Quay Lại   Việt Nam Cây Đa > NGUỒN SÁCH CHO THƯ VIỆN > Văn học nước ngoài > Thơ
Gởi Ðề Tài Mới Gửi trả lời
 
Công Cụ Xếp Bài
(#111)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 29-07-2010, 10:52 AM



Ivan Sergeyevich Turgenev (tiếng Nga: Ива́н Серге́евич Турге́нев) (9 tháng 11 năm 1818 - 3 tháng 9 năm 1883) – nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch nổi tiếng của Nga thế kỉ 19. Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Saint Petersburg.

Tiểu sử:
Ivan Turgenev sinh ra trong một gia đình quí tộc ở Oryon. Bố là sĩ quan, mẹ là một phụ nữ quí tộc có học, thông minh, chăm lo con cái nhưng đối xử tàn nhẫn với nông nô. Ivan Turgenev được những gia sư người Pháp và người Đức dạy dỗ vì mẹ là người ghét tất cả những thứ của Nga. Năm 1827 gia đình chuyển lên Moskva. Ivan học ở trường Pansion. Năm 1833, mới 15 tuổi, Ivan vào học khoa ngôn ngữ tại Đại học Moskva. Năm sau gia đình chuyển về Saint Petersburg nên Ivan cũng chuyển về học tại Đại học Saint Petersburg, thời gian này Ivan bắt đầu làm thơ.

Năm 1838 Ivan Turgenev sang Đức để học lịch sử văn học Hy Lạp và La Mã ở Đại học Berlin, thời gian học ở nhà Ivan học thêm môn ngữ pháp các ngôn ngữ Hy Lạp cổ và Latinh. Năm 1841 Ivan trở về Nga. Năm 1842 bảo vệ luận án tiến sĩ triết học và từ đây bắt đầu hoạt động văn học. Năm 1846 ông bắt đầu in các truyện БретерТри портрета. Năm 1847 Ivan Turgenev sang sống ở Đức và Pháp. Năm 1850 ông về Nga chịu tang mẹ và được thừa hưởng một gia tài lớn, cho phép ông có điều kiện đi du lịch nhiều nơi và sáng tác nhiều hơn. Năm 1852 ông in tập truyện lấy tên chung là Записки охотника. Tiếp đó, ông viết những tác phẩm lớn như: Рудин (1856), Дворянское гнездо (1859), Накануне (1860), Отцы и Дети (1862)…

Từ đầu thập niên 1860 Ivan Turgenev sống thường xuyên ở Baden-Baden (Đức) và Paris (Pháp). Ông mất tại Bougival, gần Paris. Theo ý nguyện của ông khi còn sống, thi hài của ông được đưa về mai táng tại nghĩa trang Voncovo ở Saint Petersburg.

Tác phẩm:

Tiểu thuyết:
• 1855 — Рудин
• 1859 — Дворянское гнездо
• 1860 — Накануне
• 1862 — Отцы и дети
• 1867 — Дым
• 1877 — Новь

Truyện:
• 1844 — Андрей Колосов
• 1845 — Три портрета
• 1846 — Жид
• 1847 — Бретёр
• 1848 — Петушков
• 1849 — Дневник лишнего человека
• 1852 — Муму
• 1852 — Постоялый двор
• 1852 — Записки охотника
• 1855 — Яков Пасынков
• 1855 — Фауст
• 1856 — Затишье
• 1857 — Поездка в Полесье
• 1858 — Ася
• 1860 — Первая любовь
• 1864 — Призраки
• 1866 — Бригадир
• 1868 — Несчастная
• 1870 — Странная история
• 1870 — Степной король Лир
• 1870 — Собака
• 1871 — Стук… стук… стук!..
• 1872 — Вешние воды
• 1874 — Пунин и Бабурин
• 1876 — Часы
• 1877 — Сон
• 1877 — Рассказ отца Алексея
• 1881 — Песнь торжествующей любви
• 1881 — Собственная господская контора
• 1883 — После смерти (Клара Милич)
• Памяти Ю. Вревской
• Как хороши, как свежи были розы…
Kịch:
• 1848 — Где тонко, там и рвётся[1]
• 1848 — Нахлебник
• 1849 — Завтрак у предводителя
• 1849 — Холостяк
• 1850 — Месяц в деревне
• 1851 — Провинциалка

Tác phẩm chuyển thành phim:
• 1915 — После смерти (по мотивам рассказа Тургенева «Клара Милич. После смерти»)
• 1943 — Тайны
• 1953 — Завтрак у предводителя
• 1959 — Отцы и дети
• 1959 — Му-му
• 1959 — Накануне (фильм)
• 1969 — Первая любовь
• 1969 — Дворянское гнездо
• 1971 — Жизнь и смерть дворянина Чертопханова (по мотивам рассказов Тургенева «Чертопханов и Недопюскин» и «Конец Чертопханова»)
• 1975 — Гамлет Щигровского уезда
• 1976 — Степной король Лир
• 1977 — Рудин
• 1977 — Бирюк
• 1978 — Ася
• 1981 — Затишье
• 1983 — Отцы и дети
• 1985 — Накануне
• 1989 — Вешние воды
• 1989 — Поездка в Висбаден
• 1992 — Дым
• 1995 — Первая любовь
• 1998 — Му-му
• 2008 — Отцы и дети

Các bài viết:
• Несколько слов о стихотворениях Ф. И. Тютчева (1854).
• Гамлет и Дон-Кихот (1860).
• Речь о Шекспире (1864).


Một số bài thơ:


KHI XƯA

Khi xưa em nhìn vào đôi mắt anh
Vẻ hân hoan, dịu dàng đằm thắm vậy
Và anh bình thản yên lòng nhường ấy
Hôn bờ mi dài tuyệt đẹp của em.

Có những khi em rụt rè bẽn lẽn
Em chập chờn ép vào giữa ngực anh
Sắc đẹp trầm ngâm tư lự của em
Trong nhút nhát rụt rè anh nhìn ngắm.

Và khi ánh trăng chiếu sáng trong vườn
Anh và em ngồi im bên cửa sổ
Ta bên nhau nhởn nhơ, vô tư lự
Hai đứa mình cùng thở một hơi chung.

Còn trong phút giây ly biệt u buồn
Anh ngẹn ngào với nỗi lòng tê tái
Anh lặng lẽ đưa bàn tay run rẩy
Ép lên bờ môi, vào giữa ngực mình.

Em hãy nói: liệu anh đây có biết
Cái điều gì trời đã định cho ta
Sẽ chia tay nhau và sẽ căm thù
Cái tình yêu mà từ lâu đã chết?


KHI ANH CHIA TAY VỚI EM

Khi anh chia tay với em
Anh không hề muốn giấu
Rằng ngày đó đã yêu em
Như những gì anh có thể.

Nhưng anh không mong gặp gỡ
Mà anh kiên nhẫn lặng im
Và anh cũng không muốn hiểu
Ánh mắt buồn, sâu thẳm của em.

Còn em đang giải thích cho anh
Về cái miền thương nhớ đó.
Nhưng giờ xa lạ đối với anh
Niềm hạnh phúc ngày nào, trời ạ!

Em hãy tin: anh đã sống vô vàn
Từ dạo đó anh đã nhiều chịu đựng
Biết bao nhiêu niềm vui anh đã quên
Và biết bao dòng nước mắt ngu xuẩn.





TÔI THƯƠNG

Tôi thương mình, thương những người khác, thương tất cả con người, thương thú, thương chim.

Tôi thương con trẻ và người già, thương những người hạnh phúc và người bất hạnh… thương người hạnh phúc nhiều hơn người bất hạnh.

Tôi thương những ông vua trăm trận trăm thắng, những nghệ sĩ thiên tài, những nhà thơ, những nhà tư tưởng.

Tôi thương kẻ sát nhân và nạn nhân của nó, thương quái gỡ và sắc đẹp, thương kẻ áp bức và người bị áp bức.

Biết làm sao để tôi thoát được lòng thương hại này? Lòng thương hại không cho tôi yên sống… Lòng thương hại còn là sự buồn chán.

Ô, sự buồn chán, tất cả hòa tan bởi lòng thương! Con người không được phép xuống thấp hơn.

Quả thật, giá mà tôi được ghen thì sẽ tốt hơn!

Vâng, tôi ghen với đá.


KHI MÀ MÀ ANH SẼ KHÔNG CÒN

Khi mà anh sẽ không còn, khi mà tất cả những gì thuộc về anh sẽ tan thành tro bụi, - thì em, người bạn duy nhất của anh, người mà anh đã từng yêu sâu sắc và dịu dàng say đắm thế, người mà đang lo lắng cho anh có lẽ - em đừng đi ra ngôi mộ của anh.. Em sẽ chẳng biết làm gì ở đó.

Em dừng quên anh nhé… nhưng cũng đừng nhớ về anh giữa những lo toan vặt vãnh của đời thường, giữa sung sướng và cơ hàn… Anh không muốn làm phiền đến cuộc sống của em, không muốn cản trở dòng đời trôi tĩnh lặng của em. Nhưng trong giờ phút cô đơn, khi mà em có một nỗi buồn nhút nhát và không có nguyên nhân, rất quen thuộc với những con tim, thì em hãy lấy một trong những cuốn sách thân quen và em sẽ tìm ra những trang, những dòng, những lời, mà có thể là em còn nhớ? – cả anh và em cùng lúc đã từng có những giọt nước mắt ngọt ngào và lặng lẽ.

Em hãy đọc, hãy nhắm mắt và hãy chìa bàn tay cho anh… chìa bàn tay của em cho người bạn đã lìa trần.

Và anh sẽ không còn có thể nắm chặt tay em: mà bàn tay sẽ nằm bất động trên mặt đất… nhưng anh bây giờ sung sướng nghĩ rằng, có thể, em sẽ cảm thấy sự lướt nhẹ trong tay mình.

Và hình bóng của anh sẽ hiện ra trước mắt em, và từ dưới bờ mi khép lại của đôi mắt em sẽ tuôn ra dòng nước mắt, giống như dòng nước mắt mà khi ta xúc động trước Cái đẹp đã tuôn ra trong những ngày nào, ôi em thân yêu, người bạn duy nhất của anh, ôi em thân yêu, người mà anh đã từng yêu sâu sắc và dịu dàng say đắm thế!


ĐƯỜNG ĐẾN TÌNH YÊU

Tất cả mọi tình cảm đều có thể dẫn đến tình yêu, đến sự đam mê, tất cả: sự căm thù, luyến tiếc, sự hờ hững, sự tôn sùng, tình bạn, sự sợ hãi, - và ngay cả sự khinh bỉ. Vâng, tất cả mọi tình cảm… ngoại trừ một thứ: sự mang ơn.

Sự mang ơn là món nợ; người tử tế sẽ trả những món nợ của mình… nhưng tình – không phải là tiền bạc.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#112)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 29-07-2010, 11:09 AM



Konstantin (Krill) Mikhailovich Simonov (tiếng Nga: Константи́н (Кири́лл) Миха́йлович Си́монов, 28 tháng 11 năm 1915 – 28 tháng 8 năm 1979) – nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động xã hội, người được tặng Giải thưởng Lenin và 6 lần được tặng Giải thưởng Stalin, đại biểu Xô Viết Tối cao Liên Xô, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Liên Xô.

Tiểu sử:
Konstantin Simonov sinh ở Petrograd (nay là Saint Petersburg). Khi khai sinh bố đặt tên là Kirill nhưng sau ông thấy khó đọc rõ ba chữ cái cuối cùng r i l nên đã đổi thành Konstantin. Konstantin không biết mặt bố vì ông bị mất tích ở mặt trận Thế chiến I khi Konstantin còn bé. Sau này Konstantin được bố dượng dạy dỗ, ông là người dạy môn chiến thuật ở các trường sĩ quan. Tuổi thơ của Konstantin là cuộc sống ở các khu gia binh ở Ryazan và Saratov. Kinh tế gia đình chật vật nên học xong lớp 7, Konstantin vào học trường trung cấp ở một nhà máy rồi làm thợ tiện kim loại ở Saratov và sau đó là Moskva. Thời gian này ông bắt đầu làm thơ. Năm 1936 các tạp chí Молодая гвардияОктябрь in những bài thơ đầu tiên của Konstantin Simonov.

Năm 1938 ông tốt nghiệp Trường viết văn Maxim Gorky, được kết nạp vào Hội Nhà văn và làm nghiên cứu sinh ở trường Đại học Văn – Sử - Triết. Năm 1939 được cử đi làm phóng viên mặt trận ở Mông Cổ và sau đó đã không còn quay lại để tiếp tục làm nghiên cứu sinh. Năm 1940 ông viết vở kịch Lịch sử một cuộc tình (История одной любви) được nhà hát Đoàn Côm-sô-môn dàn dựng.

Thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc ông làm phóng viên chiến trường của báo Боевое знамя, năm 1943 được phong trung tá và sau chiến tranh – đại tá. Nhiều tác phẩm của ông viết thời kỳ chiến tranh trở thành những tác phẩm nổi tiếng, đặc biệt, bài thơ Đợi anh về đã rất nổi tiếng ở Việt Nam qua bản dịch của nhà thơ Tố Hữu. 25 năm sau ngày viết bài thơ này Konstantin Simonov đã viết bài thơ Gửi đồng chí Tố Hữu, người dịch “Đợi anh về.

Thời kỳ sau chiến tranh ông đi công tác ở nước ngoài rất nhiều lần trong suốt 3 năm liên tục. Từ 1958 đến 1960 ông làm phóng viên thường trú của báo Sự Thật (Правды) ở Taskent, phụ trách các nước cộng hòa vùng Trung Á. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Sinmonov: Đồng đội (Товарищи по оружию) được xuất bản năm 1952, cuốn Người sống và người chết (Живые и мертвые) in năm 1959.

Ngoài thơ, văn, kịch, ông còn là tác giả của nhiều kịch bản phim như: Парень из нашего города (1942), Жди меня (1943), Дни и ночи (1943 - 44), Бессмертный гарнизон (1956), Нормандия-Неман (1960, cùng với Ш.Спаакоми, Э.Триоле), Живые и мертвые (1964)… Ông được tặng thưởng nhiều Giải thưởng cao quí và nhiều huân huy chương của nhà nước Liên Xô.

Konstantin Simonov mất ở Moskva, theo di chúc của ông, tro hỏa táng được đem rắc trên một cánh đồng ở ngoại ô thành phố Mogilov.

Tác phẩm:

Thơ và trường ca:
• «Победитель» (1937, поэма о Николае Островском),
• «Павел Черный» (1938, поэма, прославлявшая строителей Беломорско-Балтийского канала),
• «Ледовое побоище» (1938, поэма),
• поэма «Суворов», 1939
• Если дорог тебе твой дом…
• Жди меня (текст)
• Песня военных корреспондентов
• Сын артиллериста
• «С тобой и без тебя» (сборник стихов)
• Я знаю, ты бежал в бою…
• «Ты помнишь, Алеша, дороги Смоленщины..»
• «Майор привез мальчишку на лафете..»
• Хозяйка дома
• Горят города по пути этих полчищ...

Văn xuôi:
• «Товарищи по оружию» (роман, 1952; новая редакция — 1971),
• «Живые и мертвые» (роман, 1959),
• «Солдатами не рождаются» (1963—1964, роман; 2 часть трилогии «Живые и мертвые»; в 1969 — кинофильм «Возмездие» режиссёр Александр Столпер),
• «Последнее лето» (роман, 1971).
• «Дым отечества» (1947, повесть)
• «Южные повести» (1956—1961)
• «Из записок Лопатина» (1965, цикл повестей; 1975 — одноимённый спектакль, премьера — Театр «Современник»)

Ký, tự truyện:
• Симонов К. М. Разные дни войны. Дневник писателя. — М.: Художественная литература, 1982. — Т. 1. — 479 с. — 300 000 экз.
• Симонов К. М. Разные дни войны. Дневник писателя. — М.: Художественная литература, 1982. — Т. 2. — 688 с. — 300 000 экз.
• «Глазами человека моего поколения. Размышления о И. В. Сталине» (1979, опубликовано в 1988)
• «Письма из Чехословакии» (сборник очерков),
• «Славянская дружба» (сборник очерков),
• «Югославская тетрадь» (сборник очерков),
• «От Черного до Баренцева моря. Записки военного корреспондента» (сборник очерков).

Kịch:
• «История одной любви» (1940, премьера — Театр имени Ленинского комсомола, 1940)
• «Парень из нашего города» (1941, пьеса; премьера — Театр имени Ленинского комсомола, 1941; в 1942 — одноимённый кинофильм)
• «Под каштанами Праги» (1945. Премьера — Театр имени Ленинского комсомола. Была популярна, с 1946 шла по всей стране. В 1965 — одноимённый телеспектакль, режиссёры Борис Ниренбург, Надежда Марусалова (Иваненкова)
• «Русские люди» (1942, опубликована в газете «Правда»; в конце 1942 премьера пьесы с успехом прошла в Нью-Йорке; в 1943 — кинофильм «Во имя Родины», режиссёры — Всеволод Пудовкин, Дмитрий Васильев; в 1979 — одноимённый телеспектакль, режиссёры — Майя Маркова, Борис Равенских)
• «Так и будет» (1944, премьера — Театр имени Ленинского комсомола)
• «Русский вопрос» (1944, премьера — Театр имени Ленинского комсомола; в 1947 — одноимённый кинофильм, автор сценария и режиссёр Михаил Ромм)
• «Чужая тень» (1949)
• «Четвёртый»(1961, премьера — Театр «Современник»)
• «Левашов» (1963, телеспектакль, режиссёр — Леонид Пчёлкин)
• «Мы не увидимся с тобой» (1981, телеспектакль, режиссёры — Майя Маркова, Валерий Фокин)

Kịch bản phim:
• «Жди меня» (совместно с Александром Столпером, 1943, режиссёр — Александр Столпер)
• «Дни и ночи» (1944, режиссёр — Александр Столпер)
• «Второй караван» (1950, совместно с Захаром Аграненко, режиссёры-постановщики — Амо Бек-Назаров и Рубен Симонов)
• «Жизнь Андрея Швецова» (1952, совместно с Захаром Аграненко)
• «Бессмертный гарнизон» (1956, режиссёр — Эдуард Тиссэ),
• «Нормандия — Неман» (соавторы — Шарль Спаак, Эльза Триоле, 1960, режиссёры Жан Древиль, Дамир Вятич-Бережных)
• «Живые и мёртвые» (совместно с Александром Столпером, режиссёр — Александр Столпер, 1964)
• «Если дорог тебе твой дом» (1967, сценарий и текст документального фильма, режиссёр Василий Ордынский),
• «Гренада, Гренада, Гренада моя» (1968, документальный фильм, режиссёр — Роман Кармен, кинопоэма; премия Всесоюзного кинофестиваля)
• «Случай с Полыниным» (совместно с Алексеем Сахаровым, 1971, режиссёр — Алексей Сахаров)
• «Чужого горя не бывает» (1973, документальный фильм о вьетнамской войне),
• «Шел солдат» (1975, документальный фильм)
• «Солдатские мемуары» (1976, телефильм)
• «Обыкновенная Арктика» (1976, Ленфильм, режиссёр — Алексей Симонов, вступительное слово от автора киносценария и эпизодическая роль)
• «Константин Симонов: остаюсь военным писателем» ( 1975, документальный фильм)
• «Двадцать дней без войны» (по повести (1972), режиссёр — Алексей Герман, 1976), текст от автора

Thơ dịch:
• Редьярд Киплинг в переводах Симонова
• Насими, Лирика. Перевод Наума Гребнева и Константина Симонова с азербайджанского и фарси. Художественная литература, Москва, 1973.
• и другие переводы


Một số bài thơ:




GỬI ĐỒNG CHÍ TỐ HỮU, NGƯỜI DỊCH “ĐỢI ANH VỀ

Tôi biết rằng thơ của tôi đang sống
Ở đây trong bản dịch đẹp của Anh.
Và sẽ sống đến ngày người vợ vẫn
Ngóng trông chồng về từ cuộc chiến tranh.

Một phần tư thế kỷ súng không ngừng!
Những người vợ góa vẫn đi ra mộ
Vẫn chờ đợi, thì thơ tôi còn đó
Còn sống trong bản dịch đẹp của Anh.

Tôi cầu mong ngày ấy đến cho nhanh
Trên con đường đến tự do dằng dặc
Ngày mà thơ, cũng như người, kết thúc
Cuộc hành quân trong bản dịch của Anh.

Hãy để ngày, khi không còn trông ngóng
Người trở về - yên lặng giữa thiên nhiên
Thì thơ tôi sẽ thở phào nhẹ nhõm
Rồi chết trong bản dịch đẹp của Anh.


ĐÊM ẤY ANH BỎ CHẠY

Đêm ấy anh bỏ chạy, ta biết rằng
Anh đã phản bội đồng đội của mình.

Với anh, ta không có gì để gọi
Kẻ hèn nhát – chỉ một lời ngắn ngủi.

Anh cứ việc không biết đến điều này
Nhưng ngày ấy anh thành kẻ giết người.

Cái hào chiến đấu mà anh bỏ lại
Tên lính Đức đã ngồi vào đêm ấy.

Vì cái chiến hào bỏ lại của anh
Mà người lính khác đã phải hy sinh.

Để lấy lại chiến hào cho trận đánh
Đồng đội đã phơi đầu mình trước đạn.

Đừng đi hát về người đã hy sinh
Đừng tiếc thương người phụ nữ góa chồng.





NẾU BẠN YÊU QUÍ NGÔI NHÀ

Nếu bạn yêu quí ngôi nhà của bạn
Nơi bạn lớn lên thành một người Nga
Nơi ở dưới trần nhà kêu loảng xoảng
Khi bạn nằm trên nôi nhỏ đung đưa.
Nếu bạn quí những gì trong nhà đó
Những góc phòng, lò sưởi, những bức tường
Nơi mà cụ cố, cụ ông và bố
Đã từng bước đi những bước đầu tiên.

Nếu bạn thương khu vườn nghèo xơ xác
Có hoa xuân và tiếng những con ong
Dưới cây gia từ 100 năm trước
Cụ ông xưa đã dựng một chiếc bàn.
Nếu bạn không muốn để cho trên sàn
Nhà của bạn bước chân thù giẫm đạp
Rồi ngồi bên chiếc bàn của cụ ông
Và cây cối trong vườn đem phá nát…

Nếu bạn yêu quí người mẹ của mình
Từng nuôi bạn lớn lên bằng dòng sữa
Đã từ lâu dòng sữa không còn nữa
Chỉ còn bằng đôi má bạn áp lên.
Nếu như khi không còn sức chịu nữa
Tên phát xít đến ngôi nhà của mẹ
Nó tát vào đôi má mẹ đã nhăn
Và quấn tóc mẹ vào bàn tay mình
Để chính những bàn tay kia của mẹ
Những bàn tay một thuở đưa nôi êm
Sẽ giặt quần lót cho tên súc sinh
Và bàn tay ấy trải giường cho nó…

Nếu người bố mình bạn vẫn chưa quên
Người từng bế tung bạn trên tay mình
Và đã từng là một người lính tốt
Người đã mất ở vùng Karpat
Đã hy sinh vì Volga, sông Đông
Vì số phận của chính Tổ quốc mình
Nếu như bạn không muốn cho phát xít
Lật bới tung mọi thứ trong mộ phần
Chân dung lính trên những cây thánh giá
Tên phát xít đem xé vụn giữa sàn
Và trước ánh mắt người mẹ đang nhìn
Tên phát xít giẫm chân lên mặt bố…

Nếu như bạn không hề muốn đem dâng
Người mà bạn đã từng cùng sánh bước
Và là người mà bạn đã từng hôn
Bạn đã không dám – vì bạn yêu nàng –
Mà những tên phát xít bằng bạo lực
Bắt ép nàng, kẹp chặt vào trong góc
Rồi cả ba thằng cùng cưỡng hiếp nàng
Bắt cởi truồng như nhộng nằm trên sàn
Mà ba tên chó đẻ thừa hưởng được
Nàng trong máu me, khóc than, phẫn uất
Bạn giữ gìn những gì là thiêng liêng
Bằng sức mạnh tình yêu của đàn ông…

Nếu như bạn không hề muốn đem dâng
Cho kẻ thù đến muôn đời muôn thuở
Ngôi nhà bạn, người mẹ hiền, người vợ
Những gì mà ta vẫn gọi quê hương
Hãy nhớ rằng: không ai cứu quê hương
Nếu như bạn không ra tay cứu vớt
Nếu như bạn không giết lũ bạo hành
Một khi bạn chưa giết được một thằng
Thì về tình yêu bạn nên im lặng.
Miền đất bạn lớn lên, ngôi nhà xưa bạn sống
Bạn hãy đừng gọi nơi đó quê hương.
Thà phát xít bị giết bởi người anh
Thà phát xít giết bởi người hàng xóm
Đấy là họ đang trả thù báo oán
Bạn không hề có được sự thanh minh.
Họ không ngồi phía sau lưng người khác
Họ không báo thù bằng cây súng khác.
Nếu phát xít bị giết bởi người anh
Thì bạn không phải lính – mà anh mình.

Bạn hãy giết tên phát xít, để không
Không phải bạn, mà nó nằm trên đất
Để trong nhà bạn không còn tiếng khóc
Mà ở trong nhà nó tiếng khóc than
Nó muốn như thế - tự nó lỗi lầm –
Để không nhà bạn mà nhà nó cháy
Hãy để cho không phải người vợ hiền
Mà vợ nó sẽ trở thành góa phụ
Để mẹ của bạn không phải khóc than
Mà là người mẹ đã sinh ra nó
Không gia đình bạn, mà gia đình nó
Sẽ đợi chờ trong phí uổng, hoài công.
Bạn hãy giết ngay dù chỉ một thằng!
Bạn hãy giết tên phát xít nhanh lên!
Bao nhiêu lần bạn phải nhìn thấy nó
Bạn hãy đem giết nó bấy nhiêu lần!


EM TỪNG NÓI VỚI ANH

Em từng nói với anh rằng “yêu anh”
Nhưng đấy là trong đêm, qua hàm răng
Còn sáng ra, lời đắng cay “chịu đựng”
Đôi bờ môi mím lại đến nhọc nhằn.

Anh đã tin đôi bờ môi trong đêm
Tin đôi bàn tay nóng bừng, láu lỉnh
Nhưng anh không tin lời trong đêm vắng
Những lời trong đêm thầm kín, vô hình.

Anh hiểu rằng em muốn được yêu anh
Anh biết em đã không hề nói dối
Chỉ về đêm em thường gian dối vậy
Khi xác thân cai trị lấy linh hồn.

Nhưng trong giờ tỉnh táo buổi bình minh
Khi tâm hồn lại như xưa – mạnh mẽ
Thì giá một lần mà em nói “có”
Với anh trong niềm hy vọng, chờ mong.

Và bỗng chiến tranh, sân ga, ly biệt
Nơi không còn một chỗ để ôm em
Với toa tàu ở nhà ga ngoại thành
Trong toa này anh đi về Brest.

Bỗng nhiên cơn gió về đêm vô vọng
Về hạnh phúc, về gối ấm chăn êm
Không có gì giúp được! – như tiếng vang
Là vị của nụ hôn trên áo lính.

Để lời trong cơn say, trong đêm vắng
Anh không nhầm lẫn với những lời xưa
Em bỗng nói với anh rằng “em yêu”
Bằng đôi bờ môi hầu như tĩnh lặng.

Xưa anh chưa từng thấy em như thế
Trước những lời cay đắng buổi chia ly:
Em yêu anh… và sân ga đêm khuya
Đôi bàn tay lạnh giá vì đau khổ.





ANH KHÔNG THỂ LÀM THƠ VỀ EM NỮA

Anh không thể làm thơ về em nữa
Không em ngày xưa, chẳng của bây giờ.
Đã rõ ràng, những lời cay đắng thế
Từ lâu rồi không còn đủ cho ta.

Điều tốt đẹp – cám ơn! Anh không tính
Chuyện nhỏ nhen, bởi một thuở sống cùng
Anh chưa đem cho và chưa từng nhận
Dù chắc gì anh còn nợ tiếng thơm.

Điều ác dữ tựa hồ như gánh nặng
Mà bàn tay em đặt xuống vai anh
Là của anh! Anh tự mình xác định
Đời với anh nghiệt ngã chẳng vô tình.

Lời quở trách muộn màng buông ra gió
Đừng sợ gì trò chuyện đến bình minh.
Chỉ đơn giản không còn yêu em nữa
Nên anh không làm thơ nữa về em.


LINH CẢM TÌNH YÊU

Linh cảm của tình yêu còn kinh hoàng
Hơn cả tình. Tình yêu là trận đánh
Mắt nhìn mắt, bạn gặp gỡ với tình
Không đợi gì, tình yêu cùng với bạn.

Linh cảm của tình yêu – như biển động
Đã hơi hơi đôi bàn tay ướt dầm
Nhưng vẫn hãy còn lặng im, và tiếng
Đàn dương cầm nghe rõ sau bức mành.

Còn trên áp kế hướng về ma quỉ
Tất cả đang rơi, áp lực rơi nhanh
Trong nỗi sợ hãi trước ngày tận thế
Áp vào bến bờ khi đã muộn màng.

Không, tệ hơn. Điều này như chiến hào
Nơi bạn ngồi chờ để xông vào trận
Còn đằng kia, cách nửa dặm vexta
Người cũng chờ để đạn xuyên vào trán…


ANH MUỐN ĐƯỢC GỌI EM LÀ NGƯỜI VỢ

Anh muốn được gọi em là người vợ
Vì người ta không gọi thế bao giờ
Vì ngôi nhà anh chiến tranh tàn phá
Em đến làm khách lần nữa, chắc gì.

Vì anh từng mong cho em điều ác
Vì hiếm khi em thấy xót thương anh
Vì em đến không cần chi mời mọc
Khi tự mình đêm ấy đến với anh.

Anh muốn được gọi em là người vợ
Không phải để rồi đem nói cùng ai
Cũng chẳng phải vì từ lâu em đã
Cùng anh trong thêu dệt của người đời.

Anh chẳng phải hám danh vì danh tiếng
Hoặc hư vinh nhờ sắc đẹp của em
Anh chỉ cần vẻ dịu dàng bí ẩn
Của tiếng bước chân em đến nhẹ nhàng.

Cái chết làm ngang hàng bao tên tuổi
Như ga tàu, sắc đẹp sẽ qua nhanh
Và người chủ trong những ngày tháng cuối
Sẽ ghen tuông với ảnh của chính mình.

Anh muốn được gọi em là người vợ
Vì những ngày ly biệt có vô vàn
Vì sau này những bàn tay xa lạ
Vuốt mắt cho nhiều người sống cùng anh.

Vì một điều em đã từng chân thật
Không hứa với anh quan trọng một điều
Buổi chia tay của lính trong giờ chót
Em mới lần đầu nói dối – rằng yêu.

Em từng là ai? Của anh hay xa lạ?
Vì thế mà con tim hãy còn xa…
Hãy tha thứ, anh gọi em là vợ
Theo quyền những ai có thể không về.


HẠNH PHÚC

Ngày còn bé. Người ta từng hỏi anh:
“Cháu muốn gì để thành người hạnh phúc?”
-“Cháu muốn được cưỡi ngựa phóng lên đường
Và cháu muốn được thổi kèn tập hợp”.

Thành chàng trai. Người ta đã hỏi chàng:
“Chàng muốn gì để thành người hạnh phúc?”
-“Cháu muốn mình được sống đến trăm năm
Và muốn được đi cùng trời cuối đất”.

Thành người lính. Và người ta hỏi anh:
“Cậu muốn gì để thành người hạnh phúc?”
-“Tôi biết rằng nếu lựa chọn là cần
Thì tôi chọn hy sinh vì Tổ quốc”.

Anh đã chết. Người ta hỏi vợ anh:
“Chị muốn gì để mình không bất hạnh?”
-“Tôi muốn, nếu cha chẳng thể hồi sinh
Thì con trai muốn điều như cha muốn”.


NẾU CHÚA TRỜI

Nếu Chúa Trời bằng quyền lực của mình
Cho ta đến thiên đường sau khi chết
Tôi biết làm gì với tài sản trần gian
Nếu như Ngài nói rằng: cần chọn lọc?

Tôi không cần nơi thiên đường buồn bã
Một người luôn ngoan ngoãn bước theo mình
Có lẽ tôi mang theo người như thế
Người đã từng sống ở cõi trần gian.

Người nông nổi, dữ dằn, hay châm chọc
Dù chẳng dài lâu, nhưng vẫn của mình!
Người đã từng hành hạ trên mặt đất
Sẽ không cho buồn chán ở thiên đường.

Những người bất trị, hư thân như thế
Chẳng mấy ai mang theo đến thiên đường
Vì những người ngoan đạo nơi đó sẽ
Để mắt nhìn, và để ý coi trông.

Tôi có lẽ mang theo mình khoảng cách
Để giày vò mình trước cảnh chia lìa
Để nhớ về trong phút giây ly biệt
Nỗi đau treo trên cổ của bàn tay.

Tôi có lẽ mang mọi điều nguy hiểm
Để cho người chờ đợi thủy chung hơn
Để đôi mắt em rõ ràng xanh thắm
Đang ở nhà không cho kẻ nhát gan.

Tôi có lẽ mang theo mình người bạn
Để có người cụng chén khi tiệc tùng
Và kẻ thù để phút giây ghê tởm
Sẽ thù hằn theo kiểu của trần gian.

Chẳng tình yêu, buồn chán, chẳng xót thương
Ngay cả họa mi Cuốc-xcơ nổi tiếng
Cả những gì nhỏ mọn nhất cũng không
Không bỏ lại nơi trần gian đã sống.

Cả cái chết, nếu điều này có thể
Tôi cũng không bỏ lại ở trần gian
Tất cả những gì có nơi trần thế
Tôi sẽ mang theo hết đến thiên đường.

Vì thói tư lợi của người trần thế
Chúa sẽ ngạc nhiên mà chửi mắng tôi
Tôi tin chắc rằng rồi đây Ngài sẽ
Lần nữa đuổi tôi về lại cõi đời.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#113)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 29-07-2010, 11:21 AM



Iosif Pavlovich Utkin (tiếng Nga: Ио́сиф Па́влович У́ткин, 14 tháng 5 năm 1903 – 13 tháng 11 năm 1944) – nhà báo, nhà thơ Nga gốc Do Thái.

Tiểu sử:
Iosif Utkin sinh ở ga Khingan, tỉnh Khabarovsk. Sau khi sinh được một thời gian, gia đình chuyển về quê ở Irkutsk. Từ nhỏ đã phải vừa học vừa đi làm để nuôi gia đình vì bố bỏ đi, kết quả là bị đuổi học khi chưa học xong trung học. Sau cách mạng Tháng Mười, Iosif tích cực tham gia công việc xã hội. Đầu năm 1920 vào đoàn Côm-xô-môn và tham gia nhóm thanh niên tình nguyện. Năm 1922 trở thành phóng viên của báo Власть труда và bắt đầu in những bài thơ đầu tiên ở đây. Sau đó là thời gian làm việc ở báo Комсомолия, tham gia tích cực vào các hoạt động của hội văn nghệ địa phương.

Năm 1924 được cử đi học trường báo chí ở Moskva. Từ đây bắt đầu một thời kỳ hoạt động văn học sôi nổi của Utkin. Thơ của ông in thường xuyên trên các tạp chí thủ đô như Огонёк, Прожектор, Смена… Năm 1925 xuất bản cuốn sách đầu tiên Повесть о рыжем Мотэле được đánh giá là thành công của một nhà thơ trẻ. Từ năm này Utkin bắt đầu làm ở báo Sự thật Thanh niên. Năm 1927 in Первая книга стихов và cũng trong năm này tốt nghiệp trường báo chí, sống ở ngôi nhà “Hợp tác xã Văn” nổi tiếng ở Moskva.

Thời kỳ chiến tranh Vệ quốc, Utkin ra trận, chiến đấu ở Bryansk. Tháng 9 năm 1941 ông bị thương ở Elnya, tỉnh Smolensk bị mất bốn ngón tay ở bàn tay phải. Sau đó ông được chuyển về điều trị ở Taskent. Năm 1942 trở lại chiến trường Bryansk làm phóng viên đặc biệt của các báo: Sự Thật (Правда) và Tin Tức (Известия). Iosif Utkin mất ngày 13 tháng 11 năm 1944 trong một vụ tai nạn máy bay ở ngoại ô Moskva. Ông chết trong tư thế tay đang cầm quyển thơ của Lermontov.

Tác phẩm:
*Повесть о рыжем Мотэле (1925)
*Первая книга стихов (1927)
*Милое детство (1933)
* Публицистическая лирика (1931)
*Стихи (1935)
*Лирика (1939)
*Фронтовые стихи (1942)
*О родине. О дружбе. О любви (1944)

Thư mục:
*Луначарский А. В., Собр. соч., т. 2, М., 1964, с. 317–19, 327–29, 348–53;
*Саакянц А., Иосиф Уткин. Очерк жизни и творчества, М., 1969;
*В ногу с тревожным веком. Воспоминания об Иосифе Уткине, М., 1971.


Một số bài thơ:


NẾU TÔI KHÔNG TRỞ VỀ

Em thân yêu, nếu tôi không trở về
Những lá thư của em không còn đọc
Thì em đừng nghĩ là do ai khác
Mà nghĩa là… đất ướt đó em ơi.

Có nghĩa là những cây sồi lẻ loi
Cúi xuống buồn về tôi trong lặng lẽ
Mà chia tay với người yêu như thế
Em và quê hương tha thứ cho tôi.

Tôi chỉ yêu em và đất nước thôi –
Những gì mà tôi đã từng hạnh phúc
Chỉ em và quê hương – em có biết
Đã từng yêu bằng cả trái tim tôi.

Còn một khi lẻ loi những cây sồi
Trên mồ tôi chưa mơ màng cúi xuống
Thì chỉ em sẽ là người yêu mến
Và chỉ người, đất nước dấu yêu ơi.


LY BIỆT

Ly biệt cuốn tình đi…
Kukolnik

Gió. Những chiếc lá lượn lờ
Và đã hai tuần có lẽ
Cơn bão tuyết hình cầu bàng bạc thế
Đang om sòm, đùa khắp Moskva.

Nhưng thà gió thổi dồn những ngôi nhà
Gió và tuyết… Em đừng buồn thế.
Vì dù sao, những con đường gặp gỡ
Chẳng ai mang nó đi.

Và em đã từng ly biệt với anh
Vì những đợt tuyết rơi ngắn ngủi
Cuộc đời với hai ta đứng giữa
Như Vạn lý Trường thành.

Nhưng trong bụi bặm con đường thảo nguyên
Trong bụi bặm của miệng người đồn thổi
Ản anh và em vẫn chưa quên nổi
Khí trời của Moskva yêu thương.

Thì em hãy đưa bàn tay cho anh!..
Và hãy nhìn: cuộc đời đang phá bỏ
Đang cuốn đi bức tường cách trở
Như Vạn lý Trường thành.


TÌNH YÊU GIAO NHIỆM VỤ

Tình yêu giao cho ta nhiệm vụ
Rằng hai đứa mãi sống cùng
Nhưng mà ta đã không thành công
Giải bài toán khó.

Anh hay em đã từng nhầm lẫn
Thái dương của ai trắng hơn –
Anh không biết. Nhưng ta đã từng
Đứng tám năm trước bảng.

Ta chia tay… cổ họng đầy nước mắt
Không nước mắt mà máu đó em ơi!
Ta như trẻ con đơn giản đem chùi
Tình yêu không thể nào giải được…





Naum Moiseyevich Korzhavin (tiếng Nga: Нау́м Моисе́евич Коржа́вин tên thật là Emmanuil Mandel – Эммануил Мандель, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1925) – nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, dịch giả Nga gốc Do Thái, từ năm 1974 sống ở Boston, Mỹ.

Tiểu sử:
Naum Korzhavin sinh ở Kiev (nay là thủ đô Ukraine). Học phổ thông ở Kiev, theo lời của chính Naum Korzhavin thì trước khi Thế chiến II nổ ra ông bị đuổi học vì cãi nhau với hiệu trưởng. Naum Korzhavin làm thơ từ rất sớm, sau đó được nhà thơ Nikolay Nikolaevich Aseyev để ý và đem kể với các nhà văn, nhà thơ ở Moskva. Thời chiến tranh Naum Korzhavin không phải ra trận vì lý do tay ngắn.

Năm 1944 ông đến Moskva thi vào trường viết văn Maxim Gorky nhưng không thành công, sau đó thi lần 2 vào năm 1945 mới đậu. Ông ở cùng phòng với nhà thơ Rasul Gamzatov và nhà văn Vladimir Tendryakov. Tuy nhiên Naum Korzhavin học chưa lâu thì nổ ra chiến dịch “đấu tranh với những phần tử cực đoan” (tiếng Nga: Борьба с космополитизмом, tiếng Anh: Rootless cosmopolitan), ông bị bắt giam 8 tháng ở trại tạm giam của Bộ An ninh, sau đó bị xử như một “phần tử xã hội nguy hiểm” và bị cho đi cải tạo ở Siberia 3 năm.

Năm 1954 ông được trở lại Moskva, sống bằng nghề dịch thuật, tiếp tục học trường viết văn và tốt nghiệp năm 1959. Thỉnh thoảng thơ của ông mới được đăng ở các tạp chí. Năm 1961 in tập thơ Годы bao gồm những bài thơ sáng tác trong giai đoạn 1941 – 1961. Năm 1967 nhà hát Stanislav dựng vở kịch Однажды в двадцатом của ông.

Năm 1973 Naum Korzhavin viết đơn xin xuất cảnh với lý do “không đủ không khí để sống”. Ông được xuất cảnh sang Boston, Mỹ, làm cho tạp chí Continental và thường xuyên phát biểu trước sinh viên các trường đại học, in các tập thơ Времена (1976) và Сплетения (1981) ở Frankfurt am Main, Đức. Thời kỳ cải tổ ông trở lại Liên Xô và Nga nhiều lần theo lời mời của các văn nghệ sĩ nổi tiếng. Hiện ông sống và làm việc ở Boston, Mỹ.

Tác phẩm:

Thơ:
*16 стихотворений // «Тарусские стра¬ницы», 1961
*Рож¬дение века. Поэма // «Молодая гвардия», 1962, № 8
*Годы, 1963
*Поэма греха // «Новый журнал», № 116, 1974
*Времена, Frankfurt/M., 1976
*Сплетения, Frankfurt/M., 1981
*Письмо в Москву (стихи и поэмы, 1991)
*Время дано (стихи и поэмы, 1992)
*На скосе века (Время, 2008)

Văn:
*В защиту банальных истин // «Новый мир», 1961, № 3
*Лирика Маршака. Статья // «Новый мир», 1963, № 3
*Поэзия А. К. Толстого // «Вопросы литературы», 1967, № 4
*Судьба Ярослава Смелякова. Статья // «Грани», № 91, 1974
*Опыт поэтической биографии. Статья // «Континент», № 2, 1975
*Игра с дьяволом. Статья // «Грани», № 95, 1975
*Психоло¬гия современного энтузиазма. Статья // «Конти¬нент», № 8, 1976 и № 9, 1976
*В соблазнах кровавой эпохи (2005) — воспоминания


Một số bài thơ:


BÀI CA NGHÌN NĂM TUỔI

Bài ca cổ xưa này
Đến muôn đời vẫn mới.

H. Heine

Một bài ca xưa cũ
Tuổi đã có nghìn năm:
Chuyện chàng yêu một nàng
Nhưng nàng thì không không thế.

Đổi thay bao thế kỷ
Bão tuyết vẫn thét gào
Còn con người vẫn nghĩ
Những ý nghĩ khác nhau.

Nhưng vì sao lại thế
Muôn thuở, như kiếp nào
Không hiểu tại vì sao
Nàng không yêu người đó.

Để cho chàng đau khổ
Vì chàng rất yêu nàng
Nhưng có một điều rằng
Chàng là ai cơ chứ?

Có thể là hảo hán
Mà, có thể, nhà thơ
Nhưng nàng là ánh sáng
Hạnh phúc của người kia.

Chàng tìm chi ở đó
Linh cảm của mình chăng
Chàng vô cùng hoảng sợ
Sống mà chẳng có nàng.

Nhưng chàng không thể làm
Ở đây điều gì cả…
Thì nàng là ai thế
Vì sao chẳng yêu yêu chàng?

Nàng? Là sự hoàn mỹ
Với lại, có điều rằng
Chốn trần gian này chỉ
Có nàng hiểu được chàng.

Nàng luôn thông minh hơn
Dịu dàng hơn tất cả
Chàng cũng hơn tất cả
Cảm nhận được ở nàng…

Nhưng dù sao, ngàn năm
Đã ngàn năm có lẻ
Chàng vẫn luôn yêu nàng
Mà nàng thì không thế.

Bởi vì con tim nàng
Đã phải lòng người khác –
Không ám ảnh, điên cuồng
Nhưng dù sao, người tốt.

Dù người này có phần
Buồn chán hơn người nọ
(Vì bài ca xưa cũ
Không nói dối về chàng).

Nhưng bài ca này vẫn
Cứ vang lên bây giờ.
Còn tôi theo bài ca
Đang làm người dẫn chuyện.

Quả là không hiểu được
Xin thú nhận điều này:
Nàng phải lòng người khác…
Là tại vì sao đây?

Thật dại dột, thơ ngây
Vì sao nàng lại chọn?
Đâu phải vì buồn chán
Nàng đâu sợ điều này?

Mà chỉ như người ta
Nàng vô cùng muốn sống
Và nàng cảm thấy lạnh
Với linh cảm phụng thờ.

Có thể, không hiểu ra
Tôi không là thần thánh.
Nhưng chuyện trong bài ca
Không một lời. Im lặng.

Mà có thể hảo hán
Mệt mỏi vì tiếc thương
Rồi cuối cùng tự mình
Với nàng đâm chán nản.

Và rồi cũng trở thành
Trở thành con người khác –
Không ám ảnh, điên cuồng
Nhưng dù sao, người tốt.

Và rồi cũng nghe được
Lời ngoan ngoãn rằng: “vâng”…
Không biết được. Chuyện trên
Không bao giờ thấy hát.

Bài ca – không biết được
Nhưng mà ở trên đời
Cả chuyện này chuyện khác
Đã từng xảy cùng tôi.

Thì sao tôi giận chứ
Rằng đã một nghìn năm
Có chàng yêu một nàng
Còn nàng thì không thế?
1958





ANH BÂY GIỜ

Anh bây giờ vẫn hãy còn chưa hiểu
Hai đứa mình có những thứ gì chung.
Nhưng mà anh vẫn thường xuyên nhớ lại
Ánh sáng từ đôi mắt sáng của em.

Ánh sáng này màu xanh và đắc thắng
Tựa hồ như ánh lửa chốn thâm sâu.
Quả như người Skiff từng đã chẳng
Đi qua không để lại dấu vết nào.


KHÔNG CẦN ĐÂU ANH Ạ

Không cần đâu, anh ạ, chớ kêu ca
Vì điều rằng em ra đi nhanh thế
Người phụ nữ mà anh đã không ngờ
Đã trao anh những gì người có thể.

Anh buồn bã nơi trần thế rất lâu
Vậy mà anh không thể nào hiểu được
Rằng tia chớp thì lóe sáng không lâu
Mà chỉ sáng rực lên trong phút chốc.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#114)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 29-07-2010, 11:47 AM



Aleksandr Sergeevich Kochetkov (tiếng Nga: Алекса́ндр Серге́евич Кочетко́в, 12 tháng 5 năm 1900 – 1 tháng năm 1953) – nhà thơ, dịch giả Nga.

Tiểu sử:
Aleksandr Kochetkov sinh ở Moskva. Năm 1917 học xong trường gymnazy, sau đó vào học khoa ngôn ngữ Đại học Quốc gia Moskva (MGU). Biết làm thơ từ nhỏ. Thơ của ông không thật nổi tiếng nhưng “Bài thơ về toa tàu mịt mù khói thuốc” của ông với dòng thơ “đừng chia tay với người mình yêu” được phổ nhạc và trở thành bài hát nổi tiếng suốt nửa cuối thế kỷ XX. Bài hát này trong bộ phim Ирония судьбы, или С лёгким паром! – là một trong những bộ phim hay nhất của điện ảnh Xô Viết, có 7 triệu khán giả và đoạt giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1977.

Ngoài làm thơ Aleksandr Kochetkov còn dịch thơ, văn của các tác giả Phương Tây và các nước công hòa thuộc Liên Xô cũ.

Thư mục:
*Впервые «Баллада о прокуренном вагоне» была опубликована Львом Озеровым (со вступительной заметкой о Кочеткове) в сборнике «День поэзии» (1966).
*Позже «Баллада» вошла в антологию «Песнь любви» (1967).
*Напечатана в «Московском комсомольце» и в различных сборниках и антологиях.
*В 1974 году в издательстве «Советский писатель» вышла драма в стихах «Николай Коперник».
*Опубликованы одноактные стихотворные пьесы: «Голова Гомера» (о Рембрандте, в журнале «Смена») и «Аделаида Граббе» (о Бетховене, в журнале «Памир»).
*Циклы лирических стихотворений в «Дне поэзии», «Памире», «Литературной Грузии».

Một vài bài thơ:

TUỔI TRẺ ĐI QUA

Tuổi trẻ đi qua, chỉ còn trong hoài niệm
Say đắm của con tim như bài hát xa xăm
Đời khô khan như bụi cây ngải đắng
Như bụi cây ngải cứu đắng vô cùng.

Nhưng vì sao khi bàn tay đờ đẫn
Khẽ chạm lên bàn tay của người tình
Thì trong ngực một nỗi buồn trĩu nặng
Một nỗi buồn không kìm được ánh lên?

Tại sao khi giữa đám đông thơ thẩn
Với vẻ thản nhiên tôi bỗng vội vàng
Cõi lòng tôi khổ đau và lãnh đạm
Bỗng ngời lên niềm hạnh phúc lâng lâng?

Ánh mắt này đã mỏi mệt, hoa lên
Đang nhìn xuyên qua màn sương thành phố
Sao lại nhìn lên hoàng hôn ráng đỏ
Như nhìn vào gương mặt đẹp tuyệt trần?


TẤT CẢ LẶNG IM

Tất cả lặng im: đam mê, nỗi buồn, mất mát
Về những ngày mỏi mệt chớ tiếc thương!
Chim họa mi sẽ ngừng tiếng sau cùng
Bài ca buổi hoàng hôn là bài ca hay nhất.


KHÚC LÃNG MẠN

Không phải máu, lòng thương hay khao khát
Nửa nỗi buồn lười nhác chỉ còn mong:
Quyến rũ em và im lặng cuối cùng
Giấc mơ cuối của lòng – rồi giết chết.

Còn em khao khát hướng về phía trước
Theo đam mê, gọi em là của anh
Anh buồn về em như đáy đại dương
Buồn về cánh buồm phía trên đang lướt.


TÌNH YÊU CUỐI

Em lại uống say rượu của họa mi
Nuôi chúng tôi bằng bánh mì quên lãng
Em đã là mùa xuân cuối cùng chưa?
Hỡi mùa xuân tuôn trào như thác trắng.

Và trong mối âu lo này không dứt
Vẫn còn đây vẻ âu yếm dịu dàng –
Như tất cả bài ca chưa hát hết
Chưa tận cùng mê sảng những nụ hôn.

Khát khao – như đôi môi ép chặt
Ngân vang – như nước rót vào bình
Nặng nề - như xẻng đào xuống đất
Ngọt ngào – như chim hót trong rừng.

Chúng tôi hướng về bầu trời tối tăm
Về tiếng gọi không thể nào cưỡng lại
Tình yêu này là tình yêu cuối chăng?
Hở tình yêu vì bài ca mệt mỏi!




Yevgeny Yurevich Lebeded

NGƯỜI YÊU TA

Những người yêu ta – với người ta hờ hững
Họ tốt bụng, họ nhút nhát, ngoan hiền
Họ luôn luôn sẵn sàng nhiều thứ lắm
Thế mà lời ta cũng cứ tiếc thương.

Người yêu ta là người ta không cần
Theo người khác, ta uống chất độc lạ…
Để rồi đớn đau, tự mình hành hạ
Nhưng người yêu ta không nói gì hơn.

Người yêu ta, với người ta có thể tốt hơn
Nhưng ta hững hờ với “phút giây hạnh phúc”
Tình yêu, than ôi, ngang bướng và cay nghiệt
Người yêu ta, ta đào hố để chôn.

Người yêu ta bởi để ghét người cần!
Ta thấy thương, nhưng giận hờn có thể
Người yêu ta không vì điều trái lẽ
Nhưng cuốn ta là dòng chảy của sông.
22.09.08
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Gởi Ðề Tài Mới Gửi trả lời


Đang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công Cụ
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Hình Diễn tả đang Mở
[IMG] đang Mở
Mã HTML đang Tắt

Chuyển đến




Liên Hệ - Việt Nam Cây Đa - Trở Lên Trên 
License for vBulletin.org. - Email: webmaster@vietnamcayda.com
Powered by: vBulletin Copyright © 2000 - 2006, Jelsoft Enterprises Ltd.