|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 06:22 PM
Agniya Lvovna Barto (tiếng Nga: Агния Львовна Барто, 17 tháng 2 năm 1906 – 1 tháng 4 năm 1981) là nữ nhà văn, nhà thơ Nga. Agniya Barto là tác giả của những tập thơ viết cho thiếu nhi rất nổi tiếng.
Tiểu sử:
Agniya Barto sinh ở Moskva, trong gia đình một bác sĩ thú y. Học trường múa ba lê nhưng say mê thơ của Anna Akhmatova, Vladimir Mayakovsky nên đi làm thơ. Sau đó, theo lời khuyên của Bộ trưởng Giáo dục Anatoly Lunacharsky đã tập trung cho sự nghiệp văn học. Năm 1925 in những bài thơ đầu tiên được khen ngợi. Năm 1936 in tập thơ Игрушки (Đồ chơi) vа một số tập thơ khбc, trở thаnh một nhа thơ được trẻ em yкu mến nhất.
Chồng đầu của Agniya Barto là nhà thơ gốc Ý, Pavel Barto. Hai người viết chung nhiều bài thơ nổi tiếng nhưng sau một thời gian sinh con, họ chia tay nhau. Chồng thứ hai của Agniya Barto là Andrei Shchelyaev, một nhà bác học nổi tiếng. Họ có một con gái và sống với nhau gần 50 năm. Ngoài thơ, Agniya Barto còn viết truyện và nhiều kịch bản phim cũng rất nổi tiếng. Agniya Barto được tặng 3 huân chương và nhiều huy chương. Năm 1950 bà được tặng giải thưởng Stalin. Năm 1972 được tặng giải thưởng Lenin. Năm 1976 được tặng giải thưởng Hans Christian Andersen. Tên Agniya Barto được đặt cho một hành tinh nằm giữa sao Hỏa và sao Mộc, tên Agniya Barto cũng được đặt cho một miệng núi lửa trên sao Kim. Thơ của Agniya Barto được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bà mất ở Moskva năm 1981.
Tác phẩm:
Các tập thơ:
*"Братишки" (1928)
*"Мальчик наоборот" (1934)
*"Игрушки" (1936)
*"Снегирь" (1939)
*"Стихи детям" (1949; giải thưởng Stalin 1950)
*"Я расту" (1968)
….
Các kịch bản phim:
*"Подкидыш" (1939)
*"Слон и верёвочка" (1946)
*"Алеша Птицын вырабатывает характер" (1958)
….
TÔI RẤT HAY ĐỎ MẶT
Tôi rất hay đỏ mặt
Mà không có nguyên nhân
Bà hàng xóm có lần
Hỏi tôi con dao nhíp
Thế mà tôi phân vân
Đứng nhìn và đỏ mặt.
Không phải tôi làm đổ
Lọ mực lên khăn bàn
Nhưng tôi cảm thấy rằng
Không hiểu sao mặt đỏ.
Ngay cả trong giấc ngủ
Ngay cả trong giấc mơ
Có ai hỏi câu gì
Tôi trả lời, mặt đỏ.
Lena Nekrasova
Bảo tôi ngày hôm qua:
-Đỏ mặt là không đẹp
Với lại không thức thời.
Tôi chẳng tranh luận gì
Chỉ đứng và đỏ mặt
SUY NGHĨ SUY NGHĨ
Cậu Vova gàn dở
Cứ ngồi đó đăm đăm
Rồi nhắc bản thân mình:
“Suy nghĩ, Vova, suy nghĩ”.
Khi trèo lên gác nhỏ
Cứ như người gàn dở
Hay khi chạy ra vườn
Cứ nhắc bản thân mình:
“Suy nghĩ, cần suy nghĩ”.
Cậu cho rằng suy nghĩ
Lý trí sẽ khôn lên.
Bé Masa năm tuổi
Hỏi lời khuyên Vova
Nói: bao ngày trôi qua
Thì đầu khôn hơn vậy?

Olga Fyodorovna Berggolts (16 tháng 5 năm 1910 – 13 tháng 11 năm 1975) là nữ nhà thơ, nhà văn Nga.
Tiểu sử:
Olga Berggolts sinh ở Sankt-Peterburg. Những năm 20 học ở trường phổ thông, tham gia nhóm Смена, làm quen với Boris Kornilov (sau này trở thành chồng đầu của Olga Berggolts). Năm 1930, tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Leningrad, Olga Berggolts đi Kazakhstan làm phóng viên của báo Советская степь (Thảo nguyên Xô Viết). Sau đó trở về Leningrad làm biên tập ở một số tờ báo và xuất bản các cuốn: Годы штурма (Những năm xung kích), ký; Ночь в Новом мире (Đêm trong thế giới mới), truyện; và tập Стихотворения (Thơ). Từ đây thơ của Olga Berggol bắt đầu được chú ý. Năm 1937 bị bắt giam vì liên hệ với “kẻ thù của nhân dân” (chồng của bà bị xử bắn năm 1938). Năm 1939 bà được trả tự do.
Thời kỳ Thế chiến II Olga Berggolts ở lại thành phố Leningrad bị bao vây, bà làm việc ở Đài phát thanh, hàng ngày kêu gọi người Leningrad dũng cảm bảo vệ thành phố thân yêu của mình. Thời gian này bà viết những trường ca nổi tiếng về những người bảo vệ thành phố Leningrad: Февральский дневник (Nhật ký tháng hai) và Ленинградскую поэму (Trường ca Leningrad). Câu nói nổi tiếng của Olga Berggolts “Никто не забыт и ничто не забыто” (Không ai bị quên và không cái gì bị quên) được khắc trên bức tường của nghĩa trang Liệt sỹ Leningrad. Olga Berggolts mất năm 1975 ở Leningrad.
Tác phẩm:
*Глубинка (Độ sâu, 1932), ký
*Годы штурма (Những năm xung kích), ký;
*Ночь в Новом мире (Đêm trong thế giới mới, 1935), truyện
*Журналисты (Nhà báo, 1934), truyện
*Зерна (Ngũ cốc, 1935), thơ
*Стихотворения, (Thơ, 1934)
*Книга песен (Cuốn sách những bài ca, 1936)
*Февральский дневник (Nhật ký tháng hai, 1942), trường ca
*Ленинградская поэма (Trường ca Leningrad, 1942), trường ca
*Памяти защитников, (Ký ức những người bảo vệ, 1944), ký
*Ленинградская тетрадь (Cuốn vở ghi chép Leningrad, 1942
*Первороссийск (Pervorossiysk, 1950), trường ca –giải thưởng Nhà nước Liên Xô 1951.
*Они жили в Ленинграде (Họ đã sống ở Leningrad, 1944), kịch
*У нас на земле (Trên đất của ta, 1947),
*Верность (Lòng chung thủy, 1954), bi kịch
TÌNH LÀ KHÔNG THA
Con tim mình không bao giờ em thương xót
Không trong thơ, trong đau khổ, trong say đắm, tình thân
Anh hãy tha thứ cho em. Những gì đã từng
Cay đắng lắm. Nhưng đó là hạnh phúc.
Và cái điều em đam mê, em buồn khủng khiếp
Cái điều này đáng sợ hơn cả bất hạnh đau thương
Chỉ cái bóng nhỏ nhoi mà em tức giận vô cùng
Thật khủng khiếp. Nhưng đó là hạnh phúc.
Cho dù ngạt thở, cho dù nước mắt
Dù lời trách cứ xì xào như cành lá khi mưa:
Còn kinh hoàng hơn cả tha thứ, hơn cả sự hững hờ.
Tình là không tha. Và đó là hạnh phúc.
Em vẫn biết rằng giờ tình yêu đang giết
Không chờ đợi lòng thương, không chia sẻ quyền hành
Nhưng một khi tình tuyệt vời, tình đang sống trong tim
Thì tình không phải là trò vui mà tình là hạnh phúc.

BUỔI SÁNG XUÂN
Buổi sáng xuân dạo trên đất băng giá
Tiếng ngân vang kêu lên dưới bàn chân
Chim sáo đá nhất quyết không nhìn em
Khi bay qua những đám mây rất trẻ.
Em nhìn vào mắt đen sáo đá
Và nhắc đi nhắc lại cho mình
Sẽ bình tĩnh như buổi sáng mùa xuân
Không một ai, không bao giờ gặp gỡ.
ROMANCE
Em lang thang trên phố khẽ hát lên
Một bài ca mà lời không quen lắm
ở nơi này em chia tay với anh
Rồi ngoảnh lại nhìn nhau, không chịu đựng.
Khi chia tay, ta đã ngoái lại nhìn
Cả hai đứa cảm thấy điều bất hạnh.
Còn đường phố rắc đầy hoa bụi trắng
Và nước, và những chiếc lá dịu dàng.
Em trao hết – mặc thiên hạ cười chê
Dù nợ nần không dễ dàng trút bỏ
Nhưng để được ngoảnh lại nhìn lần nữa
Người bạn cũ ngày xưa.
1937.
MÙA RỤNG LÁ CÂY
Mùa thu ở Matxcơva, trên đường phố treo những tấm
biển đề dòng chữ “Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!”
Mùa thu! Giữa trời Matxcơva
Những đàn sếu bay về trong sương khói
Những chiếc lá màu vàng sẫm tối
Đang cháy lên trong những khu vườn.
Những tấm biển treo dọc theo con đường
Những tấm biển nhắc nhở cùng tất cả
Dù ai có lứa có đôi, ai người đơn lẻ:
“Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!”
Ôi, con tim của tôi sao mà cô đơn
Trên con đường xa lạ!
Buổi chiều lang thang bên những ô cửa sổ
Và khẽ rùng mình dưới những cơn mưa.
Tôi ở đây một mình có phải để cho
Một người mà tôi vui, một người mà tôi quí?
Không hiểu vì sao lòng tôi lại nhớ:
“Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!”
Lúc này đây đã không có gì cần
Thì cũng có nghĩa chẳng còn gì để mất
Ngay cả người thân yêu, người gần gũi nhất
Đã không còn có thể gọi bạn thân.
Thì tại vì sao tôi lại cứ buồn
Rằng đến muôn đời tôi đành vĩnh biệt
Một kẻ không vui, một kẻ không hạnh phúc
Một kẻ cô đơn.
Chỉ đáng nực cười hay thiếu cẩn trọng chăng
Hay phải biết đợi chờ, hay chịu đựng…
Không – thật vô cùng khiếp đảm
Vẻ dịu dàng khi vĩnh biệt, như mưa.
Cơn mưa tối sầm, mưa ấm áp nhường kia
Mưa lấp loá và mưa run rẩy thế
Mong anh hạnh phúc và mong anh vui vẻ
Trong phút giây này vĩnh biệt, như mưa.
… Tôi một mình đi bộ ra ga
Một mình thôi, không cần ai tiễn biệt
Tôi chưa nói với anh mọi điều đến hết
Nhưng mà thôi, không nói nữa bây giờ.
Con đường nhỏ tràn đầy trong đêm khuya
Những tấm biển dọc đường như vẫn nói
Với những kẻ cô đơn trên đường qua lại:
“Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!”
1938
MỘT BÀI CA
Chúng mình sẽ không còn gặp lại nhau
Anh hãy mỉm cười, vĩnh biệt…
Anh có còn giận hờn chi, không biết
Khi ngày tháng qua mau?
Ngày tháng đã trôi qua, qua mau
Như gió thổi vào nhà trống
Như tiếng rì rào của bụi cây lau…
… Rồi anh chớ có còn nhớ đến người yêu
Chớ có còn nhớ đến người quen biết
Mà hãy nhớ về như một giấc chiêm bao…
Những bài thơ cuồng dại của em
Như mái tóc bờm trong gió
Phập phồng như đống cỏ
Mỗi buổi sáng rung lên…
1927

TẶNG BORIS KORNILOV(1)
… Và tất cả đổi thay, em bây giờ đã khác
Em hát khác rồi, khóc cũng khác ngày xưa…
B. Kornilov.
1
Ồ vâng, em khác hẳn ngày xưa!
Sao cuộc đời kết thúc nhanh quá vậy…
Em đã già mà anh đâu nhận thấy
Mà, có thể là anh vẫn nhận ra?
Em sẽ chẳng cầu xin sự tha thứ đâu mà
Hay thề thốt, cũng là vô ích vậy
Nhưng nếu em tin rằng anh còn quay trở lại
Nhưng nếu như anh còn có thể nhận ra.
Thì sẽ quên hết giận hờn, ta lại cùng ta
Ta lại cùng ta, như ngày xưa, sánh bước
Hai chúng mình sẽ khóc và chỉ khóc
Về điều gì ư – chỉ ta biết thôi mà.
1939
2
Em bây giờ lục tìm trong ký ức
Em nhớ về những câu hát đầu tiên:
“Ngôi sao trên sông Nêva cháy lên
Và hoạ mi miền ngoại ô đang hót…”
Nhưng cay đắng và ngọt ngào hơn, năm tháng đã qua
Trái đất này mênh mông bát ngát, bao la
Anh có lý – bây giờ em mới biết
Anh – người đầu tiên của em và anh đã mất
“Em hát khác rồi, khóc cũng khác ngày xưa…”
Lớp trẻ lớn lên, lại vẫn giống như ta
Lại vẫn sông Nêva, ánh chiều tà, sóng nước
Vẫn hồi hộp, say mê trong từng câu hát
Và tuổi thanh xuân vẫn có lý như xưa.
1940
______________
(1)Kornilov, Boris Petrovich (1907-1938) – nhà thơ Nga Xô-viết, người yêu, chồng đầu của Olga Berggolts, bị xử bắn năm 1938.
EM KHÔNG THỂ GIẤU
Em không thể giấu được anh nỗi buồn
Cũng như niềm vui em không giấu được.
Con tim mình em mở ra đầu tiên
Giống như câu chuyện của anh đích thực.
Không trong đài kỷ niệm hay bia cột
Không trong những lâu đài bằng kính – bê tông
Anh hiện ra không nhìn thấy, rất gần
Trong những con tim ta cổ xưa khao khát.
Anh hiện ra tự nhiên hơn thổn thức
Lặng im và rạo rực dòng máu của em
Và em trở thành thời đại – trở thành anh
Qua trái tim của em anh nói được.
Em không thể giấu được anh nỗi buồn
Và không giấu đi điều sâu kín nhất
Con tim mình em mở ra đầu tiên
Giống như câu chuyện của anh thú thật…
1937
NGƯỜI TA SẼ HIỂU
Tôi sợ rằng tất cả những người tôi yêu
sẽ để mất đi lần nữa…
Tôi bây giờ gom góp và ấp ủ
tình yêu của mọi người.
Và nếu ai đó cười – tôi không sợ
rồi sẽ đến một ngày
khi mối lo ngại tiên tri của tôi
người ta sẽ hiểu.
1939
LỜI THỈNH CẦU
Không nước mắt hay thương xót gì đâu
không điều gì còn chờ đợi.
Chỉ mong được ngủ mà không mơ tới
ngủ thật lâu, thật lâu, thật lâu.
Nếu đã không còn thiêm thiếp khổ đau
đang nhắc lại và dập dồn máu nóng
thì chớ mơ về ly biệt u sầu
và tình yêu của chúng mình cay đắng.
Giấc mơ về gặp gỡ và vui sướng
hãy bỏ lại phía sau.
Và dù anh không còn mơ nữa, chẳng cần đâu
người duy nhất, người yêu thương ạ…
Dù với đầm bạch dương
em mơ về đôi khi, thỉnh thoảng.
Và trong thành giếng đêm bằng ván
một ngôi sao cô đơn…
7-1939
VÌ MỘT LỜI HAY NHẤT
Vì một lời hay nhất ấy
của một người trong hai đứa chúng ta
anh cần đi yêu lại
nói với em điều ấy bây giờ.
Anh đã bỏ qua thời gian!
Cái gánh nặng hạnh phúc và kiêu hãnh
của tình em to lớn
anh hãy gọi về, chớ dềnh dang.
Và anh chớ tìm kiếm cái phần
của chiều cao không tìm ra người khác
vì trong đó – là ý thích sau chót
và bầu không khí cuối của hai người chung.
1949
HY VỌNG
Tôi vẫn tin rằng sẽ quay lại cuộc đời
một lần trong buổi bình minh thức dậy.
Trong buổi sớm, nhẹ nhàng, trong giọt sương mai
bao trùm lên những lá cành – hết thảy
còn tôi cúi gương mặt còn tươi trẻ
nhìn vào nước như điều lạ kỳ
những giọt nước mắt sung sướng trào ra
và nhẹ nhàng nhìn thấy cuộc đời xa thẳm…
tôi vẫn hãy còn tin rằng trong buổi sớm
từng rét run, lấp lánh rồi lại quay về
với tôi – cuộc đời nghèo khó chẳng hề vui
không dám thổn thức nức nở và sung sướng…
1949
KHÔNG ĐẾN ĐÁM CƯỚI BẠC
Không đến đám cưới bạc, chẳng đến đám cưới vàng
Tất cả đã rõ ràng, với anh không sống hết.
Nhưng ta đã từng sống qua đám cưới sắt
Bên bờ cái chết trong cuộc chiến tranh.
Tôi sẽ không nhường nó cho tất cả bạc vàng
Cũng như vẫn yêu thứ chỉ làm bằng sắt.
1949
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 06:30 PM
Aleksandr Aleksadrovich Blok (tiếng Nga: Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок)(16/11/1880--7/8/1921) – nhà thơ trữ tình Nga. Là nhà thơ hàng đầu của trường phái hình tượng Nga, A. Blok cùng với những nhà thơ lớn khác làm nên một “Thế kỷ bạc” của thơ ca Nga.
Tiểu sử:
Aleksandr Aleksadrovich Blok sinh ra trong một gia đình trí thức. Bố là một luật sư Ba Lan gốc Đức, mẹ là con gái của hiệu trưởng Đại học Saint-Petersburg. Lên 5 tuổi đã biết làm thơ. Tuổi nhỏ thường đến sống ở điền trang Shakhmatovo của ông ngoại vào những tháng hè. Những bài thơ về phong cảnh thiên nhiên Nga in trong tập “Thơ tuổi thiếu niên”( Отроческие стихи, 1922). Blok học khoa luật (1898-1901), sau đó học khoa ngôn ngữ (tốt nghiệp năm 1906) ở Đại học Saint-Petersburg. Năm 1903 Blok cưới Lyubov Mendeleeva, con gái của nhà bác học vĩ đại D. I. Mendeleev. Kết quả của cuộc hôn nhân này là hơn 800 bài thơ viết về người phụ nữ này. Phong cách thơ của A. Blok hình thành trong sự phát triển mạnh mẽ của trường phái thơ hình tượng, mà Blok là chủ soái. Thơ của Blok được dịch ra nhiều thứ tiếng và được dịch nhiều sang tiếng Việt.
Tác phẩm:
*Стихи о Прекрасной Даме (Thơ về người đàn bà tuyệt vời, 1904), thơ
*Город (Thành phố, 1904-1908), thơ
*Роза и крест (Hoa hồng và thập ác, 1912), kịch
*Родина (Tổ quốc, 1907-1916), thơ
*Возмездие (Trừng phạt, 1910-1921), thơ
*Двенадцать (Mười hai chiến sĩ, 1918), thơ
NƯỚC NGA
Bây giờ lại như những tháng năm vàng
Ba vòng đai lưng đã mòn đang run rẩy
Những nan hoa của bánh xe kết lại
Những bức tranh trong những bánh xe lăn.
Ôi nước Nga, ôi nước Nga nghèo khó
Nhà gỗ của Người màu xám thương sao
Những bài ca của Người trong gió
Đối với ta như nước mắt tình đầu!
Xót thương Người ta không biết làm sao
Cây thập ác của mình ta vẫn vác…
Người muốn để cho kẻ làm bùa phép
Thì vẻ tuyệt vời cướp bóc hãy trao!
Mặc cho ai dụ dỗ, dối lừa
Không quì gối, nước Nga không thể chết
Duy chỉ có điều lo lắng làm mờ
Những đường nét của Người tuyệt đẹp.
Thôi đành thế. Một nỗi lo nhiều hơn
Thêm giọt nước mắt, sông thêm ầm ĩ
Còn Người vẫn thế – rừng và cánh đồng
Và tấm khăn thêu trên đầu – vẫn thế.
Thành có thể cả điều không thể tưởng
Con đường dài lâu bỗng hoá nhẹ nhàng
Khi ánh lên ở miền xa thẳm
Ánh mắt nhìn dưới tấm khăn vuông
Khi bài hát người xà ích cẩn trọng
Đang vang lên thấm đượm một nỗi buồn.
1908.
VỀ CHIẾN CÔNG, LÒNG DŨNG CẢM, VINH QUANG
Về chiến công, lòng dũng cảm, vinh quang
Anh đã quên trên mặt đất đau khổ
Khi gương mặt em trong khung ảnh nhỏ
Trước mặt anh rạng rỡ đặt trên bàn.
Nhưng đến giờ em đi khỏi nhà anh
Chiếc nhẫn thề anh vứt vào đêm vắng
Giờ người khác em gửi trao số phận
Anh đã quên rồi gương mặt đẹp xinh.
Ngày trôi đi, nguyền rủa xoáy thành đàn…
Rượu và đam mê làm đời anh tàn tạ…
Trước bàn cưới về em, anh chợt nhớ
Anh gọi em như tuổi trẻ của mình.
Anh gọi em nhưng em chẳng ngoái nhìn
Nước mắt anh em không thèm đoái tới
Trong chiếc áo choàng màu xanh quấn lại
Em ra khỏi nhà trong ẩm ướt đêm.
Anh không biết rằng cho kiêu hãnh của mình
Em đẹp xinh, dễ thương tìm đâu vậy…
Trong giấc ngủ, áo xanh anh mơ thấy
Chiếc áo mặc vào em đi khỏi trong đêm…
Giờ không còn mơ về trìu mến, vinh quang
Tất cả đi qua, tuổi trẻ không còn nữa!
Gương mặt em trong lồng khung ảnh nhỏ
Bàn tay anh đem cất khỏi chiếc bàn.
12-1908.

NHỮNG BÔNG HOA NGÀY CŨ
Những bông hoa ngày cũ
Ta mang theo, một mình
Đi vào tuyết, giá băng
Con đường xa vời vợi.
Vẫn theo lối mòn xưa
Trên vai ta thanh kiếm
Kiếm đi cùng với ta
Trong áo sương che kín.
Kiếm đi theo và biết
Rằng tuyết đã dần tan
Đằng kia đang cháy hết
ánh hoàng hôn cuối cùng.
Rằng với ta – ngày tàn
Chỉ màn đêm quạnh quẽ
Tự do từ nay sẽ
Không đi theo sau lưng.
Ở đâu, khi muộn màng
Ta tìm ra nơi ngủ
Những bông hồng ngày cũ
Đang rơi trên tuyết tan.
Chỉ trên tuyết màu hồng
Giọt nước mắt rơi xuống
Ta không còn hy vọng
Ta đợi phút lâm chung.
Còn kiếm vẻ lạnh lùng
Dìm hoa xưa vào tuyết.
4-11-1908.
ANH LẠI MƠ THẤY EM
Anh lại mơ thấy em – trên sân khấu, đầy hoa
Điên cuồng như đam mê, lặng lẽ như giấc mộng
Còn anh ngoan ngoãn, đầu gối anh quì xuống
Và nghĩ rằng: “Hạnh phúc biết nghe ra!”
Nhưng em nhìn Hamlet, em là Ophelia
Không hạnh phúc, tình yêu, thiên thần sắc đẹp
Còn hoa hồng rắc lên nhà thơ tội nghiệp
Cùng với hoa hồng những mơ ước tuôn ra…
Em đã chết trong hồng thắm nhuộm màu
Hoa trên ngực và hoa trên mái tóc
Còn anh đứng trong hương em ngào ngạt
Với hoa trên tay, trên ngực, trên đầu…
12-1898.
(Xem thêm: 100 bài thơ Aleksandr Blok)

Joseph Brodsky (1940-1996) - nhà thơ Mỹ gốc Nga, giải Nobel Văn học năm 1987, sinh ngày 24-5-1940 tại Leningrad (Liên bang Nga). Cuộc đời của nhà thơ này từ nhỏ đã có những chi tiết thú vị. Thời thơ ấu Brodsky sống trong một căn hộ nhỏ của ngôi nhà mà trước cách mạng tháng Mười đã từng sống hai nhà thơ Nga sau đó cũng ra sống ở nước ngoài: Merezhkovsky và Zinaida Gippius. Học ở trường phổ thông mà ngày trước Afred Nobel đã từng học và năm 1987 được trao giải Nobel Văn học…
Thuở nhỏ Brodsky mơ ước trở thành bác sĩ nhưng 15 tuổi đã phải nghỉ học vì mưu sinh. Sau đó, tự học tiếng Anh, tiếng Ba Lan, nghiên cứu truyền thuyết, tôn giáo và triết học; 16 tuổi bắt đầu làm thơ; 17 tuổi hoàn thành tập thơ nổi tiếng Vĩnh biệt, hãy quên, đừng trách cứ gì nhau... và được công nhận là một nhà thơ, một dịch giả tài năng . Năm 1963 J. Brodsky bị kết tội "ăn bám xã hội" và gửi đi cải tạo 5 năm ở miền bắc Nga. Nhờ sự phản đối của các nhà văn trong và ngoài nước hai năm sau ông được trở về Leningrad. Năm 1972, ông lại bị trục xuất, phải sang Vienna, London và cuối cùng là Hoa Kỳ. Từ đây, Brodsky sáng tác bằng cả tiếng Nga và tiếng Anh. Năm 1977, ông nhập quốc tịch Mỹ và làm giáo sư văn học cho trường Cao đẳng Five College ở Mount Holyoke, bang Massachusetts. Năm 1978, Đại học Yale trao cho J. Brodsky bằng tiến sĩ văn học danh dự. Năm 1979, ông trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Nghệ thuật - Văn chương Mỹ. Năm 1981, ông được Quỹ John D. và Catherine T. MacArthur trao tặng giải thưởng cho các tác phẩm thiên tài. Năm 1986, cuốn tiểu luận về nghệ thuật và chính trị Ít hơn một của ông được giải thưởng của Nhóm các nhà phê bình sách Quốc gia (Mỹ).
Brodsky sáng tạo nên một thế giới thơ ca độc đáo được thể hiện bằng những quan niệm của nghệ thuật hậu hiện đại. Các nhà phê bình coi ông “là người tổng kết thơ ca thế kỷ XX”. Joseph Brodsky mất ở Mỹ ngày 28-01-1996.
Tác phẩm:
- Vĩnh biệt, hãy quên, đừng trách cứ gì nhau... (Прощай, позабудь и не обессудь, 1957), thơ.
- Khúc bi ca lớn gửi Donne John (Большая элегия Джону Донну, 1963).
- Thơ và trường ca (Стихотворения и поэмы, 1965), thơ.
- Trạm dừng trong sa mạc (Остановка в пустыне, 1970), thơ.
- Kết thúc thời tốt đẹp. Thơ những năm 1964-71 (Конец прекрасной эпохи. Стихотворения 1964-71, 1977), thơ.
- Một phần của lời nói. Thơ những năm 1972-76 (Часть речи. Стихотворения 1972-76, 1980), thơ và bài viết.
- Những khúc bi ca La Mã (Римские элегии, 1982), thơ.
- Những bài tứ tuyệt mới gửi Augusta (Новые стансы к Августе, 1983), thơ.
- Сẩm thạch (Мрамор, 1984), kịch.
- Ít hơn một (Меньше одиницы, 1986), tiểu luận.
- Lịch sử thế kỉ hai mươi (History of the twentieth century, 1986), thơ.
- Urania (Урания, 1988), thơ.
- Bút kí dương xỉ (Заметки папоротника, 1990).
- Trên các nẻo Atlantida (На околицах Атлантиды, 1992).
- Bờ sông của những kẻ vô phương cứu chữa (Набережная неисцелимых, 1992), thơ.
- Hoa văn mờ trên giấy (Watermark, 1992), tiểu luận.
- Nỗi đau và lí trí (Скорбь и разум, 1995), tiểu luận.
VĨNH BIỆT, HÃY QUÊN
Vĩnh biệt
Hãy quên
Đừng trách cứ gì nhau.
Còn những bức thư
Em hãy đốt
Như cầu.
Con đường của em
Sẽ trở thành can đảm
Con đường thẳng
Và sẽ giản đơn.
Rồi đây trong màn sương
Sẽ cháy lên cho em
Một vì sao ngời sáng
Và một niềm hy vọng
Của bàn tay sưởi ấm
Bên bếp lửa nhà em.
Rồi sẽ có bão tuyết, mưa giông
Và tiếng gào điên cuồng của lửa
Sẽ có những thành công rực rỡ
Phía trước đợi chờ em
Sẽ tuyệt vời và mạnh mẽ vô cùng
Một trận đánh
Sẽ vang lên trong lồng ngực của em.
Anh hạnh phúc và xin chúc mừng
Cho người, mà có thể
Sẽ đi cùng em
Trên một con đường.
1957.

KHÚC BI CA LỚN GỬI JOHN DONNE(1)
John Donne ngủ say, xung quanh đều ngủ cả.
Giường chiếu, sàn nhà, tường, những bức tranh
ngủ say móc treo, then cửa, thảm, bàn
tủ quần áo, nhà ăn, ngọn nến, rèm cửa sổ.
Tất cả ngủ say. Cốc chén và chai lọ
dao thái bánh mì, bát đĩa sứ, pha lê
cả ngọn đèn đêm, tủ, kính, đồng hồ
cả những bậc cầu thang và cánh cửa.
Đêm ở khắp nơi: trong mắt, trong góc phòng, trong tủ
giữa giấy trắng, trên bàn và cả trong lời
trong củi, trong kìm, trong góc đã tắt rồi
cái bếp lò, và trong từng đồ vật.
Trong áo kamzon(2), trong giày, trong tất
sau lưng ghế, trên giường và cả trong gương
trên thập ác, trong chậu, trên vải trải giường
trong chổi quét sân. Tất cả đều ngủ hết.
Tất cả ngủ say. Cửa sổ rơi đầy tuyết
Mái nhà hàng xóm trắng như vải trải bàn.
Cả khu phố trong giấc ngủ mơ màng
Khung cửa sổ bị cắt ra như chết.
Những vòm cửa, bức tường đều ngủ hết
Đá rải đường, song chắn, những khóm hoa
ánh sáng không bừng lên, không kẽo kẹt bánh xe…
những chiếc bàn con, rào giậu và dây xích.
Ngủ say cửa, tay cầm, từng chiếc móc
những ổ khóa ngủ say cả khóa lẫn chìa.
Không còn vang lên tiếng gõ, tiếng thầm thì
Tất cả ngủ say, chỉ tuyết kêu ken két.
Ngủ say những chiếc cân, ngủ say nhà ngục
ngủ say sưa cả những chiếc ghế dài.
Cả dây xích chó, cả mái hiên ngoài.
Mèo ngủ say, những đôi tai dựng ngược.
Luân Đôn ngủ say, cả người lẫn chuột.
Nước và tuyết, ngủ say những cánh buồm
sau những thùng xe tất cả ngủ mơ màng
cả chốn xa xăm với bầu trời ngái ngủ.
John Donne ngủ say. Và biển cùng anh ngủ.
Cát trắng trên bờ cũng ngủ say sưa.
Cả hòn đảo chìm đắm trong giấc mơ.
Mỗi khu vườn khóa bằng ba ổ khóa.
Những con cua, cây tùng, cây phong – ngủ cả.
Những ngọn đồi, những dòng suối, những lối mòn.
Cáo, chó sói. Cả gấu cũng lên giường.
Tuyết rơi đầy trước cửa hang trắng xóa.
Chim cũng ngủ. Tiếng hót không còn nữa.
Qụa không kêu, họa mi lặng trong đêm
không tiếng cười. Đồng nước Anh im lìm.
Chuột nhận lỗi lầm. Một ngôi sao lấp lóa.
Tất cả ngủ say. Tất cả nằm trong mộ
những kẻ chết rồi lặng lẽ ngủ yên
kẻ đang sống ngủ say sưa trên giường.
Ai cô đơn, ai trong tình ấp ủ.
Cả núi rừng, những dòng sông đều ngủ.
Ngủ say sưa cả thú dữ và chim.
Chỉ tuyết trắng bay liệng từ trời đêm.
Nhưng rồi lên những mái đầu sẽ ngủ.
Cả những thiên thần cũng say sưa ngủ
cuộc đời quên trong giấc mộng thánh thần
Ngủ say sưa cả Địa ngục, Thiên đàng.
Không một ai giờ này ra đi cả.
Thượng Đế ngủ. Mặt đất giờ xa lạ.
Mắt không nhìn và tai chẳng nghe ra.
Quỉ sứ ngủ cùng với lòng hận thù
trên những cánh đồng nước Anh trắng xóa.
Thiên thần ngủ với kèn. Những người cưỡi ngựa.
Cùng ngựa ngủ say trong giấc ngủ tròng trành.
Tất cả thiên thần xếp thành một đám đông.
Ôm lấy nhau dưới vòm trời của Chúa.
John Donne ngủ say. Thơ ca đều ngủ cả.
Mạnh yếu chẳng tìm ra, tất cả những vần
những hình ảnh, những buồn chán, lỗi lầm
cũng như thơ, nằm yên trong từ ngữ.
Mỗi câu thơ như người anh em gần gũi
dù thủ thỉ bên tai, chỉ một chút nhường.
Nhưng ai ai cũng rất xa thiên đàng
nên nghèo khổ, nỗi buồn đoàn kết lại.
Thơ iambơ cũng ngủ say như vậy.
Thơ cô-rê giống như kẻ canh chừng.
Bên phải, bên trái, ngủ say cả cách nhìn.
Và sự vinh quang cũng ngủ say sau đấy.
Những tai họa ngủ say. Ngủ say đau đớn.
Lầm lỗi ngủ say. Thiện và ác ôm nhau.
Lầm lỗi ngủ say. Tuyết rơi trắng một màu
trong không gian vặt vãnh tìm vết bẩn.
Tất cả ngủ say. Sách ngủ say thành đống.
Dòng sông lời thành băng giá lãng quên.
Những dòng sông với sự thật của mình.
Xiềng xích ngủ. Chỉ khua lên rất khẽ.
Tất cả ngủ. Thượng Đế, thiên thần, quỉ sứ.
Cả bạn bè, đầy tớ, những đứa con.
Chỉ tuyết vang lên trong bóng tối con đường.
Tiếng vọng trên thế gian không còn nữa.
Nhưng. Anh có nghe trong bóng đêm băng giá
có ai đó khóc, ai đó thì thầm.
Có ai đó phó thác cho mùa đông.
Và khóc lên. Trong bóng đêm ai đó.
Giọng rất thanh. Mảnh mai như kim nhỏ.
Nhưng chỉ không còn… Người ấy cô đơn
bơi trong tuyết. Khắp nơi lạnh và sương…
Khâu đêm với bình minh… Trên cao đó.
“Thiên thần chăng? Có ai đang nức nở
mong trở về đợi tuyết như mùa hè
của tình yêu? Trong bóng đêm về nhà.
Anh kêu trong bóng đêm? Câu trả lời chẳng có.
“Dàn đồng ca buồn. Có phải thiên thần nơi đó
nhắc cho ta những giọt lệ ngân vang.
Có phải các ngươi từ giã giáo đường
đang mê ngủ. Có phải các ngươi?” – Lặng lẽ.
“Có phải ngươi, Paven? Giọng của ngươi, đúng thế
đã chai sần bởi giọng nói khô khan.
Có phải ngươi, mái đầu bạc trong đêm
khóc ở đó?” Nhưng âm thầm gặp gỡ.
“Có phải bàn tay che mắt nhìn ngó
đôi bàn tay khắp nơi thấy lờ mờ?
Thượng Đế chăng? Dù ý nghĩ vẩn vơ
Nhưng tiếng khóc nghe chừng rất cao cả”.
“Có phải thiên thần Gabriel thổi gió
trong chiếc kèn, ai đó sủa rất to
chỉ một mình tôi đôi mắt mở ra.
Đang thắng yên cương những người kị sĩ.
Tất cả ngủ say. Trong bóng đêm ấp ủ.
Từ trời xanh chó chạy cả một đàn.
Có phải thần Gabriel giữa mùa đông
với chiếc kèn một mình đang nức nở?”
“Không phải - tôi, John Donne, tôi là hồn anh đó.
Tôi một mình buồn thấu tận trời xanh
rằng hồn anh bằng lao động của mình
tạo nên những tình cảm nặng nề và ý nghĩ.
Với những thứ này anh bay lên có thể
giữa những đam mê, giữa những lỗi lầm.
Anh từng là chim thấy nhân dân mình
khi bay trên những mái nhà, mọi ngả.
Anh nhìn thấy cả bao la biển cả.
Địa ngục kia anh nhìn thấy rõ ràng
và sau đó anh nhìn thấy Thiên đàng
trong khổ đau vì đam mê chối bỏ.
Anh nhìn thấy cuộc đời như đảo nhỏ.
Và anh từng gặp gỡ với Đại dương
khắp bốn phía chỉ tiếng rú, bóng đêm.
Anh giật-lùi rồi bay quanh Thượng Đế.
Nhưng hành trang vào trời xanh không thả
để thấy cuộc đời – trăm cái tháp mà thôi
và dải băng sông nhìn thấy từ trời
ngày phán xử không có gì đáng sợ.
Và khí hậu chỉ đứng yên một chỗ.
Tất cả như một giấc mộng rã rời.
Thượng Đế là ánh sáng trong cửa sổ mà thôi
màn sương đêm trong ngôi nhà xa lạ.
Những cánh đồng không có ai cày cả.
Không cày tháng năm. Thế kỉ cũng không.
Chỉ rừng vây quanh bốn phía như tường.
Chỉ mưa rơi tí tách trên hoa cỏ.
Người tiều phu đầu tiên với con ngựa nhỏ
chạy tới nơi rồi lạc lối trong rừng
vì sợ hãi đã trèo lên cây thông
trong thung lũng cháy bừng như ngọn lửa.
Tất cả xa xôi. Ở đây nhìn không tỏ.
ánh mắt lặng nhìn những mái nhà xa.
ở đây sáng không nghe tiếng chó nhà
và tiếng chuông hoàn toàn không nghe rõ.
Người tiều phu hiểu rằng xa tất cả
nên đã quay ngựa lại, phóng về rừng.
Ngay lúc này cả người, ngựa, bóng đêm
đã trở thành giấc mơ Kinh Thánh đó.
Không có đường. Tôi khóc lên nức nở.
Đành quay về với sỏi đá mà thôi.
Khi còn sống không thể đến nơi này.
Chỉ sau khi chết tôi về nơi đó.
ánh sáng của tôi ơi, tôi quên anh nhé
trong đất đai quên lãng đến muôn đời
về khổ đau của mong ước tôi bơi
để thân xác, chia ly đem khâu vá.
Tôi ngạc nhiên tiếng khóc nơi ngủ trọ
đang bay vào bóng tối rồi tan ra
tuyết khâu lại ly biệt của hai ta
giật tới-giật lùi, đang bay kim nhỏ.
Không phải tôi thổn thức, – mà anh khóc đó.
Một mình anh nằm trong tủ đựng đồ
một khi tuyết còn bay vào ngôi nhà ngủ mê
một khi tuyết còn bay vào bóng đêm từ đó”.
Giống như chim, anh ngủ yên trong tổ
khao khát cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn
đến muôn thuở vào ngôi sao anh tin
ngôi sao này tia sáng không còn nữa.
Giống như chim, tâm hồn anh sạch sẽ
con đường vui, đáng lẽ, phải lỗi lầm
cái tổ quạ, đáng lẽ, tự nhiên hơn
trên bầy xám những tổ chim làm giả.
Giống như chim, ban ngày anh tỉnh ngủ.
Còn bây giờ nằm dưới tuyết trắng tinh
bằng giấc mộng, bằng tuyết trắng khâu lên
khoảng không gian giữa hồn và xác ngủ.
Tất cả ngủ yên. Nhưng còn chờ đợi nữa
hai-ba dòng thơ và những miệng nhe răng
nghĩa vụ nhà thơ - tình yêu của người trần
còn tình yêu tâm hồn dành cho cha xứ.
Nước không rơi lên bánh xe ai đó
là bánh mì nơi trần thế đang vơi.
Bởi có thể với ai chia sẻ cuộc đời
thì cái chết ai cùng ta chia sẻ?
Lỗ trên vải. Ai muốn thì cứ xé.
Khắp mọi nơi. Đi. Rồi lại quay về
Giật mạnh nữa! Và chỉ vòm trời kia
trong bóng đêm lấy chiếc kim người thợ.
Ngủ yên. John Donne. Ngủ yên, đừng đau khổ.
áo thủng caftan(3) buồn bã treo cao
Từ mây đen nhìn xuống một ngôi sao
đã bao năm thơ của anh gìn giữ.
1963.
__________
(1)John Donne (Giôn Đôn)(1572-1631) – nhà thơ Anh theo trường phái siêu hình. John Donne hơn 200 năm bị người đời lãng quên. Chỉ đến đầu thế kỷ 20 nhà thơ W. B. Yeats mới tìm thấy bậc tiền bối của mình. J. Brodsky, như ta biết qua bài thơ này, cũng đã đánh giá rất cao John Donne. Thế kỉ XX John Donne, có lẽ, là nhà thơ cổ điển thời thượng nhất ở nước Anh. Ngoài thơ ông còn để lại một quyển sách 3 tập, nổi tiếng như một người thuyết giáo. “Con người không phải là một hòn đảo, không chỉ là tự mình; mỗi người là một phần của lục địa, một phẩn của tổng thể; nếu biển cuốn đi dù chỉ một hòn đất thì châu Âu sẽ trở nên ít hơn, cũng như nếu biển cuốn đi cả vùng đất mũi hay ngôi nhà của bạn anh, hay ngôi nhà của riêng anh. Cái chết của mỗi con người làm cho tôi trở thành ít lại vì tôi là một phần của nhân loại, và bởi thế anh đừng bao giờ hỏi chuông nguyện hồn ai: chuông nguyện hồn anh đấy”. Những lời này của John Donne được nhà văn E. Hemingway dùng làm đề từ và tên của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Chuông nguyện hồn ai”.
(2)Kamzon - áo cổ, thường là ngắn tay của đàn ông Nga.
(3)Caftan - áo dài cổ của đàn ông Nga.
(Xem thêm: Các nhà thơ đoạt giải Nobel)

Valery Yakovlevich Bryusov (tiếng Nga: Валерий Яковлевич Брюсов, 13 tháng 12 năm 1873 – 9 tháng 10 năm 1924) là nhà văn, nhà viết kịch, nhà thơ Nga.
Tiểu sử:
Valery Bryusov sinh ở Moskva, trong gia đình một thương gia. Từ nhỏ đã say mê đọc sách văn học. Năm 1893 học xong trường gymnazy, Valery Bryusov vào học lịch sử và ngôn ngữ ở Đại học Moskva. Thời kỳ này ông đã say mê các nhà thơ Pháp: Paul Verlaine, Arthur Rimbaud, Maurice Maeterlinck, Stéphane Mallarmé… Năm 1899, tốt nghiệp Đại học, Valery Bryusov làm thư ký tòa soạn của tạp chí Русский архив, sau đấy thành lập nhà xuất bản Scorpion. Năm 1900 in quyển Третья стража, năm 1903 in Граду и миру, năm 1906 in Венок, được thừa nhận là một nhà thơ lớn. Những năm Thế chiến I, ông là phóng viên mặt trận của báo Русские ведомости, viết nhiều bài báo và phóng sự về chiến tranh. Thời kỳ tiếp theo, ông dành cho thơ và dịch thuật. Từ năm 1920 ông dạy môn làm thơ ở nhiều trường Đại học, một số giáo án của ông về cách làm thơ được xuất bản thành sách.
Valery Bryusov là người có những đóng góp lớn trong việc phát triển hình thức thơ, sáng tạo ra thể loại thơ tự do, chịu ảnh hưởng của Emile Verhaeren. Ông cũng là người có nhiều thể nghiệm cách tân thơ, được coi là một trong những người sáng lập trường phái ấn tượng trong thơ ca Nga. Ngoài sáng tác, Valery Bryusov còn là một trong những người đầu tiên dịch các nhà thơ Paul Verlaine, Edgar Allan Poe, Romain Rolland, Maurice Maeterlinck, Victor Hugo, Jean Racine, Ausonius, Molière, Byron, Oscar Wilde, Johann Goethe, Virgil… ra tiếng Nga. Ông mất ở Moskva, chưa sống hết 51 tuổi.
Tác phẩm:
*«Декаденты. (Конец столетия)». Драма, 1893.
*«Juvenilia» — «Юношеское», 1894
*«Chefs d’oeuvre» — «Шедевры», 1895
*«Me eum esse» — «Это я», 1897
*«Tertia Vigilia» — «Третья стража», 1900
*«Urbi et Orbi» — «Граду и Миру», 1903
*«Stephanos» — «Венок», 1906
*«Земная ось», 1907
*«Все напевы», 1909
*«Огненный ангел» (исторический роман), 1908
*«Ф. И. Тютчев. Смысл его творчества», 1911. Текст: Брюсов В. Я. Ф. И. Тютчев. Смысл его творчества.
*«Зеркало теней», 1912
*«Семь цветов радуги», 1912
*«Алтарь победы», 1913
*«Юпитер поверженный», 1916
*«Рея Сильвия», 1916
*«Опыты по метрике и ритмике, по евфонии и созвучиям, по строфике и формам», 1918
*«Последние мечты», 1920
*«В такие дни», 1921
*«Дали», 1922
*«Кругозор», 1922
*«Миг», 1922
*«Mea» — «Спеши!», 1924
Автобиография // Русская литература XX века. 1890—1914 / Под ред. С. А. Венгерова. — М., 1914. — Т. 1.
Các tuyển tập:
*Полное собрание сочинений и переводов, не оправдавшее, увы, своё название — увидели свет только тт. 1—4, 12, 13, 15, 21 — вышло в Санкт-Петербурге в 1913—1914 (издательство «Мусагет»).
*Избранные сочинения в 3-х тт., М. — Л., Гослитиздат, 1926.
*Избранные сочинения в 2-х тт., М., Гослитиздат, 1955.
*Собрание сочинений в 7-ми тт., М., 1973—1975 (наиболее полное в данный момент).
*Неизданные стихотворения, М., ГИХЛ, 1935.
*Стихотворения и поэмы, Л., «Советский писатель», 1961.
*Творческое наследие Брюсова до сих пор ещё окончательно не собрано. В настоящее время (2006) полное собрание сочинений готовится издательством «Наука».
Anh gặp gỡ với em rất vô tình
Anh gặp gỡ với em rất vô tình
Rồi ước mơ về em rất thầm lặng
Nhưng mà rất lâu cái điều thầm kín
Đã tan vào trong đau khổ của anh.
Nhưng nếu như trong cái khoảnh khắc vàng
Anh đã từng nói ra điều bí ẩn
Đã nhìn thấy gương mặt hồng luống cuống
Và đã nghe trong lời đáp “yêu anh”.
Đã bừng lên run rẩy ánh mắt nhìn
Và những bờ môi đã hoà làm một
Và tất cả đã như câu cổ tích
Mà trong đời còn trẻ đến muôn năm.
Gửi người phụ nữ
Em là phụ nữ, cuốn sách giữa muôn cuốn sách
Em – gập vào là một cuộn niêm phong
Thừa ngôn từ, ý nghĩ trong những dòng
Trong những trang điên cuồng từng khoảnh khắc.
Em là phụ nữ, nước yêu tinh giải khát
Cháy bằng lửa, khó nhọc đến bờ môi
Nhưng uống lửa, kìm lại tiếng kêu trời
Tâng bốc điên cuồng giữa bao hình phạt.
Em là phụ nữ, và điều này em đúng
Giấu vương miện của sao tự bao đời nay
Em là bóng dáng thiên thần trong vực thẳm!
Chúng tôi vì em mê hoặc bờ vách sắt
Thờ phụng em, thề khổ đau đập nát
Và cầu nguyện cho em đến muôn đời.
Cả ghét và yêu
Odi et amo.
Catullus.
Vâng, có thể vừa yêu vừa ghét
Yêu với một tâm hồn tối tăm
Nhìn thấy cả lời nguyền rủa cuối cùng
Cùng với hạnh phúc cuối cùng – trong một.
Chao ôi, những bờ môi khắc nghiệt
Và ánh mắt nhìn lôi cuốn, dối gain
Cả hình thể, thô lỗ và dịu dàng
Như bóng đêm, chuyện trò rất cuốn hút!
Ai người đã gắn mình vào ma lực
Ai cận kề với quyền lực u buồn
Ai từng uống say, ai từng ôm ấp
Thuốc độc của niềm say đắm yêu thương?
Tôi vẫn muốn nguyền rủa, nhưng vô tình
Tôi cầu nguyện về âu yếm đã quen
Tôi khó thở, kinh hoàng, tôi đau đớn
Nhưng mà tôi nhắc lại: “anh yêu em!”
Tôi đọc ra trong ánh mắt giễu cợt
Vẻ bán mua, đểu giả, vẻ dối gian
Nhưng có say mê trong điều sỉ nhục
Và vẻ hân hoan trong sự hạ mình!
Khi những nụ hôn ở trong màn đêm
Đâm vào tôi giống như là dao sắc
Tôi giống như chàng Odysseus
Mơ về ngày thiếu vắng Ithaca.
Nhưng hễ tôi từ giã Calypso
Là tôi lại buồn nhớ về một kẻ.
Khổ thân tôi! Tôi bốc thăm, rút thẻ
Số định cho tôi đường nét tối mù!
Last edited by ngophuong; 07-07-2009 at 03:56 PM..
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 06:40 PM
Ivan Bunin (1870-1953) - nhà văn, nhà thơ Nga, giải Nobel Văn học 1953.
Tiểu sử:
Sinh ngày 22-10-1870 ở vùng trung Nga, tuổi thơ sống ở miền quê tĩnh lặng của tỉnh Orlov. Thời trẻ làm thợ sửa bản in, viết báo. Năm 1891 in tập thơ đầu tay Dưới bầu trời rộng mở, năm 1897 xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, được giới phê bình đánh giá cao. Năm 1889 I. Bunin rời quê, làm nhiều nghề kiếm sống như thợ sửa bản in thử, thủ thư, làm báo... Niềm đam mê hội họa và âm nhạc đã ảnh hưởng tới sáng tác văn học sau này của ông. I. Bunin làm thơ, viết văn khá sớm, sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu nổi tiếng về văn xuôi với các truyện ngắn và truyện vừa.
Tác phẩm đầu tiên của ông là bài thơ Bên mộ Nadson - tên một nhà thơ Nga - (1863-1887). Năm 1891 ông xuất bản tập thơ trữ tình đầu tiên Những bài thơ (1891) ở Orlov. Thơ đã mở đầu văn nghiệp và còn đeo đẳng mãi ngòi bút của ông đến tận cuối đời. Năm 1894 ông in truyện ngắn đầu tay Tanka. Năm 1897, xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, viết về sự suy tàn của tầng lớp quý tộc và cảnh sống cơ cực của người nông dân Nga, được giới phê bình khen ngợi.
Tác phẩm của ông không đề cập đến các vấn đề chính trị. Ông không theo một trường phái nào như Suy đồi, Tượng trưng, Lãng mạn hay Tự nhiên chủ nghĩa. Ông sống chủ yếu ở nông thôn, đi du lịch nhiều nơi ở Nga và các nước trên thế giới như Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Hi Lạp, Palestin, Tunisia, Ai Cập và các vùng nhiệt đới... Ông quan tâm nhiều đến các vấn đề về tâm lý, tôn giáo, đạo đức và lịch sử.
Năm 1909 I. Bunin được bầu làm Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Năm 1910 ông xuất bản thiên truyện Làng, một bức tranh chân thực về cuộc sống nông thôn nước Nga; tác phẩm trở thành chủ đề bàn luận sôi nổi của giới trí thức Nga về thực chất xã hội Nga và chỉ trong một thời gian rất ngắn đã khiến I. Bunin nổi tiếng; thành công này được tiếp tục phát huy ở các tác phẩm tiếp theo.
Bunin đi du lịch nhiều nơi, làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Năm 1909 được bầu làm Viện sĩ danh dự của Viện hàn lâm Khoa học Nga. Sau cách mạng tháng Mười ông di cư sang Pháp và tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Tập truyện Những con đường rợp bóng được tặng giải Nobel được viết trong thời kỳ này. Ngoài văn, thơ Bunin còn nổi tiếng là một dịch giả thơ bậc thầy. Bản dịch Bài ca về Hiawatha (The Song of Hiawatha) của Henry Wadsworth Longfellow được tặng Giải thưởng Puskin. Những năm cuối đời, I. Bunin viết một số truyện ký độc đáo và sâu sắc về các danh nhân Nga như L. Tolstoi, A. Sekhov... Năm 1951 ông được bầu là Hội viên danh dự số một của Hội Văn bút quốc tế.
Ivan Bunin là nhà văn Nga đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học. Ông mất ngày 8-11-1953 ở Pháp.
Tác phẩm:
- Dưới bầu trời rộng mở (Под открытым небом, 1891), tập thơ.
- Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác (На край света и другие рассказы, 1897), tập truyện.
- Những quả táo Antonov (Антоновские яблоки, 1900), truyện ngắn.
- Lá rụng (Листопад, 1901), tập thơ.
- Làng (Деревня, 1910), truyện vừa.
- Sukhodol (Суходол, 1911), truyện vừa.
- Quý ông từ San Francisco (Господин из Сан-Франциско, 1915), truyện vừa.
- Hơi thở nhẹ (Легкое дыхание, 1916), truyện ngắn.
- Hoa hồng Jericho (Роза Иерихона, 1924), tập truyện.
- Tình yêu của Mitia (Митина любовь, 1926), truyện vừa.
- Những ngày đáng nguyền rủa (Окаянные дни, 1926), nhật kí.
- Cuộc đời Arseniev (Жизнь Арсеньева, 1930), tiểu thuyết.
- Giải phóng Tolstoi (Освобождение Толстого, 1937), tiểu luận.
- Những con đường rợp bóng (Темные аллеи, 1943), tập truyện.
- Hồi tưởng (Воспоминания, 1950), tập kí.

KHI ĐÔI MẮT MÀU XANH
Anh hạnh phúc khi đôi mắt màu xanh
Mắt màu xanh em ngước nhìn anh đó
Niềm hy vọng trong mắt em rạng rỡ
Bầu trời trong veo của một ngày xanh.
Và đắng cay khi đôi mắt màu xanh
Rủ hàng mi đen và em im bặt
Yêu anh không, tự mình, em chẳng biết
Còn tình yêu e ấp, cố giấu mình.
Nhưng ở khắp nơi và chung thuỷ, thường xuyên
Khi gần em tâm hồn anh toả sáng…
Người yêu ơi hãy mãi là cao thượng
Sắc đẹp tuyệt vời và tuổi trẻ của em!
1896.
CẦM TAY EM
Cầm tay em, rất lâu anh ngắm nhìn
Còn em thẫn thờ, đôi mắt em hờ khép
Trong bàn tay này – sự tồn tại của em
Anh cảm nhận ra – cả hồn lẫn xác.
Cần gì thêm? Có thể hạnh phúc thêm?
Nhưng thiên thần nổi loạn bằng bão lửa
Bay trên cuộc đời, bằng đam mê giết bỏ
Đang vút bay nhanh trước mặt chúng mình.
1898.
GIẤC MƠ NGỌT NGÀO, QUYẾN RŨ
Lại một giấc mơ ngọt ngào, quyến rũ
Tôi mơ về, mê đắm với niềm vui
ánh mắt yêu thương thầm kín gọi mời
Và một nụ cười dịu hiền vẫy gọi.
Vẫn biết rằng lại là dối gian thôi
Giấc mơ này trong bình minh tỏa sáng
Nhưng bây giờ ngày buồn chưa kịp đến
Thì hãy mỉm cười, hãy dối lừa tôi.
1898.

NGƯỜI XA LẠ
Em là người xa lạ
Nhưng yêu chỉ mình anh
Và em sẽ không quên
Cho đến ngày cuối tận.
Thế rồi em ngoan ngoãn
Lặng lẽ theo người ta
Nhưng mặt em cúi xuống
Người ấy chẳng nhận ra.
Em trở thành phụ nữ
Nhưng thiếu nữ với anh
Trong bước đi của mình
Sắc đẹp đầy quyến rũ!
Sẽ có điều phụ bạc…
Nhưng chỉ có một lần
Khi e ấp cháy lên
Ngọn lửa tình trong mắt.
Em không biết giấu đi
Rằng với người – xa lạ
Và sẽ không bao giờ
Bao giờ quên anh cả!
1908.
TA ĐI BÊN NHAU
Ta đi bên nhau, hai đứa gần kề
Nhưng nhất định nhìn anh, em đã chẳng
Lời của chúng mình bâng quơ, trống rỗng
Mất hút vào trong ngọn gió tháng ba.
Đám mây trắng lạnh lùng bay xuyên qua
Khu vườn nhỏ, giọt nước rơi tí tách
Gò má em tái nhợt trong giá buốt
Và đôi mắt xanh thắm, tựa như hoa.
Còn bờ môi khao khát chỉ khép hờ
Anh đã tránh chạm lên bằng ánh mắt
Vẻ trống trải tưởng chừng bao hạnh phúc
Cõi diệu huyền, nơi hai đứa từng qua.
1917.

HOA HỒNG JERICHO
Để thể hiện lòng tin vào cuộc sống bất tử, sự hồi sinh từ cõi chết, ở phương Đông từ xa xưa người ta đặt hoa hồng Jericho vào quan tài, vào mộ.
Thật lạ lùng rằng người ta gọi là hoa hồng, lại còn hoa hồng Jericho – một bó cọng gai giống như cỏ lông chông ở ta đây. Loài cây sa mạc này chỉ mọc trên cát sỏi ở vùng biển Chết, ở miền đồi núi Sinai không có người ở. Nhưng có huyền thoại rằng chính Ngài Savva khả kính đã chọn cho dân mình thung lũng Lửa, một thung lũng chết trơ trụi trong sa mạc Do Thái. Biểu tượng của sự hồi sinh đối với Ngài là hình một chó sói dữ, nó tô điểm cho Ngài hơn tất cả mọi thứ trên đời này.
Bởi vì con chó sói này quả là kì diệu. Bỏ xứ sở của mình chạy đi xa hàng nghìn dặm, rồi trong nhiều năm nó có thể nằm chết, có màu xám và khô. Nhưng khi đặt nó vào nước thì ngay lập tức nở ra, có nhiều lá nhỏ, có màu hồng. Và con tim người trần tội nghiệp sẽ hân hoan và được an ủi: trên đời này không có cái chết, không chết những gì một thời đã có! Không có sự chia lìa và mất mát cho đến một khi hãy còn sống tâm hồn ta, Tình yêu và Ký ức của ta!
Ta tự an ủi mình như vậy, sống lại trong ta những miền đất cổ xưa, nơi một thuở đã từng in dấu chân ta, ta sống lại những ngày hạnh phúc, nơi buổi trưa có mặt trời của cuộc đời ta đứng bóng. Khi hãy còn tràn đầy hy vọng và sức lực tràn đầy, khi tay trong tay với người con gái mà Chúa Trời sai làm người bạn đời của ta cho đến ngày xuống mộ. Lần đầu tiên ta đi về nơi xa lạ, cuộc du lãm của hôn nhân và chuyến hành hương về miền đất Thánh của Chúa Giê-su. Trong vẻ im lặng vô bờ của sự lãng quên và lặng yên muôn thuở, trước mặt ta là xứ sở Palestin – thung lũng Galilaia, những ngọn đồi Do Thái, là muối và vạc dầu của Pentapolis*. Nhưng khi đó mùa xuân, và trên tất cả mọi con đường của ta âm thầm nở hoa những bụi cây anh túc, những bông hoa đã từng nở thuở Rachel**, từng khoe vẻ đẹp những cánh đồng và những con chim nơi thiên đàng từng hót, một niềm vô tư khoái lạc qua câu ngụ ngôn trong Kinh Thánh đã dạy ta…
Hoa hồng Jericho. Vào trong nước sống của con tim, vào trong hơi mát thanh sạch của tình, ta đắm chìm trong ngọn nguồn của sự dịu dàng và buồn đau xưa cũ – và lại một lần nữa, lại một lần nữa ngọn lúa của ta kỳ lạ sống vất vưởng qua ngày. Hãy đi khỏi nơi đây, cái giờ khắc sẽ đến, khi nước sẽ khô khan, con tim sẽ héo hon – thì tro tàn của sự lãng quên sẽ bao trùm lêm hoa hồng Jericho của ta muôn thuở.
________________
Jericho – thành phố ở thung lũng Gioóc-đa-ni, phía bắc biển Chết.
*Pentapolis – vùng đất của năm thành phố: Sodom, Gomorrah, Admah, Zeboiim, Zoar.
**Rachel: vợ của Jacob.

Anton Antonovich Delvig (tiếng Nga: Анто́н Анто́нович Де́львиг, 6 tháng 8 năm 1798 – 14 tháng 1 năm 1831) là nhà thơ Nga, bạn thân của Aleksandr Pushkin.
Tiểu sử:
Anton Delvig sinh ở Moskva trong một gia đình quí tộc. Đầu tiên học ở trường pansion, sau đó học Tsarskoye Selo Lyceum cùng với Pushkin. Anton Delvig lười học nhưng biết làm thơ từ rất sớm và năm 1814 đã in thơ ở tạp chí Вестник Европы. Ông từng làm việc ở Bộ tài nguyên, Bộ tài chính, sau đó làm ở Thư viện Hoàng gia và cuối cùng làm ở Bộ nội vụ nhưng ở đâu ông cũng nổi tiếng là một người không yêu thích công việc của mình. Năm 1825 ông cưới vợ, trong gia đình thường tổ chức những buổi dạ hội văn thơ và âm nhạc mà những bạn bè của ông, là những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thường góp mặt. Cũng trong thời gian này ông tham gia hoạt động xuất bản, in nhiều hợp tuyển văn thơ có giá trị.
Di sản văn học của ông không lớn, cũng như trong mọi công việc, trong thơ ca ông cũng nổi tiếng là một người lười viết, tuy nhiên, nhiều bài thơ trữ tình của ông dành cho ông một vị trí trong các nhà thơ lớn của thế kỷ vàng của thơ Nga. Đối với những người nghiên cứu lịch sử văn học thì ông là người bạn thân của Aleksandr Pushkin mà trong một bức thư Pushkin viết: “… Chẳng có ai trên đời này thân thiết hơn với tôi bằng Delvig… Thiếu Delvig thì chúng tôi chắn chắn là những kẻ mồ côi”.
Anton Delvig mất ở Sankt-Peterburg.
Tác phẩm:
*Полное собрание сочинений — в «Библиотеке Севера» за июль 1893 г., под ред. В. В. Майкова.
*Полн. собр. стихотворений. Вступ. ст. Б. Томашевского, 2 изд., Л., 1959 *Стихотворения, М. - Л., 1963.
*Дельвиг А.А. Сочинения. Л., 1986.
Tình yêu
Yêu là gì? Một giấc mơ rời rạc.
Là sự hòa nhập quyến rũ, say mê
Và khi ta ôm ấp những ước mơ
Thì sẽ thốt ra những lời thổ thức.
Rồi mơ màng trong say sưa ngọt lịm
Đưa bàn tay để nắm bắt ước mơ
Còn khi giấc mộng bắt đầu giã từ
Để lại cái đầu đớn đau và nặng.
Bài ca chúc rượu
Không có gì bất tử hay vững chãi
Dưới ánh trăng này muôn thuở đổi thay
Vì tất cả nở hoa rồi tàn lụi
Những gì sinh ra trên mặt đất này.
Và trước chúng ta đã từng vui vẻ
Đã từng yêu nhau, từng uống rượu say
Sẽ tốt lành, ta uống cốc rượu này
Chúc những ai đã từng trong quá khứ.
Rồi sau ta sẽ còn nhiều vui nữa
Còn yêu nhau và còn uống rượu vang
Và người ta lại nâng cốc chúc mừng
Cho những ai đã từ lâu yên ngủ.
Ta bây giờ cả tin và vui vẻ
Và quây quần bên chén rượu ta ngồi
Ôi tình bạn, cháy lên bằng ngọn lửa
Đốt ta bằng vẻ bất tử của ngươi.
Last edited by ngophuong; 07-07-2009 at 04:02 PM..
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 06:48 PM
[ B]Andrei Dmitryevich Dementiev[/b] (tiếng Nga: Андрей Дмитриевич Дементьев, sinh ngày 16 tháng năm 1928) là nhà thơ, nhà báo Nga.
Tiểu sử:
Andrei Dementiev sinh ở Tver. Tốt nghiệp phổ thông năm 1946. Bắt đầu hoạt động văn học từ năm 1948, in thơ ở các báo và tạp chí. Năm 1948 – 1949 học năm thứ nhất ở Đại học Kalinin. Những năm 1948 – 1952 học ở trường viết văn Maxim Gorky.
Andrei Dementiev là cộng tác viên của báo “Sự thật Kalinin” (những năm 1953 – 1955), trưởng ban đời sống thanh niên của báo “Smena” (những năm 1955 – 1958). Từ năm 1967 ông sống ở Moskva, biên tập thơ của nhà xuất bản “Đội cận vệ trẻ”. Biên tập của tạp chí “Tuổi trẻ” (những năm 1981 – 1992). Những năm 1990 được cử làm đại diện của Đài truyền hình ORT (kênh 1 truyền hình Nga) ở Israel. Năm 2000 bị miễn nhiệm vì những bài thơ đăng ở báo “Thanh niên Moskva” phê phán những nhà lãnh đạo Nga sau thời cải tổ.
Andrei Dementiev là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Nga nửa cuối thế kỷ XX. Ông được tặng giải thưởng của Đoàn thanh niên Komsomol năm 1981, và Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1985.
Tác phẩm:
*Лирические стихи. Калинин. 1955
*Родное: Стихи. Калинин. 1958
*Дорога в завтра: поэма о Валентине Гагановой. Калинин. 1960
*Глазами любви: стихи. Калинин. 1962
*Про девочку Марину и про смешную птицу: Стихи. Калинин. 1963
*Солнце в доме: Стихи. М. 1964
*Наедине с совестью: Стихи. М. 1965
*Штрихи большой жизни: М. И. Калинин в родных местах. М. 1965
*Август из Ревеля: рассказы о М. И. Калинине. М. 1970
*Избранная лирика: Стихи. М. 1970
*Боль и радость: Стихи и поэма. М. 1973
*Первый ученик: рассказ о М. И. Калинине. М. 1973
*Рядом ты и любовь. М. 1976
*Азарт. М. 1983.
*Стихотворения. М. 1988.
*Снег в Иерусалиме. М. 1995.
*У судьбы моей на краю. М. 2002.
*Я живу открыто. М. 2003.
*Виражи времени. М. 2004.
*Избранное. М. 2004.
*Нет женщин нелюбимых. М. 2006.
*Новые стихи. М. 2006.
ĐỪNG BAO GIỜ TIẾC THƯƠNG MỘT ĐIỀU GÌ
Đừng bao giờ tiếc thương một điều gì
Điều xảy ra, thay đổi là không thể
Vò nỗi buồn như bức thư ngày cũ
Quá khứ này bạn đừng tiếc thương chi.
Điều đã xảy ra đừng bao giờ tiếc thương
Hoặc cả với điều không bao giờ còn xảy
Chỉ mong sao cõi lòng đừng tê tái
Hy vọng như chim bay lượn trong hồn.
Với số phận mình cũng đừng tiếc thương
Ngay cả khi đầy mỉa mai, chua chát…
Mặc ai lên cao, mặc ai xuống thấp
Đừng tiếc thương, mặc thiên hạ vui buồn.
Đừng bao giờ thương tiếc một điều gì
Dù bắt đầu muộn hay ra đi quá sớm
Dù ai đó chơi đàn rất ấn tượng
Nhưng bài ca từ hồn bạn lấy về.
Đừng bao giờ thương tiếc một điều gì
Không ngày đã mất, không tình đã chết
Mặc cho ai đó chơi đàn rất tuyệt
Nhưng tuyệt vời hơn là bạn biết nghe!

KHI TÌNH RA ĐI
Khi tình ra đi, không về nữa
Em hãy chia tay vui vẻ với tình.
Vì, em tự do với quá khứ
Nhưng không với ký ức của mình.
Anh xin em
Hãy là người cao thượng
Bỏ qua những dối lừa, láu lỉnh.
Khi tình ra đi không về
Hãy đàng hoàng tiễn biệt tình đi.
Em hãy xứng với hạnh phúc ngày cũ
Thừa nhận những giận hờn.
Ta phải trả nợ cho quá khứ
Trong hiện tại của em và anh.
Em hãy xứng với tình yêu của mình
Dù tình đi, tình đến
Vì, cho hạnh phúc của mình
Cả hai ta đều đang đứng
Bên sự khổ đau
Mà cái giá khác nhau.
BÀI BALLAD VỀ TÌNH YÊU
– Em không thể nào sống thiếu anh
Từ ngày đầu tiên em đã hiểu…
Giống như con ngựa phi nước kiệu
Vừa từ dưới vực thoát lên.
– Và em không thể thiếu anh
Em đợi chờ bao nhiêu. Mỏi mệt.
Giống như giữa trời trắng tuyết
Lòng em bỗng gặp cơn giông.
Gặp rồi tách, những con đường
Nhưng chàng gọi cho nàng khắp mọi chốn
Chàng lặng lẽ nói: “Em đừng buồn…”
Và nàng nghe ra: “Anh sẽ đến…”
Một lần con ngựa phi nhanh
Chàng ngã xuống từ con ngựa ấy…
– Em không thể nào sống thiếu anh
Nàng thì thầm với chàng trong bóng tối.
Chàng mê sảng… nhưng sức mạnh của tình
Lại trả chàng về cuộc sống
Và cái chết khuyên rằng: “Cứ sống!”
Tất cả bắt đầu như buổi đầu tiên.
– Em không thể nào sống thiếu anh…
Chàng mỉm cười có phần mệt mỏi
– Thế em có nhớ ngày tuyết ấy
Lòng em từng gặp cơn giông?
Những bông tuyết bám vào thái dương
Và những giọt sương trên khóe mắt…
Em không thể nào thiếu anh được
Nghĩa là, điều xảy ra, chưa từng.
1947
XIN CÁM ƠN VÌ EM CÓ TRÊN ĐỜI
Xin cám ơn, vì em có trên đời
Vì giọng nói của mùa xuân tươi mát
Như một tin vui tốt đẹp đến đây
Trong những phút giây giận hờn, ngờ vực.
Xin cám ơn, vì ánh mắt chân thành
Vì cái điều mà anh luôn khao khát
Trong lòng anh còn đau nỗi đau em
Trong lòng anh sức lực em tích góp.
Xin cám ơn, vì em có trên đời
Xuyên qua mọi dòng thơ và khoảng cách
Và những dòng điện nào đang lẩn quất
Bỗng nhắc cho anh nhớ – em ở đây.
Em ở đây, trên đời, khắp mọi ngả
Anh nghe ra giọng nói và tiếng cười.
Anh bước vào tình, như điều kỳ lạ
Và anh vui trước tất cả mọi người.
1970

Gavrila Romanovich Derzhavin (tiếng Nga: Гаври́ла Рома́нович Держа́вин, 14 tháng 7 năm 1743 – 20 tháng 7 năm 1816) là nhà thơ Nga thế kỷ Ánh sáng, một đại diện của Chủ nghĩa cổ điển. Derzhavin là nhà thơ lớn của Nga trước Aleksandr Pushkin.
Tiểu sử:
Derzhavin sinh ở Kazan (nay là Cộng hòa Tatar thuộc Liên bang Nga) trong một gia đình quí tộc đã sa sút. Từ năm 1762 phục vụ trong quân đội Nga hoàng ở Sankt-Peterburg, tham gia cuộc đảo chính mà sau đó Nữ hoàng Ekaterina II lên ngôi. Những năm 1776-1777 tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa nông dân của Pugachev. Sau khi viết bài thơ Оды к Фелице, 1782 về Nữ hoàng Ekaterina II được phong làm tỉnh trưởng tỉnh Olonetsky (từ năm 1784), tỉnh Tambov (1785 –1788). Ở các tỉnh này Derzhavin đã đấu tranh với nạn tham nhũng dẫn đến xích mích với tầng lớp quí tộc địa phương và đành quay lại thủ đô năm 1789. Thời kỳ này ông được giữ nhiều chức vụ cao trong chính phủ. Năm 1802 – 1803 giữ chức Bộ trưởng Tư pháp. Từ năm 1803 ông xin từ chức về sống ở trang trại Zvanka ở Novgorod. Những năm cuối đời ông chỉ tập trung cho sáng tác văn học.
Gavrila Derzhavin có sự ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ lớn của Nga thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Aleksandr Pushkin gọi Gavrila Derzhavin là “nhà thơ vĩ đại”, là bậc tiền bối của mình. Nhiều nhà tư tưởng, nhà phê bình cho rằng nền văn học Nga vĩ đại được bắt đầu từ bài thơ Thượng Đế (Бог) của Gavrila Derzhavin. Dưới đây là mấy câu trích trong bài thơ nổi tiếng ấy:
Ta là vua – là nô lệ - là Thượng Đế - là giun
Nhưng trong người ta thật vô cùng kỳ lạ
Ta đến từ đâu? Không ai hay biết cả
Và tự ta không thể trở thành chính mình.
Gavrila Derzhavin mất năm 1816 ở tu viện Khutyn Monastery gần Novgorod.
DÒNG SÔNG THỜI GIAN
Dòng sông thời gian trong dòng chảy
Sẽ cuốn đi bao sự nghiệp theo dòng
Và sẽ dìm những vương quốc, ông hoàng
Những dân tộc vào lãng quên, cát bụi.
Và nếu như có chút gì còn lại
Sau tiếng ngân vang của những cây đàn
Thì cũng sẽ bị cuốn vào vĩnh hằng
Đấy là số phận chung không thoát khỏi.
GIÁ MÀ NHỮNG THIẾU NỮ
Giá mà những thiếu nữ
Có thể bay được như chim
Rồi đậu trên cành
Thì tớ xin làm cây gỗ
Để cho cả nghìn thiếu nữ
Sẽ đậu trên cành.
Để cho họ hát lên
Hót líu lo và làm tổ
Và nở ra những con chim nhỏ
Không bao giờ tớ chịu ngả nghiêng
Muôn thuở sẽ ngắm nhìn
Và sẽ hạnh phúc hơn tất cả.
RƯỢU ĐA DẠNG
Đây là rượu màu hồng
Ta uống mừng sức khoẻ
Con tim âu yếm quá
Ta hôn những môi hồng!
Em cũng hồng cũng đẹp
Thì em hãy hôn anh!
Đây là rượu màu đen
Ta uống mừng sức khoẻ
Con tim âu yếm quá
Đỏ thắm những môi hôn!
Em cũng giòn cũng đẹp
Thì em hãy hôn anh!
Đây là rượu màu vàng
Ta uống mừng sưc khoẻ
Con tim âu yếm quá
Tuyệt đẹp những môi hôn!
Em cũng xinh cũng đẹp
Thì em hãy hôn anh!
Đây nước mắt thiên thần
Ta uống mừng sưc khoẻ
Con tim âu yếm quá
Yêu lắm những môi hôn!
Em cũng hiền cũng đẹp
Thì em hãy hôn anh!
NGÀY HẠ THỦY CON TÀU “ORLOV”
Khi ngươi lướt đi trên những ngọn sóng dưới trời cao
Nhìn thấy trí tuệ con người và quyền lực trên biển cả
Nhưng nếu rơi xuống vực – sẽ nhìn ra kiếp phù vân của họ.
Ngươi hãy bay lên để muôn đời sống giữa những vì sao.
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 06:52 PM
Yulia Vladimirovna Drunina (tiếng Nga: Юлия Владимировна Друнина, 10 tháng 5 năm 1924 – 21 tháng 11 năm 1991) – nữ nhà thơ Nga.
Tiểu sử:
Yulia Vladimirovna Drunina sinh ở Moskva. Bố là giáo viên dạy lịch sử, mẹ là nhân viên thư viện trường. Học ở trường bố dạy. Năm 17 tuổi tình nguyện ra mặt trận làm y tá chiến trường. Hai lần bị thương. Năm 1947 tham gia Đại hội các nhà văn trẻ toàn liên bang, được kết nạp vào Hội nhà văn Liên Xô. Năm 1952 tốt nghiệp trường viết văn Maxim Gorky. Yulia Vladimirovna Drunina từng được bầu là thư ký Hội nhà văn Liên Xô, được tặng nhiều huân, huy chương. Năm 1990 được bầu vào Xô viết Tối cao. Khi báo chí hỏi “vào Xô viết Tối cao để làm gì?”, Yulia Drunina trả lời: “Tôi muốn bảo vệ quyền lợi của quân đội, bảo vệ quyền lợi của những người tham gia chiến tranh Vệ quốc và những người tham gia chiến đấu ở Afghanistan”. Sau đó, khi cảm thấy bất lực, Yulia Drunina đã tự rút lui khỏi Xô viết Tối cao. Năm 1991, bà tự vẫn ở Moskva do không thừa nhận những nguyên tắc của công cuộc cải tổ (Perestroyka).
Thơ của Yulia Drunina viết về tình yêu, tình bạn, tình đồng đội và tình yêu Tổ quốc.
Tác phẩm:
*Разговор с сердцем, (Trò chuyện với trái tim, 1955), thơ
*Ветер с фронта (Gió từ chiến trường, 1958), thơ
*Современники, (Những người đương thời, 1960), thơ
*Тревога (Nỗi lo, 1965), thơ
*Страна Юность, (Đất nước tuổi trẻ, 1966), thơ
*Ты вернешься, (Anh sẽ trở về, 1968), thơ
*В двух измерениях, (Hai cách đo, 1970), thơ
*Не бывает любви несчастливой (Không có tình yêu nào bất hạnh, 1973), thơ
*Окопная звезда (Ngôi sao nơi chiến hào, 1975), thơ
*Бабье лето (Hè muộn, 1980), thơ
*Алиска (Aliska, 1973), truyện
*С тех вершин (Từ những đỉnh cao ấy, 1979), tự truyện
Các tuyển tập:
*Есть время любить (Một thời để yêu, 2004)
*Память сердца. Стихотворения (Ký ức của trái tim, 2002)
*Неповторимый звёздный час. — Эксмо-Пресс, 2000.
*Мир до невозможности запутан. Стихотворения и поэмы (Thế giới rối bời. Thơ và trường ca, 1997)
*Юлия Друнина. Избранное. В двух томах (Tuyển tập tác phẩm. 2 tập, 1981)
BIẾT LÀM SAO GIẢI THÍCH
Biết làm sao giải thích cho người mù
Từ lúc sinh ra đã như đêm mờ mịt
Vẻ đẹp của mùa xuân ngang tàng bạo ngược
Hay sắc cầu vồng không thể hình dung ra?
Biết làm sao giải thích cho người điếc
Từ lúc sinh ra đã điếc lặng như đêm
Vẻ dịu êm của tiếng viôlôngxen
Hay cơn giông khi giữa trời sấm sét?
Biết làm sao giải thích cho người tội nghiệp
Sinh ra trên đời với máu cá lạnh tanh
Vẻ bí ẩn của sự diệu kỳ trên mặt đất
Có tên gọi là TÌNH???
1959
ANH BÊN EM
Anh bên em – tất cả đều tuyệt vời
Và mưa rơi, và cơn gió lạnh
Em cám ơn anh, nguồn ánh sáng
Xin cám ơn vì anh có trên đời.
Xin cám ơn vì những bờ môi
Cám ơn những bàn tay âu yếm
Cám ơn anh, người em yêu mến
Xin cám ơn vì anh có trên đời.
Anh bên em – vì có một điều này
Đã có thể hai chúng mình không gặp…
Cám ơn anh, người yêu duy nhất
Xin cám ơn vì anh có trên đời.
1959

ĐEM CHÔN TÌNH YÊU
Tình yêu của mình
Hai đứa đem chôn
Và cây thánh giá
Ta đặt trên ngôi mộ.
– Lạy Chúa! –
Cùng nói lời hai đứa…
Chỉ tình yêu của ta
Đứng dậy từ nấm mồ
Quở trách hai đứa:
– Các người đã làm gì thế?
Ta vẫn sống đây mà!…
1960
ĐỪNG GẶP LẠI
Đừng gặp lại
Với tình yêu đầu tiên
Hãy cứ để cho tình mãi mãi
Là nguồn hạnh phúc vô biên
Hay là nỗi đau buốt nhói
Hay là bài ca tê tái
Đã ngừng lại bên sông.
Đừng nhớ về ký ức
Không đáng mà –
Tất cả đều đã khác
Ta cảm thấy bây giờ…
Hãy cứ để cho
Điều thiêng liêng nhất
Sẽ bất di bất dịch
Ở trong ta.
1969
EM KHÔNG HỀ QUEN
Em không hề quen
Để cho người ta xót thương mình
Và em tự hào rằng trong khói lửa
Những người đàn ông trong máu lửa
Đã gọi người giúp đỡ
Người đó là em…
Nhưng trong buổi chiều nay hòa bình
Buổi chiều tuyết trắng xóa mùa đông
Em không muốn nhớ về quá khứ
Và người phụ nữ –
Vẻ luống cuống, ngỡ ngàng
Em ngã xuống bờ vai anh.
THỜI BUỔI NI KHÔNG AI CHẾT VÌ TÌNH
Thời buổi ni không ai chết vì tình
Thời đại nay buồn cười và tỉnh táo
Chỉ huyết cầu tố giảm đi trong máu
Chỉ người buồn mà không có nguyên nhân.
Thời buổi ni không ai chết vì tình
Chỉ con tim cứ mỏi mệt hằng đêm.
Nhưng “xe cấp cứu”, mẹ ơi đừng gọi
Kẻo bác sĩ thất vọng nhún vai và nói:
“Thời buổi ni không ai chết vì tình …”
CÓ MỘT THỜI ĐỂ YÊU
Có một thời để yêu
Có một thời về tình yêu sẽ viết
Tại sao anh cứ yêu cầu:
“Thư của anh hãy đốt!”
Em rất vui mừng
Rằng có một người ở chốn trần gian
Người này không hề biết
Rằng tuyết của thời gian
Từ lâu trên đầu tóc
Của cô gái đã mang
Rằng cô đã từng
Nếm trải niềm vui và nước mắt…
Anh chớ yêu cầu:
“Thư của anh hãy đốt!”
Có một thời để yêu
Có một thời về tình yêu sẽ viết.
TÌNH YÊU ĐI QUA
Tình yêu đi qua.
Nỗi đau đi qua.
Và lòng hận thù tàn tạ.
Chỉ sự hững hờ –
Đấy là điều tai họa –
Như tảng băng cứng đờ.
TRONG TÌNH YÊU KHÔNG CÓ KẺ ĐÚNG, SAI
Trong tình yêu không có kẻ đúng, sai
Chẳng lẽ hiện tượng tự nhiên này là rượu?
Tình yêu cũng giống như lò lửa cháy
Bay trên số phận mọi người.
Trong tình yêu không có kẻ đúng, sai
Trong tình yêu không một ai có lỗi
Chỉ tiếc thay cho dại dột cái người
Từng cố tình dập tắt lò lửa cháy…
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 06:56 PM

Sergei Aleksandrovich Esenin (3/10/1895 – 28/12/1925) – nhà thơ trữ tình Nga, là một trong những nhà thơ được yêu thích nhất của thế kỷ XX.
Tiểu sử:
Esenin sinh ở làng Konstantinova, tỉnh Ryazan trong một gia đình nông dân. Bố là Aleksandr Nikitich, mẹ là Tatyana Fyodorovna. Bố mẹ lấy nhau theo ý của ông bà chứ không phải vì tình nên sau một thời gian, mẹ đưa Esenin về sống nhà ông bà ngoại. Sau đó, mẹ đi tìm kế mưu sinh, Esenin được ông bà ngoại nuôi dạy. Ông ngoại là người sùng đạo và rất hiểu sách Thánh, bà ngoại là người thuộc nhiều chuyện cổ tích và những bài hát dân gian. Theo lời Esenin thì chính bà ngoại là người gợi cho ông những cảm xúc để viết những bài thơ đầu tiên. Esenin đầu tiên học ở trường làng, sau đó học ở trường của nhà thờ. Năm 1912, Esenin lên Moskva, nơi bố đang làm việc cho một thương gia. Năm 1913 vào học khoa sử-triết ở Đại học nhân dân Moskva và học ở đây trong một năm rưỡi. Thời gian này Esenin đã có con với Anna Izryadnova (hôn nhân không đăng ký). Năm 1914, tạp chí Mirok in những bài thơ đầu tiên của Esenin. Năm 1915, Esenin đến Petrograd gặp Aleksandr Blok và làm quen với nhiều nhà thơ nổi tiếng khác. Năm 1917, ông kết hôn lần thứ hai với nữ diễn viên Zinaida Raikh, họ có hai đứa con. Những năm 1918 – 1920, Esenin kết bạn với Anatoly Mariengof và tích cực tham gia vào nhóm hình tượng. Năm 1921, Esenin đi về vùng Ural và trung Á. Mùa thu năm 1921, Esenin làm quen với Isadora Duncan, hai người làm đám cưới vào năm 1922 và sau đó đi du lịch sang nhiều nước châu Âu và Mỹ. Năm 1923, Esenin lại say sưa với nữ nghệ sĩ Augusta Miklashevskaya, kết quả của cuộc tình này là tập thơ “Mối tình của tên du đãng”. Những năm 1924 – 1925, Esenin đi về vùng Kapkage (Azerbajan, Gruzia). Cảm xúc trước vẻ đẹp của vùng này cùng với ấn tượng về các nhà thơ Ba Tư cổ là nguồn cảm hứng cho ông viết tập thơ “Những mô-típ Ba Tư” – đỉnh cao trong sáng tạo của ông. Tháng 6 năm 1925, Esenin kết hôn với Sofia Tolstaya, cháu gái của đại văn hào Lev Tolstoy nhưng cuộc hôn nhân này cũng không mang lại cho ông hạnh phúc. Cuối năm 1925 ông đi về Leningrad, không cho vợ biết và tự kết thúc cuộc đời mình vào năm 30 tuổi ở khách sạn Anglettere. Về cái chết của Esenin, có nhiều giả thiết cho rằng không phải ông tự tử mà bị giết. Năm 1989 một hội đồng về cái chết của Esenin do Yuri Prokushev làm chủ tịch được thành lập và kết luận cũng không có gì mới.

NƯỚC NGA YÊU DẤU
Ôi nước Nga yêu dấu của tôi ơi
Nhà gỗ thông của Người mang tượng Chúa
Một màu xanh tít tắp tận chân trời
Cho đôi mắt được ngắm nhìn thuê thỏa.
Giống như kẻ hành hương mùa trẩy hội
Tôi ngắm nhìn đồng ruộng của nước Nga
Bên bờ giậu quanh làng thấp te tái
Những cây dương gầy guộc vẫn vui đùa.
Hương táo chín và mật thơm lan tỏa
Trong nhà thờ ca tụng Đức Chúa Trời
Có tiếng kêu vù vù sau làng nhỏ
Rồi trên đồng là điệu nhảy vui tươi.
Tôi chạy theo lối mòn hoa cỏ nát
Ra bao la đồng ruộng trải ngát xanh
Đón chào tôi – như vành khuyên lúc lắc
Là tiếng cười các cô gái vang lên.
Nếu thiên thần đồng thanh cất tiếng gọi:
“Bỏ nước Nga lên sống ở thiên đường!”
Tôi sẽ nói: “Thiên đường tôi chẳng lấy
Hãy trao cho tôi tổ quốc yêu thương!”
1914
THẰNG NGÔNG
Cơn mưa nhỏ như những chiếc chổi ướt
Đang quét phân dương liễu vãi trên đồng.
Gió hãy làm cho lá kêu sột soạt
Ta cũng như mày, gió ạ, thằng ngông.
Ta mến yêu những khi rừng xanh thắm
Giống như đàn bò rảo bước nặng nề
Thở bằng lá phì phò trong những bụng
Một phần cây, đến đầu gối, bùn dơ.
Này đây mi, đàn bò vàng ta ơi!
Còn ai hát về rừng hay hơn thế?
Ta nhìn thấy buổi hoàng hôn đang ghé
Liếm dấu chân bỏ lại của con người.
Ôi nước Nga bằng gỗ của ta ơi
Một mình ta – người đưa tin, thi sĩ.
Thơ ta – nỗi buồn của loài muông thú
Ta nuôi chúng bằng những cỏ và cây.
Lúc nửa đêm cái gàu trăng hãy ngó
Rồi múc vào dòng sữa của bạch dương!
Có vẻ như muốn bóp cổ ai đó
Bằng bàn tay của thập ác nghĩa trang!
Trên ngọn đồi thơ thẩn một bóng đen
Đổ vào vườn vẻ dữ dằn tên trộm
Ta tự mình cũng là tay lỗ mãng
Một máu cùng tên trộm ngựa thảo nguyên.
Ai nhìn ra đang sôi sục trong đêm
Rặng anh đào dại rì rầm sôi động?
Giá mà trong đêm trên thảo nguyên xanh
Ở đâu đó cầm dùi cui ta đứng.
Đã khô bụi cây trên mái đầu ta
Vòng tù hãm của thơ ca cuốn hút.
Ta khổ sai trong mạch nguồn cảm xúc
Buộc xoay vòng cái cối của thơ ca.
Đừng sợ chi, hỡi ngọn gió điên cuồng
Lá trên đồng cứ cuốn vào lặng lẽ
Ta chẳng sợ mất cái tên “thi sĩ”
Ta trong thơ, cũng như gió, thằng ngông.
1919
TÔI – NHÀ THƠ CUỐI CÙNG CỦA NÔNG THÔN
Tặng A. Mariengof
Tôi – nhà thơ cuối cùng của nông thôn
Cây cầu gỗ khiêm nhường trong bài hát.
Tôi đứng sau lễ mi-xa tiễn biệt
Lá bạch dương vẫn lắc những bình hương.
Sẽ cháy hết màu vàng trong ngọn lửa
Từ xác thân ngọn nến, sẽ tàn thôi
Và mặt trăng đồng hồ quê giục giã
Sẽ gióng lên giờ phút cuối cho tôi.
Trên lối nhỏ của ruộng đồng xanh thắm
Sẽ bước ra vị khách thép và gang.
Lúa kiều mạch bằng ban mai rót xuống
Sẽ gom về lúa mạch cánh tay đen.
Những bàn tay chết, bàn tay xa lạ
Những bài ca không sống với ngươi đâu!
Chỉ tội những bông lúa mì cho ngựa
Về người chủ xưa buồn bã u sầu.
Ngọn gió làm đau tiếng hý vang trời
Điệu nhảy lồng lên cầu siêu cho ngựa.
Sắp tới đây đồng hồ quê giục giã
Sẽ gióng lên giờ phút cuối cho tôi.
1920
THẾ GIỚI CỦA TA CỔ XƯA, BÍ ẨN
Thế giới của ta cổ xưa, bí ẩn
Còn ngươi lặng im như gió ngồi lên
Đưa bàn tay ra bóp cổ ngôi làng
Bàn tay đá của những con đường lớn.
Giữa trời tuyết thật vô cùng khiếp đảm
Vẻ kinh hoàng đang giãy giụa, kêu la
Ta chào ngươi, cái chết đen của ta
Bước ra đường ta cùng ngươi chào đón!
Đô thị hỡi, ngươi trong cơn giao chiến
Đặt tên ta như rác bẩn, xác chôn
Đồng ruộng tái tê trong đôi mắt buồn
Vẻ sững sờ như những dòng điện tín.
Bắp thịt gân trên cổ bầy quỉ ác
Tấm lót bằng gang lên đó đặt vào
Đành chịu chăng? Bởi không phải lần đầu
Ta từng chịu lung lay và mất mát.
Thôi con tim đớn đau thì cứ mặc
Bài ca này của sự thật thú muông
… Kẻ đi săn đuổi theo chó sói rừng
Rồi vòng vây cứ dần dần siết chặt.
Con thú né… và từ nơi mai phục
Có ai người lúc ấy bóp cò nhanh
Bỗng chồm lên… và địch thủ hai chân
Bị xé ra từng phần vì nanh vuốt.
Ta chào con thú yêu thương của ta!
Chẳng vô tình mi nhảy vào dao sắt.
Ta cũng thế – bị khắp nơi đuổi bắt
Giữa những kẻ thù sắt thép ta qua.
Cũng như mi – ta sẵn sàng chờ đợi
Dù nghe tiếng kèn chiến thắng hoan ca
Nhưng sẽ thử thách máu thịt kẻ thù
Bằng cú nhảy chết người trong lần cuối.
Dù trên tuyết, rồi đây ta sẽ đổ
Sẽ chôn mình trong tuyết trắng quê hương…
Nhưng bài ca về cái chết đau buồn
Sẽ hát ta nghe ở bờ bến nọ.
1921
TẶNG CHÚ CHÓ NHÀ KACHALOV
Jim, hãy đưa ta bàn chân lấy may
Bàn chân thế chưa bao giờ được ngắm.
Nào, hai ta cùng sủa dưới trăng này
Trong tiết trời lặng yên và thanh vắng
Jim, hãy đưa ta bàn chân lấy may.
Nào, Jim yêu, đừng liếm ta rối rít
Hiểu cùng ta một điều tối giản đơn
Bởi đời là gì Jim đâu có biết
Có biết đâu đáng sống lắm trên trần.
Chủ của Jim đáng yêu và danh tiếng
Khách khứa thường hay lui tới đầy nhà
Ai cũng cố mỉm cười và âu yếm
Vuốt ve bộ lông Jim mượt như tơ.
Trong loài chó, quả là Jim tuyệt đẹp
Với vẻ đáng yêu, tin cậy, dịu dàng
Jim chẳng thèm hỏi han chi ai hết
Như người say, cứ sấn đến đòi hôn.
Jim yêu dấu, giữa bao nhiêu khách đấy
Có đủ hạng người thế nọ thế này.
Nhưng một nàng buồn, lặng hơn hết thảy
Có bỗng tình cờ từng ghé đến đây.
Nếu nàng đến, giao phó cho Jim đấy
Dù vắng ta, hãy đắm đuối nhìn nàng
Thay ta hôn bàn tay thật dịu dàng
Vì tất cả, có và không có lỗi.
1925
NHỮNG CON NGỰA VÀ NHỮNG XE TRƯỢT TUYẾT
Những con ngựa và những xe trượt tuyết
Rõ một điều quỉ mang xuống trần gian.
Trên thảo nguyên phi nước đại ngang tàng
Tiếng nhạc ngựa cười vang, trào nước mắt.
Không trăng sáng, chẳng còn nghe tiếng chó
Phía ngoài rìa chốn hoang mạc xa xăm
Hãy gắng giữ, cuộc đời ta điên cuồng
Đến muôn thuở ta đã già đâu chứ.
Mặc đêm tối, hãy hát lên xà ích
Nếu ngươi cần ta sẽ hát cùng ngươi
Hát về một thời tuổi trẻ vui tươi
Về ánh mắt những cô nàng tinh nghịch.
Có nhiều khi mũ lông ngươi đội lệch
Rồi gióng ngựa vào giữa hai càng xe
Chỉ người ta kêu tên, hãy nhớ về
Khi đè trên lớp cỏ khô, ghì chặt.
Và phong thái lấy từ đâu chẳng biết
Khi giữa đêm hôm khuya khoắt vắng tanh
Đã từng rủ rê không chỉ một nàng
Sau tiếng đàn ta-lin-ka khoan nhặt.
Tất cả đi qua, tóc ta giờ thưa bớt
Ngựa không còn, sân nhà rộng thênh thang
Tiếng đàn nay đã chùng xuống, u buồn
Quên hết mất những điều xưa đã học.
Nhưng dù sao, lửa lòng đâu đã tắt
Ta vẫn còn yêu tuyết với giá băng.
Về tất cả những gì đã xa xăm
Tiếng nhạc ngựa cười vang trào nước mắt.
19-9-1925.
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
11-12-2007, 07:03 PM
[ IMG]http://www.state.gov/cms_images/russia_cathedral_2006_06_142.jpg[/IMG]
LỜI KÊU GỌI
Hãy vui lên!
Mặt đất đã đệ trình
Một cái chậu nhà thờ mới nhất!
Đã cháy hết
Những cơn bão tuyết màu xanh
Và con rắn đã mất
Cái nọc đọc của mình.
Ôi tổ quốc
Cánh đồng nước Nga của tôi
Và các anh, những đứa con của Người
Hãy dừng lại đây
Bên bờ giậu
Hãy ca tụng mặt trăng, mặt trời
Mặt trăng, mặt trời của Chúa!
Còn trong những vườn trẻ
Một ngọn lửa hồi sinh
Của khắp mọi nơi trên trái đất
Thành phố mới Nazareth(1)
Trước mặt các anh.
Và những mục sư ca tụng
Một buổi sáng
Ánh sáng sau những ngọn đồi…
Điều kỳ diệu của nước Anh hãy cúi xuống
Và hãy tung ra trên biển!
Sự thần kỳ phương bắc của ta
Những đứa con nước Anh không thể nhận!
Và ngươi sẽ không nhận ra thần tượng
Không nghe ra tiếng gọi kín thầm
Vì ánh mắt nhìn mờ sương
Và trên đôi môi của ngươi – tấm thảm.
Tất cả ngang bướng hơn, tất cả phí hoài
Cái miệng ngươi bóng tối không nắm bắt.
Không, trong vườn trẻ ngươi không nói ra sự thật
Cho Chúa Jêsus Christ của ngươi!
Nhưng hãy biết điều này
Những kẻ đang ngủ say:
Có một ngôi sao từng sáng rực
Ngôi sao của Phương Đông!(2)
Và vua Herod không thể dập tắt
Bằng máu của những đứa bé con…
“Nàng Salome hãy nhảy cẫng lên!”
Đôi chân của nàng nhẹ nhàng như đôi cánh.
Và hãy hôn bằng đôi môi vô hồn
Nhưng giờ đóng đinh của nàng sắp đến!
Và đã đứng dậy Ngài Giăng
Kiệt sức vì vết thương
Nâng lên từ dưới đất
Cái đầu lâu bị cắt
Và đôi môi của Ngài
Lại vang lên lời
Lại dọa dẫm
Cả thành phố Sodom:
“Hãy hồi tâm lại!”
Ôi những con người, những anh em của tôi
Các anh ở đâu? Đáp lời tôi nhé
Tôi không cần người tráng sĩ
Không biết gì sợ hãi trên đời.
Tôi không cần chiến thắng của ngươi đâu
Tôi không cần cống phẩm!
Tất cả chúng tôi là táo và anh đào
Của khu vườn xanh thắm.
Tất cả chúng tôi – những chùm nho trĩu nặng
Của mùa hè vàng
Chúng tôi có đầy đủ đến ngày tận cùng
Cả ấm áp và ánh sáng!
Ai đó khôn ngoan không thể tả
Tất cả đều giống như mình
Cho người sống – bằng bài ca hát lên
Cho người chết – giấc ngủ trong ngôi mộ.
Ai đó dạy chúng tôi và yêu cầu
Đo đếm và nhận thức.
Chúng tôi sinh ra đời đâu phải vì giết chóc
Mà để tin và để yêu nhau!
1917
___________
(1)Nazareth – thành phố quê hương của Chúa Giê-su Christ.
(2)Ngôi sao Phương Đông: ngôi sao báo tin Chúa Giê-su ra đời (Tân Ước_Ma-thi-ơ 2:1-12).
–Vua Herod (73-4 tr CN) – vị vua tàn bạo, thích quyền lực, giết hết những ai là đối thủ. Theo truyền thuyết đã giết hết bé trai từ 2 tuổi trở xuống khi nghe tin Chúa Giê-su ra đời. (Tân Ước_Ma-thi-ơ 2:16).
–Salome: con gái của Herodias, là một cô gái xinh đẹp và quyến rũ. Trong ngày sinh nhật vua Herod nàng đã nhảy múa giữa những người dự tiệc làm vua rất thích và hứa sẽ cho nàng điều chi nàng muốn. Nàng Salome, theo lời xui của mẹ, bảo vua rằng nàng muốn cái đầu của Giăng Báp-tít (John the Baptist). Vua rất buồn nhưng vẫn sai chém đầu Giăng như nàng yêu cầu… (Tân Ước_Ma-thi-ơ 14: 6-11).
–Thành phố Sodom (Sodom and Gomorah) – là thành phố trong Kinh Thánh (Tân Ước_Ma-thi-ơ 10:15; 11: 20-24).
Hai khổ thơ trên đây của Esenin nói về một sự tích trong Kinh Thánh. Trước Esenin, sự tích này cũng đã từng được nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch Oscar Wilde (1854-1900) chuyển thành vở kịch Salome nổi tiếng thế giới. Trong vở kịch này nàng Salome có phần đam mê mãnh liệt hơn, mọi tình tiết cũng phức tạp và gay cấn hơn. Giăng là một vị Thánh, xa lạ với những quyến rũ thân xác của phụ nữ nên ông thẳng thừng từ chối… Nhưng Salome không chịu đầu hàng: đã không chiếm đoạt được người tình bằng xương bằng thịt thì vẫn có được người tình, dù là xác chết… Vở kịch này cho thấy một sự ghen tuông, thói đỏng đảnh tai ác của phụ nữ trong tình yêu. Chính nàng Salome của Wilde (chứ không phải của Kinh Thánh) trong suốt hơn một trăm năm nay là nguồn cổ vũ cho rất nhiều nhà đạo diễn, nhiều họa sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn trong sáng tạo của mình.

NGƯỜI ĐÁNH TRỐNG TRỜI
1
Ê, những kẻ tôi đòi
Bụng bám vào mặt đất
Bây giờ mắt trăng từ dưới nước
Ngựa đã uống hết rồi.
Những ngôi sao như lá vàng đang rót
Xuống những dòng sông trên đồng.
Cách mạng muôn năm
Cả trên trời, dưới đất!
Ta ném hồn như bom
Vãi ra tiếng còi bão tuyết.
Ta sợ gì nước bọt
Nhổ vào cánh cổng trời xanh?
Có phải ta sợ những thống soái
Của bầy khỉ trắng kia chăng?
Thế giới này như đội kỵ binh
Khát khao những bờ bến mới.
2
Nếu đây là mặt trời
Trong âm mưu cùng với chúng
Thì ta giương súng
Cả hàng ngũ hướng vào.
Nếu đây là mặt trăng
Người bạn của thế lực kia đen tối
Thì ta sẽ từ trời xanh
Ném đá ào ào vào gáy.
Ta xua hết mây đen
Những con đường nhào đất
Quả đất như lục lạc
Lên cầu vồng treo lên.
Còn ngươi hãy ngân vang
Mẹ – mặt đất ẩm ướt
Về rừng, về cánh đồng
Của mền quê xanh mướt.
3
Hỡi những người lính, những người lính
Chiếc roi da lấp lánh trên vòi rồng
Ai tình hữu ái và tự do mong muốn
Người đó coi cái chết tựa lông hồng.
Hãy đoàn kết chặt chẽ như bức tường!
Những ai căm ghét màn sương và khói
Bằng bàn tay đã chai sần người ấy
Giật mặt trời làm một chiếc trống vàng.
Giật mặt trời và bước đi trên đường
Rót lời gọi trên những hồ sức mạnh
Trong bóng tối của nhà thờ và đinh
Thành màu trắng của một bầy khỉ trắng.
4
Hãy vững tin rằng chúng ta sẽ thắng!
Rằng bến bờ mới mẻ chẳng xa xăm
Móng vuốt trắng tinh của từng ngọn sóng
Sẽ cào cấu lên những bãi cát vàng.
Sắp tới đây một đợt sóng cuối cùng
Sẽ vẩy lên mặt trăng nhiều vô kể
Và con tim – ngọn nến sau ngày lễ
Của công xã và quần chúng nhân dân.
Da sạm đen, đoàn kết một đoàn quân
Ta đi lên đoàn kết toàn thế giới
Ta đi lên bằng nhiệt tình sôi nổi
Và đám mây của bầy khỉ sẽ tan.
Ta đi lên, còn ở sau rừng cây
Xuyên qua màn sương, xuyên qua màu trắng
Người đánh trống trời của ta sẽ đánh
Sẽ đánh vào chiếc trống – mặt trời.
1918-1919.

SOROKOUST
(Những lời cầu nguyện cho người chết trong 40 ngày)
Tặng A. Mariengof
1
Tù và chết đang thổi!
Còn ta biết làm sao được bây giờ
Trên những con đường lầy lội?
Các ngươi, những kẻ yêu bọ chét
Các ngươi có muốn chăng……..
Đầy ắp vẻ dịu dàng trên gương mặt
Yêu hoặc không yêu – cứ nhận lấy cho mình.
Thật dễ chịu khi hoàng hôn trêu chọc
Và trút vào những đôi mông chắc nịch
Cái chổi nào thấm máu của bình minh.
Sắp tới đây giá lạnh bằng bụi vôi nhuộm trắng
Ngôi làng này và những đồng cỏ kia.
Sẽ không còn nơi để ẩn náu kẻ thù
Sẽ không còn nơi lẩn tránh.
Và đây, kẻ thù với cái bụng
Bằng sắt, và sẽ xoè rộng bàn tay.
Chiếc cối xay gió cũ sẽ vểnh đôi tai
Cối xay gió nghe hơi và tiên đoán
Và con bò trong sân im lặng
Vì đầu óc của mình đã rót hết cho bê con
Bên bờ giậu cọ cái lưỡi của mình
Cảm nhận ra trên cánh đồng có điều chi tai họa.
2
Phía sau làng, có phải là vì thế
Mà tiếng phong cầm nức nở khóc than:
Ta-li-a-la-la, ti-li-gôm
Treo trên khung cửa sổ trắng.
Và ngọn gió mùa thu màu vàng
Có phải vì thế mà chạm vào mặt nước màu xanh
Như chiếc bàn chải ngựa kia bằng sắt
Chải sạch lá vàng từ những cây phong.
Đang bước đi một người đưa tin khủng khiếp vô cùng
Bước chân khệnh khạng đập vỡ những cánh rừng.
Và tất cả những bài ca đều trở nên buồn bã
Sau tiếng kêu của ễnh ương trong rơm chí choé.
Ô, bình minh điện khí hoá
Bằng dây đai và vẻ ôm choàng
Lên bụng những mái nhà con
Đang thức dậy một cơn sốt bằng gang thép!
3
Các ngươi có nhìn thấy chăng
Đang chạy trên thảo nguyên
Trong sương hồ đang cắt
Thở phì phò bằng lỗ mũi sắt
Một con tàu trên bàn chân gang?
Còn sau lưng
Trên hoa cỏ rậm
Như trong cuộc đua tuyệt vọng
Vắt đôi chân nhỏ lên đến tận đầu
Con ngựa nhỏ tung bờm đang phóng?
Kẻ khờ khạo dễ thương
Nó về đâu cố theo cho kịp?
Chẳng lẽ nó không biết rằng con ngựa bằng da bằng thịt
Đành chịu thua ngựa bằng thép bằng gang?
Chẳng lẽ nó không biết rằng trên những cánh đồng
Bước chân xưa đã không còn quay trở lại
Khi mà hai cô gái Nga xinh đẹp nơi đồng nội
Bị đem dâng để lấy ngựa – một kẻ mục cư?
Số phận nơi bán mua đã khác hẳn bây giờ
Lạch nước sâu thức dậy bằng tiếng kêu cót két
Dùng hàng nghìn pút da ngựa và cả thịt
Người ta đem mua đầu máy bây giờ.
4
Vị khách kinh tởm kia, quỉ hãy bắt mi đi!
Bài hát của ta và mi không thể nào quen nổi.
Ta chỉ tiếc rằng từ cái thời ta hãy còn nhỏ tuổi
Đã không phải dìm mi như cái xô xuống đáy giếng sâu.
Giờ chúng vẫn đứng và nhìn ngó mà chẳng u sầu
Tô những bờ môi trong những nụ hôn bằng sắt
Chỉ có ta, như người hát thánh ca, đành phải hát
Lời nguyện cầu cho tổ quốc yêu thương.
Chính vì thế mà trong tháng chín u buồn
Trên mặt đất khô và lạnh lẽo
Đập đầu vào bờ giậu
Quả thanh lương trà đỏ như máu đang tuôn.
Chính vì thế mà đâm rễ nỗi buồn
Trong tiếng đàn ta-lian-ka thành chuỗi
Và chàng thợ cày mê mải
Đắm chìm trong “nước mắt quê hương”.
1920
________________
*Phần 3 của tác phẩm nói về một biến cố hiện thực. Trong bức thư gửi Livshits E. N. , Esenin viết: “Điều này đã làm tôi cảm kích… chỉ nỗi buồn thú vật thân thương đã mất và sức mạnh khủng khiếp, chết chóc của cơ giới. Một ví dụ về điều này. Chúng tôi đi tàu từ Tikhoretskaya đến Piattigorsk, bỗng nghe thấy tiếng kêu và chúng tôi ngó qua cửa sổ thấy một con ngựa non chạy đuổi theo con tàu và không hiểu sao nó lại nghĩ rằng sẽ vượt con tàu. Con ngựa chạy đuổi rất lâu nhưng cuối cùng đã đuối sức và đến một ga nào đấy người ta đã bắt lấy nó. Sự kiện này với ai đó thì không có gì nhưng với tôi nó nói lên rất nhiều điều. Con ngựa sắt đã thắng con ngựa bằng xương thịt. Và con ngựa non, đối với tôi, là hình ảnh về làng quê đang dần chết…” Những bài thơ “Tôi – thi sĩ cuối cùng của nông thôn”; “Thế giới của ta cổ xưa, bí ẩn”… cũng đều về đề tài này.
Nguyễn Bính của Việt Nam đã từng rất khổ sở khi thấy cô em đi tỉnh về mặc áo cài khuy bấm nhưng sợ mất lòng em ông đã không dám nói ra chỉ thầm van xin cô hãy giữ lấy cái vẻ quê mùa với quần nái đen, khăn mỏ quạ. Còn Esenin của nước Nga đã phát khóc lên khi thấy con ngựa bằng xương bằng thịt đành chịu thua ngựa bằng thép bằng gang… Ta thấy hai nhà thơ này có những nét thật giống nhau.
LỜI TỰ THÚ CỦA TÊN DU ĐÃNG
Không phải ai cũng biết hát
Không phải người nào cũng được trời cho
Quả táo rơi dưới chân người khác.
Này là lời thú nhận lớn nhất
Do một tên du đãng xưng lời.
Tôi cố ý để đầu tóc rối bời
Với cái đầu như cây đèn trên vai.
Mùa thu lụi tàn của tâm hồn người khác
Tôi thích trong bóng tối soi lên.
Tôi thích những hòn đá sỉ nhục
Ném vào tôi như mưa đá cơn giông
Khi đó tôi chỉ nắm tay thật chặt
Cái bong bóng nghiêng của mái tóc mình.
Rất dễ chịu tôi nhớ về khi đó
Cái đầm rêu, giọng khản của cây sồi
Bố mẹ tôi hiện sống ở đâu đó
Bố mẹ chẳng hề cần đến thơ tôi
Như máu thịt, ruộng đồng, tôi quí họ
Và như mưa xuân tưới xuống cỏ cây.
Họ lấy cào đánh vào các ngươi đó
Vì mỗi tiếng kêu các người ném vào tôi.
Những người nông dân tội nghiệp!
Bố mẹ, có lẽ, đã không còn đẹp
Và vẫn hay sợ Chúa, sợ đầm lầy
Ôi, giá mà bố mẹ hiểu con đây
Rằng con trai bố mẹ ở nước Nga này
Là nhà thơ ưu tú nhất!
Có phải con tim bố mẹ đã từng lạnh ngắt
Khi con nhúng đôi chân trần vào vũng nước mùa thu
Thế mà bây giờ con đi ngao du
Mũ cao sang, giày bóng mượt.
Nhưng trong hắn vẫn còn vẻ ham mê ngày trước
Của cái dòng ngổ ngáo nông thôn.
Với mỗi con bò đeo tấm biển của quầy hàng thịt
Hắn đã cúi chào từ chốn xa xăm.
Và khi gặp những người xà ích
Hắn lại nhớ mùi phân của ruộng đồng
Hắn sẵn sàng nâng đuôi từng con ngựa
Như váy cưới nàng dâu trong lễ tân hôn.
Tôi yêu quê hương
Tôi yêu quê hương mình tha thiết!
Dù quê hương có nỗi buồn da diết
Cái miệng lem luốc của con ngựa làm cho tôi thích
Và trong đêm khuya tiếng ếch nhái dặt dìu.
Tôi đau đớn ngọt ngào bằng hoài niệm ấu thơ
Mơ về khói sương của những chiều tháng tư.
Có vẻ như đang ngồi sưởi ấm
Cây phong nhà trước đống lửa bình minh
Trên cây phong có biết bao nhiêu là trứng quạ khoang
Và tôi đã từng trèo lên ăn cắp trứng!
Không biết bây giờ có còn xanh trên ngọn?
Và có như xưa, chắc chắn lớp vỏ bì?
Còn con chó thân yêu kia
Con chó trung thành và loang lổ?!
Mày già trở nên mù và kêu the thé
Kéo cái đuôi lòng thòng mày chạy quanh sân
Không còn đánh hơi ra đâu bánh mì, đâu cửa.
Những trò nghịch ngợm kia tao quí hóa
Khi mẹ sắp những mẩu bánh mì tròn
Tao cùng với mày, theo lượt cắn ăn
Không xâm phạm của nhau dù một chút.
Tôi giờ vẫn như ngày trước
Tấm lòng tôi vẫn như xưa.
Như cây thỉ xa, nở hoa trên gương mặt.
Trải chiếc chiếu thơ
Tôi muốn nói ra những lời dịu ngọt.
Chúc ngủ ngon!
Chúc tất cả ngủ ngon!
Giọt sương reo vang trên hoa cỏ hoàng hôn
Và hôm nay tôi vô cùng muốn
Đái từ cửa sổ vào trăng…
Ánh sáng màu xanh, ôi ánh sáng màu xanh!
Trong màu xanh này chết đi không thấy tiếc.
Nhưng mà tôi nghĩ rằng trơ trẽn thật
Gắn mình vào cái đuôi của ngọn đèn!
Chòm sao Phi mã xưa tốt bụng ghé thăm
Nhưng liệu ta có cần nước kiệu ngươi chầm chậm?
Ta đến đây như bậc thầy cứng rắn
Để hát ngợi ca những chú chuột đồng
Cái đầu ta tựa như ngày tháng tám
Rót rượu nho của mái tóc măng.
Tôi muốn làm một cánh buồm màu vàng
Về xứ sở mà chúng ta muốn đến.
1920
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
12-12-2007, 08:59 AM
Mirra Aleksandrovna Lokhvitskaya (tiếng Nga: Мирра Александровна Лохвицкая, 1869 – 1905) là nữ nhà thơ Nga, thường được gọi là Sappho của Nga.
Tiểu sử:
Mirra Lokhvitskaya là con gái của một nhà bác học và là một luật sư nổi tiếng, chị gái của nữ nhà thơ Teffi. Tốt nghiệp Đại học Aleksandr Moskva. Làm thơ từ những ngày còn là sinh viên. Từ năm 1889 bắt đầu in thơ ở các tạp chí Севере; Художнике; Сев. Вестн; Неделе; Ниве… Năm 1896 in tập thơ đầu tiên, năm 1898 in tập thứ 2, năm 1900: tập thứ 3, năm 1903: tập thứ 4, năm 1905: tập thứ 5.
Năm 1897 được tặng Giải thưởng Pushkin cho tập thứ 1. Năm 1905, tập thứ 5 được tặng giải thưởng của Viện hàn lâm. Nhà thơ Konstantin Balmont gọi Mirra Lokhvitskaya là Sappho của Nga và tên gọi này trở thành phổ biến vì thơ của bà chỉ viết về tình yêu dưới mọi biểu hiện của nó. Về tài thơ, Mirra Lokhvitskaya là một trong những nhà thơ nữ xuất sắc nhất của Nga. Thơ của bà được yêu thích cả đương thời cũng như hiện tại.

EM MUỐN LÀM NGƯỜI YÊU DẤU CỦA ANH
Em muốn làm người yêu dấu của anh
Nhưng không phải chỉ vì giấc mơ đẹp
Mà để cho đến muôn đời gắn kết
Số phận và tên hai đứa chúng mình.
Thế giới này làm mê hoặc con người
Cuộc đời này buồn đau và tăm tối
Người thương ơi giá mà anh hiểu nổi
Rằng trong đời em chỉ một mình thôi.
Đâu đúng, sai – em không biết được rằng
Em như kẻ giữa rừng sâu lạc lối
Rằng đời em nếu như anh xô đẩy
Thì giữa lòng tiếng vọng sẽ hồi âm.
Mặc cho bao người sẽ vứt hoa lên
Và cản trở, mặc trần gian cát bụi
Nhưng không phải anh, tất nhiên, không phải
Hỡi ông hoàng của trái tim em.
Đến muôn đời em mãi mãi của anh
Sẽ ngoan hiền và dịu dàng, đằm thắm
Không nước mắt và không điều trách mắng
Em muốn làm người yêu dấu của anh.
1904

KHÚC HÁT TÌNH YÊU
Em muốn, giá mà đem mơ ước của anh
Những ước mong kín thầm, hay giấc mộng
Sẽ biến chúng thành những bông hoa sống động
Nhưng… có lẽ là quá chói chang những bông hồng!
Em muốn, giá mà em có cây đàn
Đặt vào ngực cho tình cảm trẻ trung muôn thuở
Như những bài ca, sẽ vang lên trong đó
Nhưng… có lẽ là dây đứt hết vì tim!
Em muốn, giá mà trong giấc ngủ thật nhanh
Nhận biết ra sự ngọt ngào, đê mê khoái lạc
Nhưng… có lẽ là em chết mất
Khi đợi chờ sự thức dậy của anh!
1889
ÁNH MẮT CỦA ANH
Ánh mắt của anh vừa nóng bỏng lại dịu êm
Làm cho em hồi hộp
Bằng sức mạnh kinh hoàng thức dậy trong lồng ngực
Một tình yêu đã ngủ quên!
Gặp ánh mắt nhìn em muốn ngã vào lòng anh
Nhưng say mê em kìm nén
Anh có biết rằng em ngọt ngào và em đau đớn
Bởi vì em yêu anh!
Em nhắm mắt lại, che mắt hai lần
Cùng bờ mi của anh dày rậm
Anh không hiểu được sau cái vẻ ngoài lạnh cóng
Không nghĩ suy, không tình cảm của em!
1890
KHÚC BI CA
Em muốn được chết trong mùa xuân
Với sự trở về của tháng Năm vui vẻ
Khi mà trước mặt em cả thế gian
Hồi sinh lại, trong mùi hương dịu nhẹ.
Tất cả những gì trong cuộc sống từng yêu
Với nụ cười em ngắm nhìn khi đó
Với cái chết em mang niềm ân huệ
Gọi cái chết là tuyệt đẹp, đáng yêu.
5-3-1893
[IMG] [/IMG]
GIÁ MÀ HẠNH PHÚC CỦA EM
Giá mà hạnh phúc của em là chim đại bàng
Rất kiêu hãnh bay giữa trời xanh thắm
Thì em sẽ giương cung tên, dịu dàng em bắn
Dù sống hay chết rồi nhưng nó của riêng em!
Giá mà hạnh phúc của em là bông hoa diệu huyền
Bông hoa nở trên đỉnh cao vách đá
Thì em sẽ hái hoa, không sợ gì hết cả
Bằng hơi thở của mình em hít cánh hoa tiên!
Giá mà hạnh phúc của em là chiếc nhẫn vàng
Giấu ở dưới đáy sông, chìm dưới cát
Thì em sẽ hoá thành tiên cá đi tìm bằng được
Và nhẫn vàng sẽ lấp lánh giữa tay em!
Giá mà hạnh phúc của em nằm trong trái tim anh
Thì ngày cũng như đêm em đốt hạnh phúc bằng ngọn lửa
Để cho không phân chia, em trao anh muôn thuở
Để hạnh phúc sẽ bồi hồi xao xuyến chỉ tình em!
1-1891
CÓ ĐIỀU GÌ BUỒN BUỒN
Có điều gì buồn buồn trong ánh bình minh
Và trong tiếng cười từ xa xôi chìm xuống
Và có nỗi buồn đau trong mùa hè oi nóng
Trong trang phục uy nghiêm của đất quê mình.
Và có tiếng hoạ mi đâu đó rì rầm
Như tiếng tơ đồng khóc than, nức nở
Có điều gì buồn buồn trong niềm vui gặp gỡ
Trong giấc mơ tuyệt vời của gian dối mùa xuân.
1896-1898
ĐÔI MÔI ANH NHƯ HAI CÁNH LỰU XANH
Đôi môi anh như hai cánh lựu xanh
Nhưng vị ngọt ong đi tìm không có
Em từng khát khao uống say một thuở
Hương mật ong, vị say đắm của tình.
Bờ mi anh như đôi cánh của đêm
Nhưng không ngủ dù thâu đêm suốt sáng
Trong mắt này em đã từng nhìn ngắm
Trong mắt này có hình bóng của em.
Tâm hồn anh như huyền bí Đông phương
Cổ tích, diệu kì nhưng không dối trá
Bởi anh là của em, của em tất cả
Đến một ngày còn sống sẽ còn thương.
1899
CÂU CHUYỆN VÔ TÌNH
Câu chuyện vô tình, hững hờ, trống rỗng
Một nỗi buồn u ám ngự trong tim
Nhưng mênh mông sâu thẳm ánh mắt nhìn
Dù không nói mà nói nhiều lắm lắm…
Lời đổi trao chỉ tầm phào, hờ hững
Cái bắt tay không xiết chặt, nhẹ nhàng
Nhưng đầu óc nổi loạn vẫn sẵn sàng
Và lồng ngực đợi chờ ôm, xúc động.
Không phải tình yêu, không phải sự mê say
Và lúc này cũng không cần quên lãng
Hãy nắm bắt khi khoảnh khắc chợt đến
Và trở thành thần trong một phút giây.
Không phải tình yêu, không phải sự mê say
Và lúc này cũng không cần quên lãng
Hãy nắm bắt khi khoảnh khắc chợt đến
Và trở thành thần trong một phút giây.
1-7-1894
HÃY BIẾT NẾM MÙI ĐAU KHỔ
Khi thiên hạ gọi ta là người mẹ, người phụ nữ
Thì ta hãy bớt đi một khoảnh khắc trong hạnh phúc của mình
Hãy lặng im và thản nhiên gìn giữ
Hãy biết cách lặng im!
Và nếu như niềm vui là những ngày rất ngắn
Và thần tượng sẽ xét đoán ta trong một sớm một chiều
Thì trong nhục nhã ê chề, khổ đau buồn chán
Hãy biết học cách yêu!
Và nếu trên người ta có dấu son chọn lựa
Nhưng cái ách nô lệ cho ta trời đã đặt lên
Thì hãy vác cây thập ác của mình với vẻ thần tiên
Hãy biết nếm mùi đau khổ!
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
12-12-2007, 06:23 PM
Nicolai Mikhailovich Rubtsov (tiếng Nga: Николай Михайлович Рубцов, 3 tháng 1 năm 1936 - 19 tháng 1 năm 1971) - nhà thơ Nga.
Tiểu sử:
Nicolai Rubtsov sinh ở Emetsk, tỉnh Arkhangelsk. Năm 1940 cả gia đình chuyển về Vologda. Cậu bé Nicolai Rubtsov sớm mồ côi bố, Mikhail Rubtsov (1900 - 1962), theo như cách nghĩ của các con thì bố chết ở chiến trường năm 1941 (trên thực tế ông vẫn sống sau chiến tranh nhưng không liên hệ gì với các con mà sống riêng). Năm 1942 mẹ mất, cả Nicolai Rubtsov và em trai được gửi vào trại tế bần và được học hết lớp 7. Từ năm 1950 - 1952 nhà thơ tương lai học ở trường trung học lâm nghiệp. Hai năm sau đó làm thợ đốt lò trên tàu đánh cá ở Arkhangelsk và hai năm làm công nhân ở nhà máy quốc phòng Kirov, Leningrad. Các năm 1955 - 1959 phục vụ quân đội ở Hạm đội Biển bắc. Sau khi giải ngũ tiếp tục vào làm công nhân ở nhà máy Kirov.
Năm 1962 vào học trường viết văn Maxim Gorky, làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng và in những tập thơ đầu tiên. Tốt nghiệp trường viết văn năm 1969 và được nhận căn hộ riêng. Rubtsov mất tại nhà riêng trong một lần say rượu, cãi nhau và gây lộn với vợ. Người này sau đó bị vào tù, sau khi ra tù đi đọc thơ của chồng và giải thích với công chúng về số phận run rủi đã đẩy đến cái chết của Nicolai Rubtsov.
Thơ trữ tình của Nicolai Rubtsov giản dị, mang hương đồng gió nội của những vùng quê Vologda. Trong thơ ông có một nỗi buồn vĩnh cửu về số phận của cuộc đời mình cũng như số phận của đất nước. Nicolai Rubtsov là một trong những nhà thơ trữ tình được yêu thích nhất ở Nga. Tượng đài của ông được đặt ở nhiều thành phố của Nga.
Tác phẩm:
*Лирика (Thơ trữ tình, 1965),
*Звезда полей (Ngôi sao đồng nội, 1967),
*Душа хранит (Tân hồn gìn giữ, 1969)
*Сосен шум (Tiếng động hàng thông, 1970),
*Стихотворения. 1953-1971(Thơ 1953 -1971, in năm 1977).
*Зелёные цветы (Những bông hoa màu xanh, 1971)
*Последний пароход (Con tàu cuối, 1973)
*Избранная лирика (Thơ trữ tình chọn lọc, 1974)
*Подорожники (Những bụi mã đề, 1975)

ANH ĐÃ QUÊN MẤT RẰNG YÊU LÀ GÌ
Anh đã quên mất rằng yêu là gì
Khi bước đi dưới trăng trên đường phố
Đã thốt ra biết bao lời nguyền rủa
Giờ nhớ về bỗng thấy tối tăm ghê.
Có một lần anh áp mặt vào tường
Theo dấu vết một hình thù quái gở
Rồi một mình kêu lên trong giấc ngủ
Khi thức giấc, anh cất bước lên đường.
Cánh cửa mở ra trong đêm muộn màng
Em không vui, gương mặt còn ngái ngủ
Anh đứng bên bục cửa như con thú
Khao khát vô cùng ấm áp tình thương.
Anh đi đi! Em tái nhợt kêu lên
Tình cảm chúng mình chỉ là quá khứ
Giờ với anh, em không còn gì nữa
Anh đi đi! Em khóc, chớ đứng nhìn…
Và anh quay lại theo con đường rừng
Trên con đường đã đi nhiều đám cưới
Không tự chủ được mình, rất tăm tối
Anh lo âu đi trong bão tuyết đêm…
1970
NHỮNG CHIẾC LÁ BAY ĐI
Từ hàng dương bay đi từng chiếc lá
Điều hiển nhiên vẫn lặp lại trong đời
Đừng thương tiếc lá làm chi, em ạ
Mà hãy thương hiền dịu mối tình tôi!
Em cứ để mặc hàng cây trần trụi
Bão tuyết gào, em trách bão mà chi!
Bởi ở đây không ai người có lỗi
Khi lìa cành những chiếc lá bay đi.

BAY ĐẾN NƠI NÀO
Hai chúng mình sẽ tự do như chim
Em thì thầm. Và ngó nhìn buồn bã.
Như bầy chim giăng thành hàng dài nhỏ
Bay trên biển trời bão tố không yên.
Và anh thấy thương, thấy tiếc một điều gì
Rằng anh yêu và được người yêu trả…
Em như chim của bầu trời xứ lạ
Đến nơi nào hai đứa sẽ bay đi?
ANH HÔN EM QUA DÒNG NƯỚC MẮT
Anh hôn em qua dòng nước mắt
Nhưng dòng nước mắt em chẳng nhìn ra
Bởi vì trời tối và ẩm ướt
Bởi vì lần ấy - đêm thu.
Trên mặt đất vút bay từng chiếc lá
Còn trên biển - bão tố rì rầm.
Những chiếc lá giờ ở lại với em
Và ở lại đây cùng anh - bão tố.
Những con sóng to lớn và dữ dằn
Sóng hờ hững đập vào từ bốn phía
Nhưng bây giờ lặng yên trên biển cả
Và hoàng hôn vẫn cháy đỏ trong sương.
Anh nghĩ rằng em ra biển thường xuyên
Em bước ra đợi chờ anh ở đó
Anh với ý nghĩ hạnh phúc như thế
Có vẻ như bình minh cháy trong lòng!
Hãy để cho bão tố đến với em
Mang nỗi buồn của anh đem bày tỏ
Còn niềm hy vọng và lòng chung thủy
Cho hoàng hôn sẽ biểu lộ trong sương…

TẠI SAO?
Em hãy là con trẻ
Giọng thanh nhẹ, mắt nai
Em hãy là con trẻ
Em chỉ biết đùa chơi.
- Nào, ta vào rừng nhé!
- Nào, đánh thức họa mi!
Ở đó, dưới mái che
Chiếc ghế dài yêu quý.
- Nào, cùng chạy ra đồng!
- Nào, cùng ngắm hoàng hôn!
Tôi nghe theo miễn cưỡng
Nói lời gì mông lung.
Nhưng tình cảm ngại ngùng
Tôi biết nhiều thứ quá
Thường với em gặp gỡ
Cô đơn, không nhẹ nhàng.
Nhưng mà em buồn rầu
Gặp nhau nghiêm túc hẳn
Em hoàn toàn nhầm lẫn
Những mâu thuẫn của tôi!
Tại sao vào rừng thế?
Sao đánh thức họa mi?
Sao đứng dưới mái che
Chiếc ghế dài đơn lẻ?
KHÚC HÁT ĐÊM ĐÔNG
Trong ngôi làng này lửa chưa tắt hẳn.
Em nỗi buồn không báo trước cho anh!
Đêm mùa đông đốt lên thật dịu dàng
Những vì sao ngời sáng.
Những vì sao diệu kỳ, sáng ngời, yên lặng
Nghe tiếng rì rào của lỗ nước trên băng…
Con đường anh đã từng lắm nhọc nhằn
Các ngươi ở đâu, những nỗi buồn đau đớn?
Cô gái khiêm nhường với tôi cười mỉm
Tôi cũng cười và cảm thấy vui vui
Những nhọc nhằn đều quên hết cả rồi
Chỉ còn đây - những vì sao ngời sáng!
Ai nói với tôi rằng trong sương tuyết
Đồng cỏ giã từ giờ đã tàn phai?
Niềm hy vọng, ai nói rằng, đã mất?
Thì ai người nghĩ ra nó em ơi?
Trong ngôi làng này lửa chưa tắt hẳn.
Em nỗi buồn không báo trước cho anh!
Đêm mùa đông đốt lên thật dịu dàng
Những vì sao ngời sáng…

SẦU CA
Bỏ lại đồ ăn nghèo nàn, thiếu thốn
Tôi đi về cõi yên lặng muôn đời.
Cho người ta sẽ yêu và đi kiếm
Trên dòng sông đơn độc của tôi.
Hãy cứ để cho những gì phúc lợi
Sẽ hứa hẹn cho tôi ở trên đời.
Không mua nhà cho tôi sau khe xói
Và hoa sẽ không nở cho tôi…
TẤT CẢ SẼ LÀ GIAN DỐI!
Viết về cái gì?
Điều này không theo ý được!
Chỉ có mình anh, thì
Cả cuộc đời không hát!
Anh chọn đề tài biển
Và đề tài đồng ruộng
Thế đề tài núi rừng?
Nhà thơ chọn khác!
Nhưng
Nếu thiếu mừng vui, khó nhọc
Thì đừng tưởng rằng
Sẽ hát được ngân vang.
Đề tài nào cũng vậy -
Biển hay ruộng đồng
Và đề tài núi rừng
Tất cả sẽ là gian dối!

David Samoylov (tiếng Nga: Давид Самойлов) là bút danh của David Samuilovich Kaufman (tiếng Nga: Давид Самуилович Кауфман, 1 tháng 6 năm 1920 - 23 tháng 2 năm 1990) là nhà thơ Nga.
Tiểu sử:
David Samoylov sinh ở Moskva. Bố là bác sĩ, tham gia Thế chiến I, Nội chiến và Thế chiến II. Những năm 1938 - 1941, David Samoylov học ở Đại học văn học, lịch sử và triết học Moskva (ИФЛИ). Năm 1941 tình nguyện ra mặt trận nhưng bị giữ lại ở hậu phương do tình trạng sức khoẻ không được tốt. Một thời gian học hàm thụ ở Đại học sư phạm Ashkhabad. Sau chiến tranh ông dịch thơ từ các thứ tiếng Litva, Ba Lan, Séc, Hungari ra tiếng Nga. Năm 1958 in tập thơ đầu tiên Ближние страны (Những đất nước gần) viết về những người chiến đấu ngoаi mặt trận. Sau đấy lа cбc tập thơ trữ tмnh triết học như Второй перевал (Ngọn đèo thứ hai, 1974). Волна и камень ( Đá và sóng, 1974); Голоса за холмами (Những giọng sau đồi, 1985)…
David Samoylov còn là tác giả của tập truyện hài rất nổi tiếng và nhiều bài viết về luật thơ. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương của nhà nước Liên Xô. Năm 1988 được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô. Những năm tháng cuối đời ông sống ở Estonia và chỉ dịch văn học các nước. Ông mất năm 1990 ở Tallin, Estonia.
Tác phẩm:
*Ближние страны (Những đất nước gần), thơ
*Второй перевал (Ngọn đèo thứ hai, 1974), thơ
*Волна и камень ( Đá và sóng, 1974), thơ
*Голоса за холмами (Những giọng sau đồi, 1985), thơ
*Весть (Tin tức, 1978), thơ
*Залив (Vịnh, 1981), thơ
*Памятные записки (Những ghi chйp kỷ niệm, 1995), ghi chйp
*В кругу себя (частично опубл. в 1993).
*Равноденствие (Tiết thu phвn, 1972), thơ
*Последние каникулы (Những kỳ nghỉ cuối cщng, 1972), thơ
SỐ PHẬN MÌNH
Số phận mình, anh trao em muôn thuở
Và dù cho số phận có đau buồn
Điều vu khống ở cùng anh, em ạ
Tự buổi ban đầu và rất ngẫu nhiên.
Mục đích của anh vô cùng đơn giản
Và điều này chẳng có chút gì thêm:
Vì cái ác anh không hề mở miệng
Chỉ mình em anh ca tụng, tạ ơn.
HỐI HẬN ĐIỀU ĐÃ LÀM THẬT KHÓ
Tất cả những gì mà tôi đem cho
Thì bây giờ vẫn còn đây đầy đủ.
Nhưng những gì mà tôi được nhận về
Thì bây giờ đang ra đi hết cả…
Phạm lỗi lầm, quả thật, chẳng khó gì
Nhưng hối hận điều đã làm thật khó.

KHÔNG QUAN TRỌNG
“Đừng ăn cắp”* - hãy tự nói với mình
Và hãy tránh thật xa sự cám dỗ.
Hãy tự nói với mình: “Chớ giận hờn”
Và bạn sẽ không giận hờn, có thể.
“Chớ giết người” - hãy tự nói với mình
Và con dao hãy để sang một bên.
Còn câu “Hãy yêu người” - hãy hát
Nhưng bạn không yêu, thôi thì cứ mặc.
Nếu bạn không ăn cắp, không giết người
Thì không quan trọng: bạn chẳng yêu ai.
___________
*Những lời răn trong Kinh Thánh.
|
|
|
|
Thành viên
|
|
Bài gởi: 169
Gia nhập: Nov 2007
|
|
|
Trả lời: 108 nhà thơ Nga -
12-12-2007, 06:39 PM
Stepan Petrovich Schipachev (tiếng Nga: Степан Петрович Щипачёв, 26 tháng 12 năm 1898 - 31 tháng 12 năm 1979) là nhà thơ Nga Xô Viết.
Tiểu sử:
Stepan Schipachev sinh ở làng Schipachi, tỉnh Sverdlovsk vùng Ural trong một gia đình nông dân, sớm mồ côi bố mẹ cậu bé phải bán hàng và làm công nhân từ nhỏ. Những năm 1919 - 1931 phục vụ trong quân đội. Năm 1923 in tập thơ đầu tiên ở Simferopol, vùng Crimea. Năm 1934 ông tốt nghiệp khoa văn trường Đại học giáo sư đỏ (Институт Красной профессуры). Những năm 1930 là thời kỳ ông viết được nhiều bài thơ hay nhất. Ngoài thơ, ông còn viết truyện nhưng thể loại thành công nhất là thơ trữ tình. Năm 1939 ông tham gia giải phóng miền tây Ukraina. Những năm thế chiến II ông làm việc ở ngành xuất bản quân đội.
Stepan Schipachev được tặng nhiều huân, huy chương của nhà nước Liên Xô. Năm 1973 tuyển tập tác phẩm của ông gồm 3 tập được xuất bản. Thơ của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.
Tác phẩm:
*"По курганам веков" (1923)
*"Одна шестая" (1931)
*"Наперекор границам" (1932)
*"Под небом Родины моей" (1937)
*"Лирика" (1939)
*«Фронтовые стихи» (1942)
*«Строки любви» (1945)
*«Славен труд» (1947)
*«Стихотворения» (1948)
*«Товарищам по жизни» (1972)
*«Домик в Шушенском» (1944)
*«Павлик Морозов» (1950)
*"Наследник" (1965)
*"Песнь о Москве" (1968)
*«12 месяцев вокруг Солнца» (1969)
*«Березовый сок» (1956)
[IMG] [/IMG]
HÃY GÌN GIỮ TÌNH YÊU
Hãy gìn giữ tình yêu và hãy nhớ rằng
Qua tháng năm càng quí tình hơn cả.
Tình - đâu chỉ là đi dạo dưới trăng
Đâu chỉ tiếng thở dài trên ghế đá.
Có tất cả: cả tuyết bột, bùn lầy
Bởi cùng nhau sống đến ngày đầu bạc.
Tình yêu giống như một bài hát hay
Mà bài hát đâu dễ dàng sáng tác.
EM HÃY TIN RẰNG
Em hãy tin rằng: em trong cuộc đời anh
Là tất cả: hạnh phúc và tai họa
Trong cuộc đời anh có thể dối em
Nhưng trong thơ thì anh không thể.
Ôi, giá như vào khung cửa sổ
Em nhìn vào số phận của anh
Cả hai ta đều không biết được rằng
Ai ở gần hơn cái chết.
Chỉ một điều anh tha thiết
Cứ mỗi ngày sẽ mạnh hơn
Anh mong cho tình anh
Sẽ cứu anh thoát chết.
ÁNH SÁNG CỦA NGÔI SAO
ánh sáng của ngôi sao ban chiều
Giữa trời cao lấp lánh
Khu vườn trầm tư mặc tưởng
Và anh bỗng thấy cô liêu.
ánh sáng ở đây, bên anh
ánh sáng của ngôi sao xa thẳm
Đi qua hàng nghìn năm ánh sáng
ánh sáng của sao chạy đến bên anh.
Còn em cách xa có một dặm đường
Liệu có còn lâu sửa soạn
Và để cho anh không phải đoán
Em hãy đến bây giờ với người thương.

KHI EM BÊN ANH
Khi em bên anh - anh quí từng khoảnh khắc
Có thể là phía trước, những tháng năm
Ta sẽ xa nhau mà không biết được rằng
Không bao giờ hai đứa còn gặp mặt.
Chỉ những ngôi sao trong giờ gặp gỡ
Vẫn cứ toả ra ánh sáng của mình
ở đâu trong đời giá băng, khi đó
Anh còn tìm ra dấu vết của em.
1944
EM CỨ GỌI ĐIỀU NÀY
Em cứ gọi điều này như ý muốn.
Hai chúng mình bỗng thấy quí nhau hơn
Quan tâm đến nhau hơn và dịu dàng
Nhưng có điều gì làm em lo lắng?
Anh lại cũng hay tin vào giấc mộng
Và lại cũng hay suy nghĩ, thẫn thờ
Tình càng mạnh, càng rõ một điều là
Vì tình yêu mà chúng mình lo lắng.
1944
CÓ PHẢI ĐÃ QUÊN
Có phải đã quên ánh mắt của em
Và nụ hôn nồng cháy
Nếu như không chỉ một lần
Qua nước mắt gương mặt em anh thấy.
Nhưng để cho phía trước không còn lại
Thì tai họa xin cứ đến lúc này
Em là nỗi đau trong lồng ngực anh đây
Và sẽ còn mãi mãi.
1949

Igor Severyanin (tiếng Nga: Игорь Северянин, là bút danh của Igor Vasilyevich Lotaryov, 16 tháng 5 năm 1887 - 20 tháng 12 năm 1941) - nhà thơ Nga thế kỷ bạc.
Tiểu sử:
Igor Severyanin sinh ở Sank-Peterburg trong gia đình một kỹ sư quân đội. Năm 1904, học xong lớp 4, đi về vùng Viễn đông cùng với bố, sau đó bố mất, trở lại Sank-Peterburg với mẹ. Năm 1904 bỏ tiền ra in tập thơ đầu tiên. Severyanin bắt đầu nổi tiếng từ năm 1911, sau khi được nhiều nhà thơ nổi tiếng để ý và khen ngợi. Năm 1913 in tập Громокипящий кубок (Chiếc cốc sôi to), nhà thơ Fyodor Sologub viết lời giới thiệu, đã thành công vang dội. Severyanin được mời đọc thơ ở Bảo tàng Bách khoa Moskva và được tôn vinh là “Ông hoàng của các nhà thơ”. Sau đó nhà thơ Fyodor Sologub mời Severyanin tham gia chuyến công du khắp đất nước, đi đọc thơ từ Minsk đến Kutaisy.
Thời gian sau đấy, Severyanin thành lập nhóm thơ Ego-Futurists. Năm 1914 kết hợp cùng với nhóm Kubo-Futurists của Burlyuk và Mayakovsky tổ chức chuyến đi về nhiều thành phố đọc thơ.
Năm 1918 đi nghỉ ở Estonia. Năm 1920 Estonia tách khỏi nước Nga Sa hoàng, Severyanin muốn quay trở về Nga nhưng không thể, trở thành người sống lưu vong. Ông lấy vợ người Estonia, sống một cuộc sống đạm bạc, bằng lòng với cuộc sống xứ người nhưng luôn nhớ về nước Nga trong những sáng tác của mình. Thơ của Severyanin mang màu sắc chủ nghĩa lãng mạn cá nhân và mối hoài cảm về cố quốc. Ngoài sáng tác thơ ông còn dịch nhiều nhà thơ các nước ra tiếng Nga. Ông mất năm 1941 vì bệnh nhồi máu cơ tim ở Tallinn, khi đó bị Đức chiếm đóng.
Tác phẩm:
*Зарницы мысли (1908)
*Качалка грёзэрки (1912)
*Громокипящий кубок (1913)
*Златолира (1914)
*Ананасы в шампанском (1915)
*Wictoria regia (1915)
*Поэзоантракт» (1915)
*Собрание поэз (1916)
*За струнной изгородью лиры (1918)
*Поэзо-концерт (1918)
*Собрание поэз (1918)
*Creme de Violettes (1919)
*Puhajogi (1919)
*Вервэна (1920)
*Менестрель (1921)
*Миррэлия (1922)
*Роман в стихах «Падучая стремнина» (1922)
*Комедия «Плимутрок» (1922)
*Фея Eiole (1922)
*Соловей (1923)
*Трагедия титана (1923)
*Автобиографический роман в стихах «Колокола собора чувств» (1925)
*Роса оранжевого часа (1925)
*Адриатика (1932)
*Медальоны (1934)
CÓ THỂ EM YÊU NHƯNG MÀ EM KHÔNG NÓI
Có thể em yêu nhưng mà em không nói
Không nói ra, tình cảm chẳng cho xem
Mà không được xem thì làm sao biết nổi
Biết thế nào, nếu em cứ lặng im.
Em lo âu, em tự hành hạ mình
Mà có thể không yêu anh, có thể vậy!
1916

TÌNH KHÔNG TRỞ LẠI
Tình không trở lại, anh thấy tiếc vô cùng
Những ngày vui của tình yêu thuở ấy
Giờ không còn ánh mắt em mệt mỏi
Trong ánh mắt ngời miền bí ẩn xa xăm.
Tình không trở lại, trong lòng anh nỗi buồn
Như trên tuyết dần tan khắp mọi ngả
Không trả lại em phút giây tình thắm đỏ
Tình không còn - tháng Hai cũng bâng khuâng.
Sao vô vàn giữa khô cạn đại dương
Chiếu lạnh lẽo giữa hằng hà vô số
ánh sáng lạnh lùng, ánh sáng đau thương
Không số phận, không âu yếm đã từng
Anh hiểu rằng hạnh phúc không còn nữa
Tình không trở lại, tình đã không còn!..
1908
PUSKIN
Anh, đó chính là - Phút giây huyền diệu
Đã ghi sâu tâm khảm đến muôn đời
Anh là hiện thân của nguồn Xúc cảm ấy
Trước nguồn Cảm hứng này Cát bụi cũng xin lui.
Chỉ mình anh trong lòng người đang sống
Không thành tử thi dù đã lâm chung
Anh muôn thuở trong lòng người, vẫn sống
Cái chết ở đây không nói “cuối cùng”.
Bởi trong thơ anh trị vì Cái đẹp
Cái đẹp chỉ ra vẻ mặt muôn đời
Ta chẳng hình dung là anh đã chết
Và điều này - anh vĩ đại quá thôi!
Dù anh đã già đối với người đời
Nhưng với anh, những con người hiện tại
Rất nhỏ bé: bởi Phút giây huyền diệu ấy
Còn tuyệt vời hơn cả thế kỷ của tôi!
GẶP GỠ ĐỂ RỒI CHIA XA
Gặp gỡ để rồi chia xa
Yêu để mà không yêu nữa.
Ta muốn cười lên hề hề
Ta muốn khóc lên nức nở!
Thề thốt để nuốt lời thề
Ước mơ để rồi nguyền rủa…
Thật khổ cho người hiểu ra
Tất cả những trò vô bổ.
Ở quê muốn lên thành phố
Ở phố muốn về quê chơi
Đâu đâu cũng gương mặt người
Mà sao lòng lang dạ thú…
Sắc đẹp thường hay quái gở
Quái hình có vẻ đẹp xinh
Thường có cao thượng đê hèn
Vô tội cả điều ác dữ.
Làm sao không khóc nức nở
Làm sao không cười hề hề
Khi nào có thể chia xa
Khi nào thì không yêu nữa?

KINH NGHIỆM ĐAU BUỒN
Tôi rút ra một kinh nghiệm đau buồn
Cái gì xa lạ vẫn là xa lạ.
Đi về nhà mặt nước vịnh như gương
Giờ mùa xuân đang về bên cánh cửa.
Còn một mùa xuân nữa. Có thể là
Xuân cuối cùng. Nhưng mà không sao cả
Mùa xuân giúp cho tâm hồn hiểu ra
Điều tốt đẹp của ngôi nhà từ bỏ.
Có của mình, đừng xây thêm cái nữa
Chỉ bằng lòng với một thứ mà thôi
Thật dột làm chủ cái của người:
Cái gì xa lạ vẫn là xa lạ.
1936
TÔI CHƯA BAO GIỜ LỪA DỐI GÌ AI
Tôi chưa bao giờ lừa dối gì ai
Chính vì thế mà đời tôi đau khổ
Chính vì thế mà người ta phỉ nhổ
Chẳng ai cần tôi cũng bởi điều này.
Chưa bao giờ tôi lừa dối gì ai.
Chính vì thế cuộc đời trôi buồn bã.
Danh vọng, tình yêu tôi đều xa lạ
Vốn là bản chất gian dối của đời.
Tôi không biết con đường đi về nơi
Có tiếng cười bán mua và khen ngợi
Nhưng lòng tôi có một điều an ủi:
Tôi chưa bao giờ lừa dối gì ai.
1909
|
|
Đang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
|
|
|
| Công Cụ |
|
|
| Xếp Bài |
Chế độ bình thường
|
Quyền Hạn Của Bạn
|
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts
Mã HTML đang Tắt
|
|
|
| License for vBulletin.org. - Email: webmaster@vietnamcayda.com Powered by: vBulletin Copyright © 2000 - 2006, Jelsoft Enterprises Ltd.
|
|