật nhẹ êm len vào người rồi dồn cả lên ngực, ngạt thở. Tôi lảo đảo định ngồi xuống gành đá bên mép sóng. Cô bé hốt hoảng đỡ lấy tôi:
- Anh Nguyên!
Tiếng kêu như từ muôn trùng biển khơi đưa tới. Tôi mộng mị, chơi vơi. Một bàn tay nào đó thật mềm mại nằm gọn trong tay tôi. Tiếng sóng ầm ào xa xăm:
"...Mũi hòn cỏ thương nhớ ai, bãi Lổ Sâu bấy lâu mong chờ... Đá xếp tầng đùa sóng, biển xanh sóng bạc đầu..." (*)
Phạm Tú Uyên
Rồi hai người yêu nhau. Tùy bút "Mối tình của biển" xem như kết thúc. Người kể chuyện cũng muốn kết thúc ở đây. Không gì đẹp hơn khi hai người yêu nhau, trọn vẹn. Tôi biết và nghĩ thế!
Hơn hai năm sau. Một lần, từ Sài Gòn về quê nghỉ hè, đến Thị xã Sông Cầu dưới chân dốc Găng, nơi có ngã ba rẽ vào Nhất Tự Sơn xe bị nổ lốp. Một "cơ hội" chăng? Không! Như một "duyên số", duyên số cho tùy bút "Mối tình của biển".
Tôi hỏi thăm và đến nhà "cô bé" Huyền. Ngôi nhà "cao nhất" nằm trên đỉnh dốc. Người viết bài này chưa hề gặp "cô bé" Huyền bao giờ nhưng rất có thiện cảm! Tôi cũng yêu biển thì chẳng lẽ gì lại không yêu con gái của biển khơi.
Leo rất nhiều bậc thang đá núi lên nhà Huyền. Đón tôi nơi cửa là một cô gái cũng trạc tuổi tôi, mặt "bầu bầu" mắt to và đen láy: "Nhân vật" của tôi đây rồi! Dường như cô ấy có vẻ như ở đâu về - túi xách nằm lỉnh kỉnh ngoài hiên. Thấy tôi lạ hoắc mà cứ xồng xộc vô nhà, chẳng hỏi han ai, cô ta đứng ngay giữa cửa: - "Anh tìm ai?" "Hình như cô ở đâu mới về?" "Vô duyên! Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi"...
Đêm nay tôi và Huyền cùng ngồi ở bãi Lổ Sâu. Gành đá trước mặt thỉnh thoảng phụt lên những bụi nước mát lạnh. Tôi buột miệng: - "Doi cát này, gành đá này đầy những kỷ niệm, phải không Huyền?" "Ừ!" "Tôi đang ngồi chỗ của anh Nguyên?" "Không! Sóng biển đã xóa cả rồi! Biển mang đến cho ta niềm vui và xóa đi những ưu phiền". Tôi hát khe khẻ: "...Bãi Lổ Sâu bấy lâu mong chờ..." "Giọng anh ấm giống chú Thế Hà". Ngồi vân vê hòn cuội trong tay chợt Huyền ngẩn lên nhìn tôi: - "Anh tin có tình yêu duy nhất không?" Tôi ngớ người - sao lại cắc cớ hỏi tôi thế nhỉ! Đã yêu ai bao giờ đâu để biết mà trả lời: - "Hi! Sao...biết được! Nhưng tôi cho rằng: Tình yêu không trọn là tình đẹp! Đẹp vì...tưởng thế! Nhớ nhung làm người ta thao thức, không trọn nên người ta...mơ ước - điều này dễ dàng tô hồng cho tình yêu dang dở. Giả dụ nếu tôi và Huyền yêu nhau, lấy nhau, việc gì sẽ xãy ra trong cuộc sống? Những cải vả..." "Cái ông này quá...vô duyên! Ai yêu "ông" chứ?" "Hi! Chỉ giả dụ thôi mờ"
(*) Bài hát Nhất Tự Sơn của nhạc sĩ Thế Anh.
BIỂN VÀ BẦU TRỜI
(Viết theo tâm trạng Huyền - người kể chuyện)
Nếu ai đã từng đến với biển, biển về đêm, dẫu chỉ một lần cũng sẽ nhận ra rằng: Biển đẹp vô chừng! Tôi không những đến với biển một lần về đêm mà nhiều, rất nhiều lần. Biển với viền cát trắng xa, dài tít tắp đã đẹp, ở đây không chỉ thế! Một doi cát nhô ra vừa đủ cho một người đi lang thang ngồi xuống xây cho mình toà lâu đài, cùng với nghìn bước chân lẻ. Cuối doi cát triền phía nam là những gành đá gập gềnh, nhô ra chạy lúp xúp từ trên cao xuống mép sóng. Đá chẳng ngần ngừ lội luôn ra biển khơi, ngụp lặn cùng sóng bạc đầu.
Đêm, bầu trời đầy sao - thật yên lành! Xa xa là ánh đèn chài, đèn trên những lồng tôm hùm thắp sáng thêm cho những vì sao. Tôi đi một mình như thế. Thật ra không phải chỉ một mình, tôi đi với biển. Tôi đi cùng niềm vui và nỗi buồn! Tôi xây xong toà lâu đài, đến cuối doi cát vừa đủ một nghìn bước chân lẻ, là chỉ còn tôi và biển.
Không biết đã bao lần rồi tôi lang thang nơi này. Chỉ nhớ rằng cứ mỗi lần buồn, tôi lại ra với biển. Ngày xưa anh bảo: "biển luôn cảm thông và chia sẻ". Thoạt nghe, nó buồn cười, lãng mạn thế nào ấy. Thật lòng, lúc đó tôi yêu anh nhiều hơn yêu biển! Không có anh, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa. Lòng tôi vốn hạn hẹp, tình tôi luôn mong manh - tôi nghĩ thế! Bởi tôi có một trái tim yếu đuối, một làn gió đủ thổi nó căng phồng máu nóng. Chính anh đã thổi vào tôi nỗi nhớ nhung, chờ đợi - chính anh đã cho tôi ánh nắng biển khơi cùng sự khát vọng miệt mài của sóng bạc đầu.
Tôi loay hoay với tòa lâu đài dở dang. Con sóng bạc đầu miệt mài cố trườn, cố đua nhau, cố thi nhau lao nhanh nhất vào bờ. Ước vọng trườn lên đỉnh cao mỏm đá, của tận cùng đỉnh núi! Tình yêu và khát vọng tình yêu cũng thế! Trong trẻo như pha lê, cố vươn đến vô cùng. Mênh mông như bầu trời đầy sao.
Lần đầu tiên tôi để dở dang tòa lâu đài. Kỷ niệm của chúng ta bao giờ mà chẳng đẹp, đẹp nhưng không trọn nên đừng cố hoàn thiện lấy làm gì. Càng hoàn thiện càng thấy mênh mông buồn!
Một tình yêu duy nhất! Chẳng biết có đúng vậy không? Nhưng tôi yêu anh vô cùng. Ngay tại thời điểm này đây, tôi vẫn luôn nghĩ và nhớ về anh. Nhớ đến tức ngực, nhớ đến bàng hoàng! Dẫu rằng anh đã xa tôi hay đúng hơn, ta đã xa nhau! Mà gì thì gì không quan trọng, phải thế không anh? Biển bảo rằng: "nên đóng khung một mối tình!" Và tôi đã làm thế. Em đang "ôm" khung hình chúng ta, bắt đầu đi một nghìn bước chân lẻ, bước qua tòa lâu đài để đến doi cát triền phía nam cùng vài vỏ ốc và dăm mảnh đồi mồi...
Men theo gành đá nhấp nhô, đứng xa xa cứ tưởng rằng biển dìu tôi trên sóng. Và tôi như đang rất gần với bầu trời đầy sao lấp lánh trên mặt biển.
Phạm Tú Uyên
Last edited by Phạm Tú Uyên; 28-08-2010 at 08:32 PM..
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 17
Gia nhập: Jul 2010
|
|
|
Trả lời: TÙY BÚT PHẠM TÚ UYÊN -
28-08-2010, 08:26 PM
BỨC TƯỢNG ĐƯỢC KHẮC TỪ VIÊN PHẤN
Tùy bút
Xuân Hải là một rẻo đất của sự cố gắng choài ra thêm ít, từ đoạn cuối những nhánh núi của dãy Trường sơn chạy dài xuống cực nam Trung bộ. Muốn vươn thêm nữa để ngữa mặt cùng sóng gió biển Đông. Qua khỏi địa phận thành phố Qui Nhơn- trên đỉnh đèo Qui Nhơn Sông Cầu là thấy ngay Xuân Hải.
Nó đẹp lắm, đẹp đến nao lòng. Tôi nhận ra điều này vào một buổi chiều cuối tháng giêng khi nắng chạy dài theo bước đi, đọng lại muộn màng trên những đồi cát trắng nhấp nhô. Con đường mới mở, ngổn ngang những đất và đá, duỗi dài theo rẻo đất đến gần Quốc lộ 1 và ngăn cách bởi giòng sông. Chiều tháng giêng nắng vàng tươi. Ở đây nắng chiều đi nhanh quá! Công nhân vừa rời khỏi công trường nắng đã trườn xa tít tắp trên những đụn cát. Bóng nắng nhạt nhoà không sáng nỗi những bờ bụi, những rặng dương liễu lúp xúp, cằn cỏi cao chưa quá đầu người. Tôi lững thững đi như vậy. Cái xách nhỏ trên vai chứa hai bộ đồ và chuyến hành trình ba trăm cây số từ Quảng Nam .
Tôi được công trình sắp xếp ăn ở tại nhà anh Lê. Có thể nói nhà anh đẹp và hiện đại nhất nhì Xuân Hải. Nhà nằm biệt lập trên một đồi cát, xây theo kiểu biệt thự, công trình tốn gần nửa tỉ bạc sau ba vụ trúng tôm sú. Anh trước đây làm ở phòng thủy sản huyện Sông Cầu, nghỉ hồi thời kỳ còn bao cấp. Về đây mua đất lập nghiệp. Với con mắt nhà nghề, anh chọn vùng này có thể phát triển tôm sú và đầu tư đào, đắp đìa. Lúc mới đến, vùng này còn hoang sơ, nghèo và lạc hậu. Cư dân trong vùng sống bằng nghề sông biển - sông thì mò tôm bắt ốc, biển bơi thúng chai quanh quẫn bờ. Sống lây lất dưới những mái nhà sơ sài, tạm bợ. Anh đến mang cho họ một làn sinh khí mới. Từ nếp nghĩ, cách làm ăn và may mắn với vài vụ tôm được mùa, đìa nhỏ dần rộng ra, một đìa nở thành hai, nhà cửa cũng dần kiên cố.
Được được nghỉ hai ngày để...đi lang thang! Tôi trèo lên một đồi cát, một núi cát trải dài song song cùng con đường. Trèo lên đồi cát quả thật không dễ, phải mượn từng cành cây, bụi cỏ, và hơn mươi phút trèo lên tụt xuống mới tới được đỉnh. Trước mặt, một màu xanh ngút mắt của biển. Gío khơi lồng lộng, những con sóng xếp tầng, bạc đầu đuổi nhau lấp lánh dưới nắng mai. Xuôi theo triền đồi chạy dài ra bờ sóng, điểm tô với cát trắng là những vạc xanh của cỏ, bụi cây dại, xương rồng và dương liễu - không đủ cao, không đủ lớn, chỉ mấp mô, nhấp nhô hiền lành đến hoang sơ. Đằng sau lưng tôi là xóm làng thưa thớt chạy dọc tuyến đường. Những ngôi nhà mới xây nằm ẩn bên rặng dừa cũ kỹ, xô lệch bởi nắng gió biển khơi. Trước mặt, cạnh gốc dương già cỗi, sần sùi là một túp lều, hay gần như một túp lều. Có lẽ dùng cho ai đó tránh nắng, được lợp bằng những tàu lá dừa. Tôi khom người chui vào, nằm duỗi dài trên nền cát mịn, trắng tinh. Tôi đảo mắt nhìn quanh, quả thật chổ này làm không hẳn chỉ làm cho ai đó tránh nắng. Góc lều có một cái bàn! Được ghép bằng hai mảnh ván vào cháng ba của thân cây dương, tôi hiếu kỳ nhổm dậy: “Ái chà! Lại có cả bảng viết nữa”. Lòng tôi bổng dưng xúc động, một sự trào dâng không tên cứ xâm chiếm hồn tôi. Giữa bộn bề gió cát, cô quạnh cùng tiếng rì rào của sóng biển, giữa khoảng mênh mông, sâu rộng ấy lại có sự bình yên đến lạ lùng! Tôi đưa tay sờ lên mặt bảng – gọi là bảng bởi còn những nét chữ mờ của phấn viết lưu lại, và phải thật dễ tính mới có thể gọi là bảng. Bởi nó được ghép bằng những mảnh nhỏ tấm nhựa dùng đóng trần nhà, và được đóng thẳng luôn vào mặt bàn. Dấu vết để lại là những nét chữ nghệch ngoạc, trong sự chồng chéo, thô vụng – chắc là của bàn tay bé thơ suốt ngày ngụp lặn cùng sò, ốc có cả nét tròn trịa, hiền lành: “Chị bận. Chúa nhật đến học nghe”. Tôi bổng như trở thành một chàng thi sĩ lãng du, ngồi mơ mộng giữa trời đất mênh mông. Tiếng phi lao cùng sóng biển rì rào đệm cho những câu ghép vần ê a của các em nơi này. Ngồi nghĩ ngợi mông lung chán chê, tôi nhảy “ùm” vào biển xanh.
Công việc mà tôi nhận làm là quản lý vật tư cho bộ phận xây mương, cống thoát nước, mái Taluy. Suốt ngày làm bạn với sắt, thép, ciment, cát, sạn, đá...Với cái nắng khủng khiếp, chói chang của vùng cát trắng, cùng những con người khô quắc queo bởi cuộc sống công trình.
Thật lòng, tôi chẳng ưa thích gì công việc này, nó đơn điệu và tẻ nhạt. Nhưng với khối lượng lớn vật tư và hơn một trăm công nhân làm việc, đã khiến tôi bị lôi theo dòng xoáy. Tuyến đường từ chân đèo Quy Nhơn – SôngCầu đến giáp sông, kề QL 1 gần mười km. Ở hai đầu, dân cư từ các nơi đổ về buôn bán sầm uất. Qủa thật, con đường mở ra, lập tức bộ mặt nơi đó thay đổi nhanh chóng. Cách đây không lâu, vùng Xuân Hải gần như biệt lập với thế giới bên ngoài, dù rằng chỉ cách TP Qui Nhơn bằng chiều dài một con đèo nhỏ. Nhiều cụ già chưa hề biết Quy Nhơn nó ra làm sao, và cũng chưa hề đến thị xã Tuy Hòa!
Những đụn cát khổng lồ bị con đường cắt đôi lăm le muốn lấp lại. Gió biển lồng lộng xốc cát thổi bay như mù sương. Công nhân đã quen, trưa ngủ trong lều luôn xoay đầu theo hướng gió. Cát có mặt khắp nơi, tóc tai, quần áo, cả trong bữa ăn. Chén cơm sột sạo với cát trắng, mọi cái đều trắng, chỉ da người là đen sần, cháy nám.
Ban ngày, công việc và nắng gió, đêm về yên bình đến lạ, không một tiếng ồn, chỉ rì rào thông reo. Phố xá như đã lùi vào cổ tích. Bên kia con sông rộng – đèn xe trên QL1 di động ngoằn ngoèo, ẩn hiện như ma trơi. Tôi men theo những thân dừa cao lêu đêu, ra bờ sông, những đìa tôm của anh Lê sáng trưng ánh điện. Anh Lê và bé Hương đang từ đìa về nhà:
- Nguyên đấy à ?
- Dạ, định dạo ra đìa coi hai cha con anh chăm tôm. Sẵn...tập bơi thúng chai!
- Ừ! Hương đi với chú con.
- Dạ, thôi khỏi anh.
Trời cuối tháng hai, về đêm vẫn còn se lạnh của rét “Nàng Bân”. Cái lạnh của mùa xuân mang đầy sức sống khiến lòng người trở nên bao dung, tâm hồn thêm rạo rực cùng đất trời, hoa cỏ. Tôi hát khe khẻ:
- Chú hát hay ghê!
Tôi giật mình quay lại:
- Sao Hương không về với ba ?
- Hương sợ chú bơi thúng chai lỡ không...vào bờ được!
Cô bé thật buồn cười. Lật thúng không sợ, lại đi sợ...không vào bờ được! Tôi đi chầm chậm:
- Bé sống ở đây có thấy...buồn không ?
- Dạ, lúc mới về buồn lắm ạ! Giờ thì không rồi.
Trời đêm đầy sao. Xa xa trên sông, nhìn những đốm sáng mỏng manh của ghe câu, Hương buột miệng:
- Giống như những ngôi sao bị rơi xuống nước, chú nhỉ?
Tôi ném hòn cuội xuống đìa tôm, không một thanh âm vọng lại, chỉ nghe tiếng rì rào của phi lao:
- Sau này bé làm chi?
- Hương sẽ đi dạy, mẹ cũng muốn thế.
Chợt nhớ đến căn lều trên đồi cát: “Ừ! Lâu rồi mình không ghé lại”. Chẳng hiểu sao, lòng thấy vui vui:
- Chú cũng thích…
- Thích gì cơ?
- Làm cô giáo hay lắm nhỉ?
- Dạ!
Tôi lật ngửa thúng chai kéo xuống mép nước, Hương lấy cây dầm trên bờ:
- Chú ở đây cho đến khi con đường xong chứ?
- Có thể là vậy, một năm hoặc lâu hơn.
- Rồi lại đi, buồn ghê chú nhỉ!
- Leo lên thúng kẻo ướt, cô bé!
Hương nhẹ nhàng bước vào thúng chai như một chú mèo con, tôi đẩy ra xa. Nước dập dềnh bên mạn thúng lấp lánh như ánh bạc, tôi đùa:
- Chú sẽ đưa cô bé đi...nhặt sao rơi, Hương ạ!
- Ôi! Hương cứ tưởng...
- Tưởng gì?
- .....
Tôi ngoáy nhẹ mái dầm, thuyền thúng lướt ra xa
- Quê chú cũng ở biển à?
- Biển rất xa, nhưng quê chú bão lụt liên miên.
- Chắc quê chú đẹp lắm! Ở đây xơ xác quá phải không chú? Tuy thế, Hương rất yêu nơi này
- Chú cũng yêu nơi này!
- Vì sao ạ?
- Chú không biết!
- Hương cũng không biết.
Còn một tuần nữa tôi lại phải ra đi. Gần năm tháng gian lao cùng gió cát, cùng cái nắng rát mặt cháy da. Giả biệt nơi này, tôi vào Thị trấn Sông Cầu nhận công việc mới: “Kè chắn sóng Tam Giang, Sông Cầu”. Đến một nơi mới, công việc có vẻ thuận lợi và môi trường tốt hơn. Nhưng sao tôi không thấy bồn chồn, hồ hởi, sao tôi cứ như hụt hẫng một cái gì. Tôi chẳng hiểu và chẳng biết nữa.
Sáng nay ra công trường lòng cứ thấy nao nao. Từng tảng đá lắp dần vào mái Taluy, những bàn tay chai sạn, những khuôn mặt đen cháy của anh em công nhân cứ thoăn thoắt. Núi cát nhường dần từng bước đi của con người. Tôi xách xe đi dọc theo tuyến đường. Những xóm làng ven đường im ắng, hiền hòa trong nắng mai, bọn trẻ con nghịch cát dưới gốc dừa, trai tráng đã ra đi từ nửa đêm, giờ sắp vào bờ, phụ nữ làm công việc tiếp theo: - đem những con cá câu được ra chợ bán. Tôi dựng xe bên vệ đường, đi về phía biển. Mặt trời đã lên cao khỏi đồi cát, ánh nắng vàng tươi. Vài cụm hoa dại tim tím nép mình bên phiến đá. Tôi đến chân đồi cát. Tôi cũng chẳng biết đến đây làm gì, leo lên đồi cát để làm gì! Có phải tôi lãng mạn quá chăng? – Không biết! Dường như chỉ hiểu rằng: - “tôi đang nợ một cái gì đó!”. Có lẽ sống ở nơi mênh mông trời biển, con người trở nên mơ mộng, lãng mạn? Đường dốc lên đỉnh đồi vẫn thế, vẫn phải bám vào từng bụi cây dại. Gần một trăm năm mươi ngày, thời gian quá ngắn ngủi để có thể làm đổi thay cảnh vật, nhưng lòng tôi, khoảng thời gian ấy không phải là đó với đây, nó xa xăm như trở về ký ức. Bên sườn đồi, những bụi xương rồng nở hoa vàng nhạt. “Lớp học” im ắng, gió từ biển khơi lồng lộng, túp lều vẫn nép mình bên cội dương già. Tôi như người cũ trờ về chốn xưa, lòng rộn ràng, tò mò và e ngại. Tôi khom người chui vào lều. Căn lều vẫn mênh man gió trời, nhưng lòng tôi như ấm lại. Tôi lấy từ trong túi áo ra một hôp phấn đặt lên bàn, phần quà của lớp, của những em bé chưa một lần được cắp sách đến trường – “Sao lại quên mua gói kẹo nhỉ”. Tôi nghĩ thầm và mỉm cười. Có lẽ “tiết học trước” là tập đọc nên trên “bảng” còn rất rõ một bài thơ: “Trường của em be bé, nằm lặng giữa rừng cây…” dù rằng gió biển đã mài mòn bụi phấn. Tôi với tay lấy hộp phấn trên bàn rút một viên chui ra khỏi lều. Bẻ cành gai lưỡi long, đứng tựa gốc dương già gọt viên phấn – phần quà “cô giáo”. Hình hài cô gái với áo dài trắng ôm cặp đang bước ra từ viên phấn. Tôi đặt “bức tượng” vào hốc cây dương ngay cạnh bàn cùng hộp phấn. Lòng bổng thấy nhẹ nhàng: - “ Thôi, chúc điều tốt lành đến với các em, những bông hoa tim tím nở từ khe đá, những đóa hoa xương rồng đang khoe sắc giữa bạt ngàn gió cát.
* *
*
Gần mười năm tôi trở lại nơi này. Những chuyến xe qua lại ngày đêm, dững dưng trên đường thiên lý. Phố xá mọc lên, sự đổi thay cũng dễ xóa nhòa ký ức. Mười năm quá dài cho một đoạn đời. Hai bên đường, nhà cửa mọc lên san sát. Bên phía biển, các khu công nghiệp lô nhô ống khói, chạy dài thẳng tắp những tường rào. Tôi nhìn mỏi mắt…đồi cát năm xưa - không còn nữa! Phải thế thôi, mọi chuyện đã đi vào cổ tích. Cuộc sống vốn thế mà.
Tôi ghé thăm gia đình anh Lê. Ngôi nhà vẫn không thay đổi, sân vườn vẫn vậy, có khác chăng là sự vắng lặng, im lìm:
- Các cháu đâu cả anh?
- Tụi nó đi hết rồi, thằng Long ra trường về làm cho khu công nghiệp.
- Cháu Hương?
- À! Nó dạy trên Sông Hinh
- Xa vậy! Em cứ tưởng…Ngày xưa Hương có nói.
- Ở đây cũng có trường, nhưng nó tình nguyện đến vùng sâu vùng xa. Sao chú đi biệt thế, nó mong hoài, nhất là khi ra trường.
Tôi lúng túng không giải bày được gì:
- Mọi cái cứ trôi đi, nhanh thật. Về đây em cứ ngỡ như hôm qua, chắc cô bé và cu Long lớn lắm anh nhỉ - cô giáo rồi mà!
Anh Lê chỉ hai tấm hình lồng khung để trên tủ:
- Hình tốt nghiệp đó!
Tôi nhìn theo hướng tay anh, bổng dưng người tôi gai ốc nổi khắp mình, tôi bàng hoàng ngồi xuống ghế: - “Sao lại ở đây? Là Hương đấy ư! Là cô giáo với lớp học “túp lều”, với những em học sinh dầu giải nắng mưa đấy ư! Tôi bần thần:
- Tượng ai khắc đẹp ghê anh?
- À! Chuyện “ly kỳ” của con Hương đó – “Chợt nhớ ra điều gì, anh Lê đến sau ngăn “bức tượng” lấy ra một phong thư đưa cho tôi” - Con Hương gửi cho chú hồi mới đi dạy kìa, lâu rồi tôi cũng quên.
Tôi bồi hồi cầm lá thư trên tay: - “Hương ơi, chú xin lỗi…!”
Lá thư đã về tay người nhận, một sự đón nhận không hẹn trước. Bì thư ngã màu theo thời gian: - “…Hương mong tin từ khi chú đi, khi đậu Đại học, khi ra trường, khi đi dạy. Giờ ngồi viết thư cho chú, Hương thấy vui vì được nói chuyện cùng chú, và tin rằng một lúc nào đó chú sẽ ghé lại, sẽ đọc những dòng này. Ngày mai Hương lên Sông Hinh…làm cô giáo. Mọi người bảo: “Dạy ở đây tốt hơn, sao lại lên trên núi?” Nhưng Hương nghĩ có lẽ ở nơi đấy cần hơn, – Giống như Xuân Hải ngày trước, phải không chú? Những “học trò” trên đỉnh đồi năm nào giờ cũng đã học cấp hai, trường lớp khang trang. Cô bé Hương ngày xưa đã trưởng thành, duy chỉ “tượng cô gái” vẫn ngây thơ, trong sáng.
Chú ơi! Ngày đó, khi lên đồi dạy các em, Hương bất ngờ nhận được món quà. Chú không hình dung được là Hương ngạc nhiên đến mức nào đâu, suốt thời gian dài, niềm vui trong suy nghĩ vu vơ. Cuối những năm Đại học Hương mới tin chắc rằng: “Đó là của chú!” Bởi không hiểu sao, khi cầm bức tượng Hương luôn nghĩ đến chú và, nhớ chú lại…nhìn tượng cô gái…!”.
Trời đã về chiều. Bóng nắng vẫn nhạt nhòa, tôi nhìn về hướng đồi cát - đồi cát cùng túp lều. Ở đó có tiếng ê a đọc bài, có lời cô giáo giảng, có âm thanh viên phấn miết trên bảng trong mênh mông biển trời. Nhưng trong tôi lại rõ ràng, lại êm đềm một nỗi nhớ. Và rồi tất cả bước vào ký ức. Hương ơi!
Phạm Tú Uyên
|
|
Đang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
|
|
|
| Công Cụ |
Kiếm Trong Đề Tài |
|
|
|
| Xếp Bài |
Chế độ bình thường
|
Quyền Hạn Của Bạn
|
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts
Mã HTML đang Tắt
|
|
|
| License for vBulletin.org. - Email: webmaster@vietnamcayda.com Powered by: vBulletin Copyright © 2000 - 2006, Jelsoft Enterprises Ltd.
|
|