Quay Lại   Việt Nam Cây Đa > NGUỒN SÁCH CHO THƯ VIỆN > Văn học nước ngoài > Thơ
Gởi Ðề Tài Mới Gửi trả lời
 
Công Cụ Xếp Bài
(#21)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 12-12-2007, 05:49 PM



Boris Abramovich Slutsky (tiếng Nga: Борис Абрамович Слуцкий, 7 tháng 5 năm 1919 - 22 tháng 2 năm 1986) là nhà thơ Nga Xô Viết.

Tiểu sử:
Boris Slutsky sinh ở Slovyansk, Donbass (nay là Ukraina) trong một gia đình công nhân. Từ năm 1937 đến 1941 học Đại học luật, đồng thời học trường viết văn Maxim Gorky. Thế chiến II xảy ra, ông ra trận, sau khi bị thương chuyển về làm việc ở tòa án binh. Ông sống ở Moskva, thuê nhà ở nhiều nơi, theo lời ông, thay đổi đến 22 địa chỉ. Đến đầu năm 1960 ông mới được cấp một phòng ở khu tập thể nằm trên Đại lộ Lomonosov.

Năm 1957 in tập thơ đầu tiên. Ngoài sáng tác thơ ông còn đóng vai trong một số bộ phim và viết phê bình đăng trên các báo, tạp chí. Thơ của Slutsky chủ yếu viết về chiến tranh, là những suy ngẫm về số phận những con người cùng thế hệ, thơ ông gần gũi với ngôn ngữ đời thường. Một phần đáng kể thơ, văn của ông chỉ được in sau năm 1987.

Tác phẩm:
*Память (1957).
*Время (1959),
*Сегодня и вчера (1961),
*Работа (1964),
*Современные истории (1969),
*Годовая стрелка (1971),
*Доброта дня (1973).


HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH

Hạnh phúc là vòng tròn. Và người ta
Chầm chậm, như chiếc kim đồng hồ
Đi về điểm cuối, nghĩ là về xuất phát
Đi theo vòng tròn, nghĩa là về tuổi thơ
Về thuở đầu trọc lóc
Về thuở hoạt bát, ngày còn chưa đi học
Về vẻ vui tươi, lòng tốt, thậm chí dại khờ.

Còn bất hạnh - đấy là góc nhọn
Chiếc kim đồng hồ đứng yên!
Và kim phút - vội vàng khép kín
Dồn con người ta vào tường.

Thay vì bất hạnh hói đầu muộn màng
Con người chọn cho mình tóc bạc sớm
Và lặng lẽ, hý hoáy từng lỗ thủng
Một lỗ, hai lỗ giữa thắt lưng
Lỗ thứ ba thì hơi bất thình lình
Biết hết.
Bất hạnh - đó là tri thức.



HÓA RA LÀ CHIẾN TRANH

Hóa ra là chiến tranh
Không phải kết thúc bằng thắng lợi.
Và trong những đêm của người goá phụ
Hết đêm lại đến đêm.

Chỉ người chiến thắng từng chiến thắng
Còn người góa phụ vẫn cô đơn
Và đêm đêm từ trong hàng nghìn
Một nầm mồ thổi cho nàng hơi lạnh.

Còn kẻ thua, xưa từng thua trận
Nhưng đã hết đau khổ vì thua
Đã vực dậy từ đống đổ nát xưa
Và đứng lên, trở thành người chiến thắng.

Bây giờ không còn ọp ẹp, bấp bênh
Mà công việc cứ tiến hành suôn sẻ
Chỉ có những người góa phụ
Chồng thứ hai không tìm thấy cho mình.





Fyodor Sologub (tiếng Nga: Фёдор Сологуб, tên khai sinh Fyodor Kuzmich Teternikov, 1 tháng 3 năm 1863 - 5 tháng 12 năm 1927) - nhà thơ, nhà văn Nga, một đại diện tiêu biểu của trường phái thơ ấn tượng.

Tiểu sử:
Fyodor Sologub sinh ở Sankt-Petetrburg trong một gia đình nghèo. Từ nhỏ đã ham mê đọc sách và yêu thích âm nhạc. Biết làm thơ năm lên 12 tuổi. Năm 1878 vào học trường sư phạm Sankt-Petetrburg. Bốn năm sau tốt nghiệp đi dạy học ở các tỉnh phía bắc gần 10 năm. Từ năm 1892 chuyển về sống ở Sankt-Petetrburg, làm quen với nhiều nhà thơ nổi tiếng và bắt đầu in nhiều thơ ở các báo và tạp chí. Theo đề nghị của một số người ở tạp chí Северный вестник(Người đưa tin phương Bắc) thì họ Teternikov nghe có vẻ không thơ ca chút nào nên đề nghị đổi thành Sologub.

Năm 1896 in 1 cuốn thơ và 2 tiểu thuyết về đời sống ở phương Bắc. Năm 1902 in tiểu thuyết Мелкий бес (Con quỉ nhỏ) trở thành một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất ở Nga thời bấy giờ. Thời kỳ Thế chiến I và Cách mạng tháng Mười, Sologub ít viết tiểu thuyết mà chủ yếu làm thơ và viết kịch. Ngoài thơ, văn và soạn kịch, Sologub còn dịch nhiều tác giả của Pháp, Đức ra tiếng Nga. Sologub mất ở Leningrad năm 1927.

Di sản thơ văn của Sologub để lại rất đồ sộ, một phần thơ của ông chỉ mới được in hết trong thời gian gần đây.

Tác phẩm:
Tiểu thuyết:
*Тяжёлые сны (Những giấc mộng nặng nề, 1895)
*Мелкий бес (Con quỉ nhỏ, 1905)
*Слаще яда (Ngọt hơn nọc độc, 1912)
*Заклинательница змей (Phù thủy rắn, 1921)
Các tập truyện:
*Тени (Bóng, 1896)
*Жало Смерти (Nọc của Thần chết, 1904)
*Книга сказок (Sách cổ tích, 1905)
*Политические сказочки (Chuyện cổ tích chính trị, 1906)
*Книга разлук (Sách ly biệt, 1908)
*Книга очарований (Sách tuyệt vọng, 1909)
*Слепая бабочка (Con bướm mù, 1918)
Các tập thơ:
*Стихи. Книга первая (Thơ. Quyển 1, 1896)
*Стихи. Книга вторая (Thơ. Quyển 2, 1896)
*Пламенный круг (Vòng lửa, 1908)
*Очарования земли (Vẻ quyến rũ của đất đai)
*Война (Chiến tranh, 1915)
*Небо голубое (Trời xanh, 1921)
*Одна любовь (Một tình yêu, 1921)
*Костёр дорожный (Lửa trại bên đường, 1922)
Kịch:
*Литургия Мне (Thánh lễ cho tôi, 1906)
*Дар мудрых пчёл (Quà tặng của những con ong khôn, 1906)
*Победа Смерти (Chiến thắng của Cái chết, 1907)
*Ночные пляски (Xe trượt tuyết đêm, 1908)
*Мелкий бес (Con quỉ nhỏ, 1909)
*Заложники жизни (Những con tin của cuộc sống, 1910)
*Война и мир (Chiến tranh và hòa bình, 1912)
*Любовь над безднами (Tình yêu trên bờ vực thẳm, 1914)
*Проводы (Dây dẫn, 1914)
*Любовь и верность (Tình yêu và lòng chung thủy, 1917)
Các tuyển tập:
*1909-1911 Собрание сочинений в 12 томах
*1913-1914 Собрание сочинений в 20 томах
*2000-2003 Собрание сочинений в 6 томах
*2001-2003 Собрание стихотворений в 8 томах



YÊU EM NHƯ ÁNH BÌNH MINH

Hãy yêu em rõ ràng như ánh bình minh
Tuôn châu ngọc và tiếng cười đau khổ
Cùng hy vọng và ước mơ dịu nhẹ
Rồi nhẹ nhàng tắt ngấm ở trong sương.

Hãy yêu em êm đềm như ánh trăng thanh
Toả sáng say mê, rõ ràng, lạnh lẽo.
Chiếu lên đời em bí ẩn và huyền diệu
Rồi cùng anh chầm chậm bước trên đường.

Hãy yêu em giản đơn như suối như sông
Khi anh là của em, khi ai đấy
Nhận và trao, và một ngày trốn chạy
Thôi yêu và quên, anh chớ bận lòng.
1904





TRONG EM ANH YÊU ÁNH HÀO QUANG

Trong em anh yêu ánh hào quang
Ánh hào quang của những điều trái ngược:
Vẻ quyến rũ của ánh mắt chân thật
Và nụ cười ánh lên vẻ dối gian.

Vẻ thùy mị của thiếu nữ trẻ trung
Những ước mơ trinh nguyên và tinh khiết -
Và yêu vẻ phơi bày rất khắc nghiệt
Của sự gièm pha, tố cáo, bóc trần.

Anh yêu trong em lòng thương dịu dàng
Với nô tỳ bị người ta lăng nhục
Và yêu cả vẻ nhiệt thành đột ngột
Trước miền đất được thừa nhận linh thiêng.


TÔI - THƯỢNG ĐẾ CỦA THẾ GIỚI BÍ HUYỀN

Tôi - Thượng Đế của thế giới bí huyền
Cả thế gian trong những điều mơ mộng
Tôi không tạo ra cho mình thần tượng
Không trên mặt đất, không giữa trời xanh.

Và bản chất thần thánh ấy của mình
Tôi không hề hé mở cho ai hết.
Vì tự do cho mình, tôi gắng sức
Và tôi gọi về tĩnh lặng, bóng đêm.


CHỈ CON TRẺ SỐNG THÔI

Chỉ con trẻ sống thôi
Ta từ lâu đã chết.
Cái chết đi trên đời
Vẫy cánh như giơ roi
Tấm lưới dày đan kết
Xung quanh cái đầu người.

Dù cái chết gia hạn
Một năm, tuần, hay đêm
Nhưng đặt vào điểm chấm
Và kéo chiếc xe đen
Chiếc xe này chuyển động
Đi khỏi chốn trần gian.

Hãy cố thở mạnh hơn
Chờ đợi đến lượt mình.
Sững sờ, thở hổn hển
Trước cái chết tê cứng.
Hạn hết - đặt cho mình -
Một năm, tuần, hay đêm.


ANH ĐÃ PHỤ TÌNH EM

Anh đã phụ bạc tình em, thần thánh
Để đi yêu kẻ người thịt mắt trần.
Em yêu ạ, ánh hoàng hôn đỏ thẫm
Và mùi hương dịu nhẹ của tháng năm
Buổi chiều ngọt ngào đã bỏ bùa anh.

Dưới màu tím tử đinh hương tai ác
Và nụ cười, và ánh mắt xiêu lòng
Cái người trần mắt thịt bỏ bùa anh
Bằng câu chào khôn ngoan và trinh bạch.

Anh đã phụ tình em, nàng dâu ạ
Thiếu nữ bằng xương thịt bỏ bùa anh
Anh đã quên vẻ lạnh lẽo của em.
Áo lễ trời, hãy khép giùm anh nhé
Để ngăn anh khỏi sức lực trần gian.

Last edited by ngophuong; 08-07-2010 at 11:08 AM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#22)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 12-12-2007, 06:26 PM



Nadezhda Teffi (tiếng Nga: Надежда Тэффи) là bút danh của Nadezhda Aleksandrovna Lokhvitskaya (tiếng Nga: Надежда Александровна Лохвицкая, 9 tháng 5 năm 1872 - 6 tháng 10 năm 1952) là nữ nhà văn, nhà thơ Nga sau cách mạng sống lưu vong ở nước ngoài. Teffi là em gái của nữ nhà thơ Mirra Lokhvitskaya.

Tiểu sử:
Teffi sinh ở Sankt-Peterburg, là con gái của một giáo sư luật và chủ tạp chí Судебный вестник (Người đưa tin tư pháp). Bắt đầu in thơ từ năm 1901 theo tên thật, bút danh Teffi xuất hiện từ năm 1907, khi in một số truyện và vở kịch Женский вопрос (Vấn đề phụ nữ). Teffi là tác giả thường xuyên của tạp chí Satyrikon từ năm 1908, đến năm 1918 tạp chí này bị đình chỉ.

Năm 1918 Teffi cùng nhà văn Averchenko đi Kiev, sau đó đi về miền nam nước Nga: Odessa, Novorossisk…, sau đó lên tàu biển đi qua Konstantinopol đến Paris năm 1920. Ở Pháp, bà tiếp tục viết văn, làm thơ phục vụ cộng đồng người Nga ở Pháp. Thế chiến II nổ ra, bà tiếp tục ở Paris. Những năm sau chiến tranh bà tập trung viết hồi ký về các nhà văn, nhà thơ đương thời - từ Kuprin, Banmolt đến Rasputin. Teffi mất ở Paris năm 1952.

Tác phẩm:
*Семь огней, изд. "Шиповник", СПБ, 1910
*Юмористические рассказы, кн. 1, изд.
*"Шиповник", СПБ, 1910; кн. 2. Человекообразные, СПБ, 1911
*И стало так, СПБ, 1912
*Карусель, СПБ, 1913
*Миниатюры и монологи, т. I, изд. М. Г. Корнфельда, СПБ, 1913
*Дым без огня, СПБ, 1914; Ничего подобного, П., 1915
*Неживой зверь, П., 1916
*Вчера, Петроград, 1918 (все в изд. "Новый сатирикон")
*Тихая заводь, Париж, 1921
*Рысь, Париж, 1923
*Взамен политики. Рассказы, "ЗиФ", Москва - Ленинград, 1926
*Вчера. Юмористич. рассказы, изд. "Космос", Киев, 1927
*Танго смерти, изд. ЗиФ, М., 1927
*Книга Июнь, Париж, 1931
*О нежности, Париж, 1938


Đã tắt ngọn đèn em

Đã tắt ngọn đèn em…
Đêm nhìn vào cửa sổ…
Em không cần ai cả
Em đã chết từ lâu!

Em chết trong mùa xuân
Trong giờ chiều tĩnh lặng…
Đừng nói gì với em
Đôi mắt em vẫn nhắm.

Lần nữa chẳng hồi sinh
Ý nghĩ về hạnh phúc
Lời ác độc màu đen
Trong tim này thổn thức…

Đã tắt ngọn đèn em…
Giờ bóng đêm vây chặt
Em không cần nước mắt.
Hãy cầu nguyện cho em!




Bài ca về tử đinh hương màu trắng

Cho em lời thăm hỏi để lòng vui
Khoác cho em vòng hoa lên mái tóc!
Trong ngày vui một mùa hè hạnh phúc
Tử đinh hương màu trắng nở hoa rồi.

Em chỉ muốn tình anh không trở lại!
Trong một ngày thật oi ả, thật nồng!..
Mùi hương thuốc độc trong giờ hoàng hôn
Tử đinh hương màu trắng say chới với.

Ngày đã tắt, và em lại lên đường
Trong bóng đêm, vào bóng đêm trong suốt
Trong giấc mộng của bầu trời ngày trước
Tử đinh hương màu trắng đã không còn.


Tình yêu tôi, người ta đã đem chôn

Tình yêu tôi, người ta đã đem chôn…
Một nỗi buồn như áo quan màu trắng
Trùm lên xung quanh tình yêu và cuộn
Nước mắt bằng những sợi chỉ kim cương.

Và sau đó rất lâu về tình
Lý trí khổ đau đã đọc
Và linh hồn khóc lóc
Cầu xin tĩnh lặng cho tình.
Muôn thuở tình yêu!
Trong tim này - muôn thuở!

Những ý nghĩ màu đen theo tình
Những ý nghĩ màu đen theo đưa đám
Con tim của tôi điên cuồng, nổi loạn
Thổn thức, nức nở về tình…

Tình yêu tôi, người ta đã đem chôn
Sự lãng quên giống như tấm đá
Nặng nề nằm trên mộ chí…
Hãy lặng im… và xin hãy quên tình!
Muôn thuở tình yêu!
Trong tim này - muôn thuở!





Em tóc vàng


“Ta lịm người vì đau khổ ngọt ngào
Khổ đau này họa mi không biết đến”.
Fyodor Sologub.


Em tóc vàng và đôi mắt màu xanh
Anh không phải dành cho em - em biết
Em đi ngang qua nhún nhường, qui phục
Và sự lặng im kiêu hãnh giữ gìn.

Và em biết - có một đời sống khác
Nơi mà em rất thanh mảnh, nhẹ nhàng
Nơi em kiệt sức, mệt lử vì tình
Em tự mình dưới chân anh phủ phục…

Và lịm người vì đau khổ ngọt ngào
Khổ đau này họa mi không biết đến
Anh ve vuốt bàn tay em thanh mảnh
Và mái tóc đen nhánh ở trên đầu.

Còn ở đây không theo lời nguyện ước
Ngoan như một tên nô lệ, người mà anh
Chiều theo ý muốn không hiểu của em
Và những lời của em không tả được.

Em ở cuộc sống này, mà không biết
Đâu là sự thật, đâu ước mơ em
Cuộc đời nào của em là yêu thương
Cuộc đời này, hay đời kia - không biết.


Đêm yêu em, và trên bàn tay này

Đêm yêu em, và trên bàn tay này
Bàn tay màu đen, đêm đem siết chặt
Nhưng ngày đến - với đêm, em phụ bạc
Em hát về hạnh phúc, về mặt trời.

Con đường của ngày rộng và pha tạp
Nhưng không giật của em cánh tay đen!
Nỗi buồn ngôi sao khóc và ngân vang
Trong những lời về mặt trời, hạnh phúc.





Fyodor Ivanovich Tyutchev (tiếng Nga: Фёдор Иванович Тютчев, 5 /12 /1803 - 27 /7 /1873) - nhà thơ Nga, Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm khoa học Peterburg (1857), là một trong ba nhà thơ trữ tình lớn nhất của Nga, cùng với Aleksandr Pushkin và Mikhail Lermontov.

Tiểu sử:
Tyutchev sinh ở trang trại Ovstug, tỉnh Orlov (nay là Bryansk), trong một gia đình quý tộc đã sa sút. Tuổi thơ ở Ovstug, tuổi trẻ ở Moskva. Từ bé đã được học với nhà thơ - dịch giả Semyon Raich, được làm quen với những tác phẩm cổ điển của văn học Nga và thế giới. Năm 12 tuổi Tyutchev đã dịch được thơ của Horace một cách thông thạo. Năm 1819 vào học Đại học Moskva đến năm 1821 đã nhận bằng tiến sĩ ngôn ngữ. Từ năm 1822 làm việc ở Bộ Ngoại giao Nga, liên tục trong 22 năm sống ở Đức và Ý. Ông cưới vợ người Đức, kết bạn với Schelling và Heine, trở thành nhà thơ Nga đầu tiên dịch thơ Heine ra tiếng Nga. Năm 1830 in một số bài thơ trên tạp chí Galateya nhưng thực sự nổi tiếng năm 1836, khi Pushkin in 16 bài thơ của ông trên tạp chí Sovremennik (Người đương thời). Năm 1837 vợ ông mất, năm 1839 ông cưới vợ lần thứ hai, cả hai đều là người Đức.

Năm 1854 ông in tập thơ đầu tiên, cũng trong năm này ông in những bài thơ về người tình Elena Denisyeva - là một cô gái Nga dòng dõi quí tộc, trẻ hơn Fyodor Tyutchev 23 tuổi, là “tình cuối” của nhà thơ. Mối tình của họ trở thành vụ tai tiếng trong giới thượng lưu Saint Peterburg bởi Fyodor Tyutchev đã có gia đình. Trong khi đó mọi lời buộc tội của người đời hầu như lại dồn hết cho một mình Elena gánh chịu. Bất chấp sự ruồng bỏ của gia đình, sự gièm pha của xã hội Elena đã yêu nhà thơ vô tư và quên mình, say đắm và cuồng nhiệt. Cuộc tình “bất hợp pháp” của họ kéo dài 14 năm với ba đứa con. Elena chết vì bệnh lao phổi khi nàng mới 38 tuổi.

Tyutchev là nhà thơ trữ tình giàu chất triết lý nhất của Nga thế kỷ 19. Thơ ông nói nhiều đến cái vô biên, ngợi ca thiên nhiên và cảm nhận tâm linh của vũ trụ. Trong thơ Tyutchev con người và thiên nhiên hoà quyện. Thế giới trong mắt nhà thơ đầy vẻ huyền bí. Ẩn sau ban ngày là bóng đêm, đi theo cuộc sống là cái chết, đồng hành với tình yêu là sự huỷ diệt… Đỉnh cao thơ trữ tình của ông là tập thơ về người tình Elena Denisieva, người đã yêu ông đến quên mình, đã mang đến cho cuộc đời ông nhiều phút giây hạnh phúc và cũng không ít đau khổ. Chính sự đau khổ và hối hận, những tiếc nuối muộn màng, cảm giác bất lực cũng như sự hy vọng ở cuộc đời - tất cả đã hoà quyện lại tạo nên “tập thơ Denisieva”, nỏi tiếng của ông. Fyodor Tyutchev mất tại Tsaskoye Selo, S. Peterburg.

Thư mục:
*Стихотворения, СПБ, 1854 [в журн. "Современник", СПБ, 1854, т. XLIV, кн. 3, и т. XLV, кн. 5 и отдельно; первое прижизненное собр. стихов поэта; ред. издания был И. С. Тургенев]
*Стихотворения, М., 1868 [; ред. И. С. Аксакова при участии П. И. Бартенева]
*Стихотворения. Новое издание... [Изд. "Русск. архива"], М., 1883; то же, М., 1886 *Стихотворения. Изд. "Русск. архива", М., 1899; Сочинения.
*Стихотворения и политические статьи, СПБ, 1886; то же, 2 изд., испр. и доп., СПБ, 1900; Полное собрание сочинений. Под ред. П. В. Быкова, изд. А. Ф. Маркс, кн. 1-3, СПБ, 1913 [прилож. к журн. "Нива"; с критико-биографическим


HÌNH BÓNG EM

Vẫn mỏi mệt một nỗi buồn khao khát
Vẫn còn mong về em cả tấm lòng
Buổi hoàng hôn kỷ niệm về dâng ngập
Anh lại nhận ra bóng dáng của em.

Hình bóng em dịu dàng, không quên nổi
Trước mắt anh mãi mãi, ở khắp nơi
Hình bóng em xa vời, không thay đổi
Như trong đêm sao sáng ở trên trời.
1848




TÌNH CUỐI

Kỳ lạ thay, khi cuộc đời sắp kết
Vẫn dại khờ say đắm một tình yêu
Hãy bừng lên ánh sáng ngày tiễn biệt
Của tình sau như tia nắng ban chiều

Nửa bầu trời bao phủ màu u ám
Chỉ chút đằng tây ngời ánh hào quang
Hãy chậm lại phút giây chiều muộn
Hãy kéo dài thêm chút mến thương.

Trong huyết quản sinh lực dù yếu đuối
Nhưng trong tim say đắm chẳng hề vơi
Ôi tình yêu, tình muộn màng, tình cuối!
Tình ngọt ngào nhưng vô vọng tình ơi.
1854.


XIN GIỮ CHO YÊN

Đây tất cả những gì tôi có được
Là tình yêu, hy vọng với lòng tin
Giờ dồn lại trong một lời nguyện ước:
Giữ cho yên, xin hãy giữ cho yên!
1856.




HOÀI NIỆM(1)

Anh lang thang dọc con đường ngày trước
Trong ánh chiều lặng lẽ buổi hoàng hôn
Đau đớn quá, đôi chân không muốn bước...
Em thân yêu, em nhìn thấy anh không?

Bóng đêm đen đang trùm lên ánh sáng
Đã bay đi luôn tia nắng cuối cùng
Đâu rồi cõi xưa cùng em chung sống
Thiên thần ơi, em nhìn thấy anh không?

Ngày mai đây rồi nguyện cầu đau đớn
Ngày mai này kỷ niệm của buồn thương
Thiên thần ơi, ở đâu hồn trú ẩn
Thiên thần ơi, em nhìn thấy anh không?
3-8-1865.

___________________
(1)Đây là bài thơ Fyodor Tyutchev khóc người tình Êlêna Denisieva nhân ngày gĩô đầu. Êlêna Denisieva là cô gái dòng dõi quí tộc, trẻ hơn Fyodor Tyutchev 23 tuổi, là “tình cuối” của nhà thơ. Mối tình của họ trở thành vụ tai tiếng trong giới thượng lưu Xanh-Pêtécbua bởi Fyodor Tyutchev đã có gia đình. Trong khi đó mọi lời buộc tội của người đời hầu như lại dồn hết cho một mình Êlêna gánh chịu. Bất chấp sự ruồng bỏ của gia đình, sự gièm pha của xã hội Êlêna đã yêu nhà thơ vô tư và quên mình, say đắm và cuồng nhiệt. Cuộc tình “bất hợp pháp” của họ kéo dài 14 năm với ba đứa con. Êlêna chết vì bệnh lao phổi khi nàng mới 38 tuổi.


CÒN ĐÓ MỘT TÌNH YÊU(1)

Gặp lại em - tất cả vẫn như xưa
Con tim anh rung lại nhịp ngày thơ
Anh nhớ lại một thời xưa vàng ngọc
Để con tim nghe rạo rực vô bờ.

Cũng có khi giữa mùa thu đã muộn
Vẫn có những ngày, có những phút giây
Khi gặp lại làn gió xuân thoang thoảng
Ta thấy lòng mình hồi hộp, ngất ngây.

Cũng bởi vì xuân đem làn gió thoảng
Của một thời từng tràn ngập lòng anh.
Cùng say đắm đã từ lâu quên lãng
Anh ngắm nhìn lại những nét đan thanh.

Như sau cuộc chia ly từ vạn kỷ
Anh nhìn em như trong một giấc mơ
Và bỗng nghe tiếng lòng rung nhè nhẹ
Như không ngừng lắng xuống giữa hồn thơ...

Đây, tất cả vẫn còn trong kỷ niệm
Vẫn trong em nét duyên dáng, yêu kiều
Anh lại nghe cuộc đời đang lên tiếng
Và trong lòng còn đó một tình yêu!
27-7-1870.

______________
(1)Tên của bài thơ này trong nguyên bản là K.B. Đây là chữ viết tắt và sắp xếp ngược của hai từ: Baroness Krudener (nam tước phu nhân Krudener). Trước khi lấy chồng nam tước phu nhân có tên là Amalia Lerhenfeld. Fyodor gặp Amalia lần đầu tiên vào năm 1822 tại Munich, khi đó Amalia 14 tuổi, Fyodor 19 tuổi. Fyodor đã yêu Amalia say đắm và cũng được Amalia yêu lại như vậy. Fyodor tặng cho Amalia một dây đồng hồ bằng vàng thật và được nàng tặng lại một dây bằng vải lụa. Đến năm 1825 do sự ép buộc của cha mẹ Amalia phải đi lấy ngài nam tước Krudener. Fyodor vẫn giữ trong lòng mối tình đàu này và đến năm 1870 hai người gặp lại nhau. Khi đó Amalia đã trở thành goá phụ. Câu “anh nhớ lại một thời xưa vàng ngọc” ở đây có thể hiểu theo nghĩa bóng là thời tuổi trẻ vàng son, cũng có thể hiểu theo nghĩa đen là thời hai người đã trao đổi quà tặng cho nhau.


CHỈ ĐỂ LẠI MÌNH EM

Ông trời đày anh đã lấy về hết thảy
Sức khỏe, khí trời, nghị lực, ước mơ
Chỉ mình em là ông còn để lại
Cho anh có thể còn cầu nguyện ông ta.
1873.
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#23)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 07:25 AM



Aleksey Konstantinovich Tolstoy (tiếng Nga: Алексей Константинович Толстой, 5 tháng 9 năm 1817 - 10 tháng 10 năm 1875) là bá tước, nhà văn, nhà thơ Nga, viện sĩ thông tấn viện hàn lâm khoa học Sankt-Peterburg (1873).

Tiểu sử:
Aleksey Konstantinovich Tolstoy sinh ở Sankt-Peterburg. Bố là bá tước Konstantin Petrovich Tolstoy, mẹ là Anna Alekseyevna Petrovskaya - người Ukraina. Sau khi sinh con, bố mẹ ly dị, Aleksey Tolstoy được mẹ đem về Ukraina sống với dượng Antoniy Pogorensky - là một nhà văn. Năm 1826 mẹ và dượng đưa Aleksey Tolstoy lên thủ đô Sankt-Peterburg tham gia hội những người bạn ủng hộ Aleksandr II lên ngôi Nga hoàng. Từ năm 1826 theo dượng Antoniy Pogorensky đi du lịch nhiều nơi ở châu Âu, một lần được dượng giới thiệu với Johann Wolfgang von Goethe. Năm 1834 A. Tolstoy là sinh viên của Cục lưu trữ, Bộ ngoại giao. Năm 1835 A. Tolstoy thi vào Đại học Moskva. Những năm 1837-1840 là nhân viên Bộ ngoại giao ở Đức. Sau đó trở về Nga tiếp tục giữ nhiều chức vụ khác nhau trong Bộ ngoại giao. Những năm chiến tranh Crimea, A. Tolstoy tình nguyện gia nhập quân đội nhưng bị bệnh thương hàn nên không trực tiếp tham gia chiến đấu. Năm 1856 được Nga hoàng Aleksandr II giao một chức vụ cao trong quân đội nhưng A. Tolstoy mấy mặn mà với công việc nhà binh nên đến năm 1861 đã xin từ chức. Sau khi từ chức, ông chỉ tập trung cho công việc sáng tác.

Tolstoy là tác giả của nhiều thể loại: tiểu thuyết, kịch, ballade, thơ châm biếm, thơ trữ tình. Cùng với anh em nhà Zhemchujnikov tạo nên hình tượng Kozma Prutkov - bút danh tập thể của một nhóm nhà thơ trào phúng đăng trên tạp chí Người đương thời (những năm 1850-1860). Các tác phẩm chính: Công tử bạc (Князь Серебряный, 1863), tiểu thuyết lịch sử; Cái chết của Yoanna Grozny (Смерть Иоанна Грозного, 1866), bi kịch , Sa hoàng Fyodor Yoannovich (Царь Федор Иоаннович, 1868), bi kịch, Sa hoàng Boris (Царь Борис, 1870), bi kịch; thơ trữ tình, thơ châm biếm…





ĐIỀU CHƯA TỪNG BIẾT

Trong đêm hội tình cờ, vui nhộn
Giữa những lo toan vặt vãnh đời thường
Anh nhìn thấy em nhưng điều bí ẩn
Đã che mờ những đường nét thân thương.

Chỉ đôi mắt nhìn xa buồn vời vợi
Và bên tai anh giọng nói thiết tha
Như tiếng sáo diều từ xa vọng lại
Như rì rào tiếng sóng vỗ bờ xa.

Anh đã mê dáng người em thanh mảnh
Vẻ dịu dàng và cả nét trầm tư
Tiếng cười của em buồn, xa văng vẳng
Trong tim anh còn vọng đến bây giờ.

Rồi những lúc một mình trong đêm tối
Anh chỉ thích khi nằm xuống mệt nhoài
Anh lại thấy đôi mắt buồn vời vợi
Và lời vui cứ văng vẳng bên tai.

Anh buồn bã rồi dường như thiêm thiếp
Vào giấc mơ chưa từng biết ngủ quên
Yêu rồi chăng - bây giờ anh chẳng biết
Nhưng cứ ngỡ rằng anh đã yêu em!
1851.


HÌNH BÓNG EM YÊU

Đêm dần buông ngỡ chừng không thấy được
Trên mặt hồ làn khói nhẹ vòng quanh
Hình bóng em yêu dịu dàng, thân thuộc
Trong ánh chiều vụt hiện trước mắt anh.

Vẫn nụ cười mà anh yêu biết mấy
Vẫn bồng bềnh buông xõa mái tóc em
Và đôi mắt vẫn buồn như buổi ấy
Lặng nhìn anh trong một buổi chiều êm.
1856


ĐỪNG TIN ANH

Đừng tin anh trong ngày đau đớn
Anh nói rằng đã chẳng còn yêu
Biển đổi thay giờ con nước cạn
Lại quay về ngập bến bờ yêu.

Anh khát khao niềm đam mê cũ
Tự do này lại trả về em
Đã dội lại từng con sóng vỗ
Từ xa ngoài về lại bờ quen!
1856.





GIÁ MÀ

Giá mà em dù chỉ trong nháy mắt
Quên được nỗi buồn, quên được khổ đau!
Giá mà chỉ một lần anh tìm ra nét mặt
Nét mặt của những ngày hạnh phúc bên nhau!

Khi trong mắt em rưng rưng giọt lệ
Giá mà nỗi buồn có thể qua xong
Như cơn giông giữa mùa xuân vội vã
Như bóng mây chạy lướt ở trên đồng!
1859.





Marina Ivanovna Tsvetaeva (tiếng Nga: Мари́на Ива́новна Цвета́ева)(26/9/1892-31/8/1941) - nữ nhà thơ , nhà văn Nga, một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của Nga thế kỉ XX.

Tiểu sử:
Marina Tsvetaeva sinh ở Moskva. Lên 6 tuổi đã biết làm thơ bằng tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Đức. Học phổ thông ở Moskva, Thụy sĩ và Đức. Năm 1910 in tập thơ đầu tiên “Album chiều”( Вечерний альбом) gây được sự chú ý của các nhà thơ nổi tiếng thời đó như Bryusov, Voloshin, Gumiliev. Năm 1912 lấy chồng là Sergei Ephon - là người thời kỳ nội chiến tham gia bạch vệ nên sau cách mạng tháng Mười phải ra sống ở nước ngoài. Năm 1922 M. Tsvetaeva ra nước ngoài theo chồng. Đầu tiên sống ở Berlin rồi Prague, Paris. Năm 1939 cùng chồng và con gái quay trở lại Liên Xô nhưng sau đó chồng bà bị xử bắn và con gái bị bắt vào trại giam. Thời kỳ chiến tranh thế giới II, M. Tsvetaeva cùng con trai sơ tán về thành phố Elabug. Đau buồn cho số phận của những người thân và cảnh chiến tranh của đất nước, ngày 31-8-1941 bà đã treo cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh và đứa con trai nhưng đứa con 3 năm sau cũng chết vì đạn của chiến tranh.

Thơ của Marina Tsvetaeva một thời gian dài bị cấm ở Liên Xô, còn hiện tại M. Tsvetaeva là một trong những tác giả được yêu thích nhất. Thơ của bà được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và được dịch nhiều sang tiếng Việt.

Tác phẩm:
*Вечерний альбом (Album chiều, 1910), thơ
*Вёрсты (Versty, 1921), thơ
*Лебединый стан (Hình dáng thiên nga), thơ
*Ремесло (Nghề thủ công, 1923), thơ
*Психея (Psykheya,1923), thơ
*Молодец (Tay cừ khôi, 1924), thơ
*После России (Sau nước Nga, 1928), thơ
*Крысолов (Krysolov, 1925), trường ca
*Поэма Конца (Trường ca kết thúc, 1926), thơ
*Мой Пушкин (Pushkin của tôi, 1937), văn xuôi
*Искусство при свете совести (Nghệ thuật dưới ánh sáng của lương tâm), Văn xuôi
*Поэт и время (Nhà thơ và thời gian), văn xuôi
*Hồi ký về các nhà thơ: Valery Bryusov, Maximilian Voloshin, Osip Mandelstam, Boris Pasternak, Rainer Maria Rilke.





MỚI HÔM QUA...

Mới hôm qua anh còn nhìn mắt em
Thế mà nay liếc nhìn đi đâu đó!
Mới hôm qua ngơ ngác như chim non
Còn hôm nay sơn ca đều thành quạ!

Anh thông minh, linh hoạt, hiểu biết nhiều
Còn em chậm chạp, dại khờ, ngớ ngẩn.
Muôn đời nay phụ nữ vẫn thường kêu:
“Anh yêu ơi, em đã làm anh giận?!”

Với phụ nữ nước mắt như nước sông
Máu - nước lã, tắm mình trong trong nước mắt!
Còn tình yêu như gì ghẻ, con chồng
Anh đừng đợi lòng thương hay luật pháp.

Những con tàu mang đi những người thương
Mang họ đi cả một con đường trắng…
Khắp mọi nơi tiếng rên rỉ bên đường:
“Anh yêu ơi, em đã làm anh giận?”

Mới hôm qua còn nằm lên đầu gối!
So sánh mình với hoàng đế Trung Hoa!
Thế mà giờ hai bàn tay buông nới
Đời rơi như đồng xu gỉ vứt ra.

Kẻ giết người đem xử theo pháp luật
Không dễ thương, mạnh dạn - đứng một mình
Em sẽ nói với anh vào địa ngục:
“Anh yêu ơi, em đã làm gì anh?”

Em hỏi ghế rồi em đi hỏi giường:
“Vì điều chi mà bắt tôi chịu đựng?”
“Vì với cô người ta không còn thương
Thương người khác” - ghế và giường lên tiếng.

Sống phải bùng như ngọn lửa trong đêm
Anh bỏ em - về thảo nguyên giá lạnh!
Anh dạy em rồi làm thế với em
Hỏi tại sao em đã làm anh giận?

Em hiểu ra, anh không phải nói nhiều!
Đã không còn tình nhân - mắt lại sáng
Ở nơi mà đã từ bỏ Tình yêu
Thì Cái chết - người coi vườn tiếp quản.

Chẳng cần rung cây táo ở trong vườn!
Đến thời hạn qủa chín cây rụng xuống…
Tha thứ cho em tất cả nhé người thương
Vì những gì em đã làm anh giận!
14-7-1920.



TÔI THÍCH RẰNG ANH ĐAU CHẲNG VÌ TÔI

Tôi thích rằng anh đau chẳng vì tôi
Và chẳng phải vì anh tôi đau đớn
Rằng chưa bao giờ trái đất tròn nặng
Từng bơi đi dưới chân của hai người.
Tôi thích một điều có thể nực cười
Rằng đổ đốn mà không cần chơi chữ
Không đỏ mặt, không bồi hồi, ngạt thở
Khi nhẹ nhàng ta khẽ chạm tay thôi.

Tôi còn thích rằng khi có mặt tôi
Anh bình thản ôm người con gái khác
Không biết được rằng tôi trong lửa ngục
Cháy lên vì tôi chẳng phải hôn anh.
Rằng cái tên của tôi dịu dàng, anh không
Nhắc đến ngày cũng như đêm – uổng phí…
Rằng không bao giờ trong nhà thờ lặng lẽ
Vang lên lời cầu nguyện: hãy yêu thương!

Cám ơn anh bằng bàn tay, tấm lòng
Vì một điều – tôi đây anh không nhận!
Hãy yêu: vì đêm của tôi thanh vắng
Vì hiếm khi ta gặp gỡ hoàng hôn
Vì ta không từng dạo bước dưới trăng
Vì mặt trời trên đầu không toả sáng, –
Vì không phải bằng anh, tôi đau đớn
Và anh đau không phải bởi vì tôi.
5-1913.


CHỈ LÀ HAI TIẾNG VANG

Em và anh chỉ là hai tiếng vang
Anh nguôi đi, còn em thì im lặng.
Có một thuở ta đã từng ngoan ngoãn
Nghe theo điều bất hạnh của hào quang.

Tình cảm này bằng con bệnh ngọt ngào
Đốt lòng ta và làm cho đau đớn
Chính vì thế em coi anh là bạn
Em lúc này không khóc được nữa đâu.

Nỗi đắng cay sắp tới thành nụ cười
Và buồn đau sẽ trở nên mệt mỏi.
Không mắt nhìn mà cũng không lời nói
Chỉ thấy thương bí ẩn đã mất rồi!

Chính từ anh, nhà giải phẫu rã rời
Cái điều ác ngọt ngào em nhận thấy.
Em coi anh như người anh trai vậy
Lúc này em không khóc được nữa rồi.



TRỪ LẠI TÌNH YÊU

Em không yêu, nhưng khóc. Không yêu, nhưng dù sao
Chỉ cho anh – gương mặt thân thương trong chiếc bóng.
Tất cả trong giấc mơ của ta với tình yêu không giống
Không nguyên nhân, không một chứng cớ nào.

Chỉ hình bóng này với ta vẫn gật đầu chào
Chỉ hai ta mang cho nó dòng thơ ai oán.
Một sợi dây say mê buộc vào ta rất mạnh
Hơn cả tình yêu thương – của người ta.

Nhưng say mê ấy đi qua, có ai đấy đến gần
Không cầu nguyện, nhưng yêu. Đừng vội vàng chỉ trích!
Anh sẽ là kỷ niệm của em, bản nhạc đằm thắm nhất
Trong sự thức tỉnh của tâm hồn.

Trong hồn này anh thơ thẩn như trong ngôi nhà hoang vắng, cô liêu
(Trong ngôi nhà của ta, mùa xuân… ) Đã quên, anh đừng gọi
Tất cả những giây phút của mình em làm đầy anh, trừ lại
Một điều buồn bã nhất – tình yêu.


CHỈ LÀ CÔ GÁI

Tôi bây giờ chỉ là cô gái
Nhiệm vụ của tôi trước lúc lấy chồng
Không được quên khắp nơi đầy chó sói
Và phải nhớ rằng tôi – chú cừu non.

Mơ ước về một pháo đài bằng vàng
Lắc, xoay vòng, rồi đưa qua đưa lại
Đầu tiên búp bê, sau đó thì không
Không búp bê mà chỉ gần như vậy.

Bàn tay tôi không thể cầm gươm
Và trong tay dây đàn không lên tiếng.
Tôi chỉ là cô gái – tôi im lặng
Giá mà tôi được như thế thì ngoan.

Nhìn ngôi sao xem có gì trên đấy
Và ngôi sao cũng chiếu sáng cho tôi
Với tất cả đôi mắt tôi mỉm cười
Đôi mắt không khép lại!
1909-1910.


THÁNG CHẠP VÀ THÁNG GIÊNG

Niềm hạnh phúc tháng chạp, buổi bình minh
Kéo dài trong khoảnh khắc.
Hạnh phúc bây giờ, hạnh phúc đầu tiên
Không phải từ trong sách!

Nỗi bất hạnh buổi hoàng hôn tháng giêng
Kéo dài trong một tiếng.
Bất hạnh lúc này, đắng cay đau điếng
Thì mới lần đầu tiên!




SỰ TRÌU MẾN NHƯỜNG KIA TỪ ĐÂU VẬY

Tặng Osif Mandelstam

Sự trìu mến nhường kia từ đâu vậy?
Chẳng lần đầu tiên – những sợi tóc xoăn
Mà đã từng bao lần em vuốt lại
Và đôi môi anh – em biết – tối hơn.

Những ngôi sao sáng lên rồi tàn
Sự trìu mến nhường kia từ đâu vậy?
Những tròng mắt sáng lên rồi tàn
Ở ngay trong đôi mắt em đấy.

Chưa phải những bài ca như thế ấy
Mà em từng nghe thấy trong đêm đen
Sự trìu mến nhường kia từ đâu vậy?
Người ca sĩ mang trên ngực của mình.

Sự trìu mến nhường kia từ đâu vậy?
Biết làm gì với nó, hở chàng trai –
Người ca sĩ tinh nghịch ghé lại chơi
Với bờ mi dài hơn – chưa từng thấy?
18-12-1916.

(Xem thêm: 100 bài thơ Marina Tsvetaeva)

Last edited by ngophuong; 07-07-2009 at 02:43 PM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#24)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 07:45 AM



Veronica Mikhailovna Tushova (tiếng Nga: Верони́ка Миха́йловна Тушно́ва, 14 tháng 3 năm 1915 - 7 tháng 7 năm 1965) là nữ nhà thơ Nga

Tiểu sử:
Veronica Mikhailovna Tushova sinh ở Kazan, trong gia đình một giáo sư. Học phổ thông ở Kazan, biết làm thơ từ nhỏ. Từ năm 1931 vào học Đại học Y Leningrad, tốt nghiệp năm 1935. Năm 1941 vào học trường viết văn Maxim Gorky nhưng Thế chiến II xảy ra nên đi làm cứu thương ở các bệnh viện và tiếp tục làm thơ. Năm 1945 nhà xuất bản Молодая гвардия (Đội cận vệ trẻ) xuất bản tập thơ đầu tiên của bà Первая книга (Cuốn sách đầu tiên). Những năm 1950 in các trường ca Дорога на Клухор (Con đường đến Klukhor); Пути-дороги (Những con đường, 1954).

Tài năng của Tushnova được thể hiện đầy đủ nhất ở những năm cuối. Đề tài chính trong thơ bà là tình yêu, cùng với tình yêu là nỗi khổ và niềm vui, là mất mát và hy vọng, là hiện tại và tương lai. Thơ của bà rất được yêu thích ở Liên Xô trước đây cũng như ở Nga hiện tại. Bà mất ở Moskva vào tuổi 50.

Các tập thơ chính:
*Первая книга (Cuốn sách đầu tiên, 1945)
*Пути-дороги (Những con đường, 1954)
*Дорога на Клухор (Con đường đến Klukhor, 1955)
*Память сердца (Ký ức của trái tim, 1958)
*Второе дыхание (Hơi thở thứ hai, 1961)
*Сто часов счастья (Một trăm giờ hạnh phúc, 1965)


Một số bài thơ:

EM MONG CHO ANH ĐIỀU TỐT

Em cười, còn tim em khóc
Trong buổi chiều cô đơn.
Em yêu anh
Thì có nghĩa là
Em mong cho anh điều tốt
Thì nghĩa là em vui mừng
Không cần lời và không cần gặp
Và không cần nỗi buồn lo lắng
Và cũng không cần trên con đường lớn
Cùng anh chào đón buổi bình minh.
Tuổi già đang hiện lên chốn xa xăm
Và đến lúc ta cần quên lãng…
Em yêu anh
Thì có nghĩa là
Em mong cho anh điều tốt.
Nghĩa là em không biết làm sao quên anh được
Và kí ức làm sao xoá khỏi con tim
Làm sao em sưởi ấm bàn tay lạnh lẽo của anh
Điều này với em là quá sức.
Niềm vui của em, còn ai nói cho em biết
Điều gì là cần thiết
Và điều gì không cần
Em biết tìm đâu những lời khuyên?
Những chuyện này không ai nói cho ta biết cả
Và không ai có thể chỉ đường
Mối ràng buộc không ai mở
Ai nói rằng yêu là dễ dàng?


MỘT TRĂM GIỜ HẠNH PHÚC

Một trăm giờ hạnh phúc…
Chẳng lẽ còn ít chăng?
Tôi đã từng chắt lọc
Như đãi cát tìm vàng.

Tôi góp nhặt, không hề mệt mỏi
Thành từng giọt, từng bông
Thành từng tia, từng luồng
Tôi tạo nên hạnh phúc từ sương khói.

Tôi nhận về như món quà tôi được
Từ những ngôi sao nhỏ, từ bạch dương…
Biết bao ngày tôi đã từng
Đuổi theo hạnh phúc.

Trên sân ga giá buốt
Trông toa tàu ầm vang
Và cả trước lúc lên đường
Tôi ra sân bay tìm được.

Tôi đã từng ôm ấp
Sưởi ấm trong căn nhà lạnh lẽo giá băng
Và tôi đã từng
Làm bùa phép…
Đã từng khổ đau quá mức
Tôi tìm ra hạnh phúc cho mình.
Thật oan uổng nếu nói rằng
Hạnh phúc là do số phận
Ta cần để cho con tim
Không xấu hổ và quan tâm lo lắng
Cần để cho trong tim không còn
Thói biếng lười hay kiêu hãnh.
Để cho, dù chỉ một việc làm bé bỏng
Con tim nói lời “cám ơn”.

Một trăm giờ hạnh phúc
Trọn vẹn, chẳng dối gian…
Một trăm giờ hạnh phúc
Chẳng lẽ còn ít chăng?


EM KHÔNG SỢ RẰNG ANH BỎ EM

Em không sợ rằng anh bỏ em
Đi theo người khác
Mà em sợ rằng
Một lúc nào đó, anh trở thành
Như bao người khác.
Và em hiểu rằng một mình em trên sa mạc
Còn trong thành phố khói lửa dâng đầy
Em hiểu rằng anh không còn nữa từ nay
Không trên cõi đời này
Không cõi khác.


EM CÓ GÌ TỪ CHỐI ANH

Em có gì từ chối anh
Xin anh hãy nói
Anh bảo hôn anh
Thì em hôn anh đấy
Anh bảo em nói dối
Và em đã dối gian
Chưa một lần em từ chối với anh
Bao giờ em cũng làm như anh muốn:
Anh muốn - em cười
Anh muốn - em im lặng…
Nhưng sự nhún nhường có giới hạn
Và có điểm cuối cùng
Trong mỗi xuất phát đầu tiên.
Anh đổ tội mọi chuyện vì em
Và xét đoán
Rồi tất cả anh cân nhắc tính toán
Anh mong rằng để cho chẳng còn em…
Xin anh chớ muộn phiền
Em giờ đã đi mất hẳn.




EM CHIA TAY VỚI ANH

Em chia tay với anh
bên đường ranh giới cuối.
Có thể, anh sẽ còn gặp lại
với tình yêu thương.
Thì hãy để cho người mới
với anh sẽ là thiên đường
dù sao em vẫn cầu xin:
Em cầu xin anh nhớ lại!
Anh hãy nhớ về em, nếu
giá băng buổi sớm kêu lên lạo xạo
nếu như giữa trời xanh
tiếng máy bay kêu rì rầm
nếu quay cuồng bão tuyết
nếu màn sương mờ mịt
nếu con chó nhớ nhung
kêu ăng ẳng dưới trăng
nếu lá vàng từng đám
xoay vòng mùa lá rụng
nếu như cửa bịt nửa đêm
có tiếng gõ không bình thường
và nếu như buổi sáng
những con gà trống gáy lên
thì anh hãy nhớ về
nước mắt, bờ môi, những dòng thơ…
Và hãy gắng đừng quên
khỏi con tim đừng xua hẳn
đừng cố gắng
chớ đau buồn -
rằng quá nhiều thứ của em!


THÔI ĐÀNH THẾ

Thôi đành thế, bây giờ anh phụ bạc
với em, anh sẽ chia tay
thì tài sản này
anh sẽ không trao được gì cho người khác.
Không nằm trong quyền lực của anh
chưa từng có, và tất cả không còn.
Từ sự bất hạnh của em
hạnh phúc không đến cùng người khác
không tình yêu cho nàng
không sự dịu dàng
sẽ không thêm, dù một chút!
Và anh sẽ không đạt được
không đạt được bao giờ
tấm lòng của em đem mua chuộc.
Anh sẽ cố gắng, chỉ hoài công:
không có tình yêu - thì sẽ không còn
có tình yêu - anh sẽ không quên
chỉ niềm hạnh phúc anh đem giết.
Đất đỏ bazan anh đem rắc
và uống cho sự yên ổn linh hồn…
Trở về nhà - trống vắng
đi khỏi nhà - trống rỗng
trong con tim - hoang vu
đến muôn thuở - mịt mù!





HAI ĐỨA MÌNH PHẢI CHUNG THỦY VỚI NHAU

Hai đứa mình phải chung thủy với nhau
Mang theo tình yêu đến ngày xuống mộ
Và ta cần biết đúng lúc từ giã
Nếu không thể nào chung thủy với nhau.

Dù muôn thuở sự đời không như thế
Nhưng liệu có ai biết được ý trời?
Không như thế, nhưng ta là con người…
Nên dù sao, một điều - anh hãy nhớ:

Em đây sẽ không bị anh ruồng bỏ
Không dối lừa em như với kẻ thù
Nếu không còn yêu, mình sẽ giã từ
Và em tự mình ra tay giúp đỡ.


ANH HÃY CHO EM HẠNH PHÚC MỘT LẦN

Anh hãy cho em hạnh phúc một lần
hãy gọi em theo anh về cực lạc
anh hãy dìm ở trong em cơn khát
cho em thở phào một chút nhiều hơn!
Vì cực lạc không ở chốn xa xăm
cũng không phải ở miền xa vời vợi
những bông tuyết treo thành chùm ở đấy
bão tuyết tháng tư ở đấy ngủ yên.
Cành vân sam ở đấy có màu xanh
trên những cành vân sam này rêu phủ
và đang chuyền cành những con sóc nhỏ
có vẻ như một làn khói màu hồng
rót ra màu lấp lánh của thủy ngân
và dòng nước tuyết tan giờ lặng lẽ…
Một lần anh nhé
trong buổi sớm mờ sương
hãy gọi em đi về nơi đó!
Em chẳng làm phiền
em đi qua như chiếc bóng của anh…
Cuộc đời đâu dài lắm
còn mùa xuân - trong năm chỉ một lần.
Ở đó vui hót những con chim rừng
ở đó tâm hồn hát trong lồng ngực…
Một trăm lỗi lầm cho anh tha hết
nếu như anh nói rằng:
- Em hãy đến với anh!


TẤT CẢ HÃY VẪN CÒN

Anh biết không, tất cả hãy vẫn còn!
Ngọn gió phương nam còn thổi
để làm phù phép với mùa xuân
và kỷ niệm hãy còn tươi rói
kỷ niệm bắt hai người gặp lại
và em trong buổi bình minh
những bờ môi của anh vẫn thức em.
Anh hiểu không, tất cả hãy vẫn còn
những con tàu hỏa vẫn đi về bốn phương
những chiếc tàu bay vẫn hàng ngày cất cánh
những con tàu thủy vẫn bơi trên biển lớn…
Giá như người ta vẫn hiểu được rằng
thường xuyên nghĩ về những điều kỳ diệu
thì người ta đã khóc ít khi hơn.
Hạnh phúc là gì? Đó là một con chim
đã thả ra - không còn bay trở lại.
Vì trong lồng con chim này mệt mỏi
bởi thế, chim chẳng vừa lòng
thật nhọc nhằn, anh có hiểu không?
Em chẳng nhốt chim không hề thương xót
đôi cánh chim, em không đem cắt cụt.
Liệu chim có bay đi không?
Hãy bay đi chim nhé…
Còn ta làm sao để ăn mừng
Ngày gặp gỡ!


EM MUỐN LÀM NGƯỜI YÊU DẤU CỦA ANH

Em muốn làm người yêu dấu của anh.
Em muốn là nguồn sức mạnh của anh
là cơn gió thoảng
là cơm ăn, nước uống
là bầu trời xanh bay lượn trên anh.
Nếu như anh bị lạc đường
thì em nguyện làm con đường nhỏ -
anh hãy đi theo đường đó chớ phân vân.
Và nếu anh mệt mỏi vì cơn khát
thì em sẽ hóa thành suối nước
anh uống vào cơn khát sẽ vơi.
Còn nếu như anh muốn nghỉ ngơi
giữa đêm đen mờ mịt
dù là chốn thâm sơn cùng cốc
em sẽ làm làn khói trên mái nhà
thành ánh lửa hồng ấm áp
để cho anh sẽ nhìn ra.
Tất cả những gì anh yêu quí ở đời
em sẵn sàng trở thành thứ đó.
Buổi bình minh anh hãy bước ra cửa sổ
và anh hãy thử đoán xem.
Đấy là em một mình
quyết đấu với họ hàng nhà cỏ
em làm cây mao lương bên bờ giậu nhỏ
để cho anh rủ lòng thương.
Và đấy là em đã hóa thành chim
một con chim vành khuyên lấp lánh
cất tiếng hót vang trong buổi sáng
để cho anh nghe ra tiếng của em.





Aleksandr Trifonovich Tvardovsky (tiếng Nga: Александр Трифонович Твардовский, 21 tháng 7 năm 1910 - 18 tháng 12 năm 1971) là nhà thơ Nga Xô viết ba lần được tặng giải thưởng Stalin (1941, 1946, 1947), giải thưởng Lenin (1961), giải thưởng Nhà nước (1971), là tổng biên tập tạp chí Thế giới mới (1950-1954, 1958-1970).

Tiểu sử:
Aleksandr Tvardovsky sinh ở làng Zagorye, tỉnh Smolensk trong gia đình một thợ rèn. Biết làm thơ từ nhỏ, từng học ở Đại học sư phạm Smolensk và tốt nghiệp Đại học văn, sử, triết học Moskva năm 1939. Năm 1931 in tập thơ Путь к социализму (Đường lкn chủ nghĩa xг hội) vа bắt đầu trở thаnh nhа thơ nổi tiếng sau khi in tập Страны Муравии (Xứ sở của kiến) vẽ ra một viễn cảnh về lаng mới vа ca ngợi chủ nghĩa tập thể. Năm 1941 in trường ca Василий Тёркин (Vasili Tyorkin) mà ngay cả những người không hề có cảm tình với văn học Xô Viết như nhà văn Ivan Bunin (giải Nobel Văn học năm 1933) cũng đánh giá cao tác phẩm này. Vasili Tyorkin trở thành một nhân vật dân gian và năm 1946 được tặng giải thưởng Stalin (sau này đổi thành giải thưởng Nhà nước). Chuyện kể rằng trong một lần thi học kỳ ở Đại học văn, sử, triết học Moskva, Tvardovsky bắt được câu hỏi về trường ca Страны Муравии của Tvardovsky, khi đу đг lа một tбc phẩm nổi tiếng được đưa vаo giảng dạy ở nhа trường.

Năm 1950 Aleksandr Tvardovsky được bổ nhiệm làm tổng biên tập tạp chí Thế giới mới và trong một thời gian dài là tổng biên tập của tờ tạp chí quan trọng bậc nhất này. Năm 1962 Aleksandr Tvardovsky xin phép ban phụ trách văn học Đảng cộng sản Liên Xô in Một ngày của Ivan Denisovich (Один день Ивана Денисовича) của nhà văn Aleksandr Solzhenisyn (giải Nobel Văn học năm 1970), khi đang bị coi là nhà văn có vấn đề, càng làm cho tờ tạp tạp chí này nổi tiếng hơn. Năm 1970 ông bị bãi miễn chức tổng biên tập Thế giới mới vì tình trạng hai mặt của một cá nhân vừa là một cán bộ tư tưởng cao cấp của đảng, vừa là một người ngầm phản đối quan điểm chính thống. Aleksandr Tvardovsky là nhà thơ có sự ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng sau này bằng tác phẩm cũng như việc phát hiện và đăng tác phẩm của họ trên tạp chí Thế giới mới mà ông là tổng biên tập. Aleksandr Tvardovsky mất ở ngoại ô Moskva năm 1971.

Tác phẩm:
*Путь к социализму (1931)
*Страна Муравия (1936
*Стихи (1937)
*Дорога (1938)
*Сельская хроника (1939)
*Загорье (1941)
*Василий Теркин (1941)
*Дом у дороги (1946)
*За далью даль (1950-1960)
*По праву памяти (1953 - 1963)
*Теркин на том свете (1954 - 1963)




Tôi bước đi vui vẻ. Thấy nhẹ nhàng

Tôi bước đi vui vẻ. Thấy nhẹ nhàng
Mưa đã qua. Đồng cỏ xanh ngời sáng
Tôi không biết anh, tôi không nhớ anh
Hỡi người bạn của tôi vô danh tiếng.

Anh mất trong trận nào, tôi không biết
Nhưng anh chết vì sự nghiệp vinh quang
Để cho quê hương và cho tổ quốc
Sẽ đẹp hơn và sẽ hạnh phúc hơn.

Trên cánh đồng làn khói xuân lan tỏa
Tôi bước đi trong sức lực tràn trề
Tôi đã giữ, rồi đánh rơi đâu đó
Cành tử đinh hương có nhánh đôi.

Người đồng chí của tôi, đừng oán trách
Rằng nằm đây, mà đáng lẽ sống vui
Chẳng lẽ tôi, được hưởng cuộc đời này
Mà lại muốn được chết bằng cách khác!…





Tôi biết rằng tôi không hề có lỗi

Tôi biết rằng tôi không hề có lỗi
Vì từ chiến tranh những người khác không về
Rằng họ là những người già hơn tôi, hay trẻ -
Đã bỏ mình, nhưng đâu phải chuyện kia
Rằng tôi có thể nhưng không biết cách gìn giữ
Không về chuyện này, nhưng vẫn cảm thấy điều chi…

Last edited by ngophuong; 10-06-2010 at 11:00 AM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#25)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 11:31 AM



Yevgeny Aleksandrovich Yevtushenko (tiếng Nga: Евге́ний Алекса́ндрович Евтуше́нко – tên khai sinh: Евгений Александрович Гангнус)(sinh ngày 18 tháng 7 năm 1933) – nhà thơ Nga. Ông còn nổi tiếng là đạo diễn và diễn viên điện ảnh, là một trong những nhà thơ lớn nhất của Nga thế kỉ XX.

Tiểu sử:
Yevgeny Aleksandrovich Yevtushenko sinh ở thị trấn Zima, tỉnh Irkutsk, vùng Siberia, Nga. Bố là Aleksandr Rudolfovich Gangnus, mẹ là Zinaida Ermolaevna Evtushenko, khi lớn lên Yevtushenko lấy họ mẹ. Bắt đầu in thơ từ năm 16 tuổi. Năm 1951-1954 học ở trường viết văn Maxim Gorky. Hội viên Hội nhà văn Liên Xô từ năm 1952. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Yevtushenko có thể kể đến các tập thơ: “Con đường của những người nhiệt tâm”, 1956; “Thủy điện Brat”, 1965; “Đằng sau tượng Nữ thần tự do”, 1970; “Thơ tâm tình”, 1973; tiểu thuyết: “Đừng chết trước cái chết”, 1994… Ngoài thơ và văn xuôi, ông còn là đạo diễn của hai bộ phim theo kịch bản của mình: “Vườn trẻ”, 1984; “Lễ mai táng Stalin”, 1991. Năm 1979 ông đóng vai Sionkovsky trong bộ phim “Cất cánh” của đạo diễn Kulik. Năm 1986-1991 ông là thư kí của Hội nhà văn Liên Xô. Năm 1983 được bầu làm Đại biểu Quốc hội Liên Xô của tỉnh Kharkov. Từ năm 1991 ông kí hợp đồng với Đại học Oklahoma (Mỹ) dạy văn học Nga ở trường này.

Sự đánh giá:
Nhà văn, nhà phê bình Yevgeny Rein – người được coi là người bạn, vừa là người thầy của Joseph Brodsky (giải Nobel Văn học 1986) viết: “Nước Nga là một xứ sở đặc biệt, quả quyết trong tất cả mọi mặt, thậm chí dưới góc nhìn của gương mặt thơ ca. Đã 200 năm nay thơ ca Nga chỉ có một nhà thơ vĩ đại. Vẫn như vậy trong thế kỷ 18, trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20. Chỉ có điều, nhà thơ vĩ đại này với nhiều khuôn mặt. Đấy là một dây xích liền mạch. Xin đưa ra một thứ tự: Derzhavin – Pushkin – Lermontov – Nekrasov – Blok – Mayakovsky – Akhmatova – Yevtushenko. Đấy là nhà thơ vĩ đại duy nhất với nhiều gương mặt khác nhau. Đấy là số phận thơ ca của nước Nga”.
Cho đến đầu thế kỷ 21 này, đối với Yevgeny Yevtushenko, thứ tự này xem ra vẫn đúng.

Giải thưởng:
Yevgeny Yevtushenko được tặng rất nhiều giải thưởng của Liên Xô và các nước. Đáng kể nhất có thể kể đến: Huân chương Lao động cờ đỏ, 1983; Giải thưởng Sư tử vàng (Italia); Giải thưởng Quốc gia của Gruzia, Latvia, Ukraina…, Giải thưởng Walt Whitman. Năm 1995, tiểu thuyết “Đừng chết trước cái chết” được công nhận là tiểu thuyết nước ngoài hay nhất của Italia. Năm 2002 được tặng giải quốc tế Aquila của Italia. Ông là thành viên danh dự của Viện hàn lâm Nghệ thuật Mỹ, Tây Ban Nha, Giáo sư danh dự của Đại học mới New York, là công dân danh dự của nhiều thành phố ở Nga và Mỹ. Năm 1994 Bảo tàng Bách khoa Moskva ký với Yevtushenko hợp đồng nhận quyền tổ chức sinh nhật của ông trong vòng 25 năm, đến năm 2019. Hằng năm, cứ đến dịp sinh nhật của mình, ông lại từ Mỹ trở về Nga đọc thơ cho người hâm mộ. Thơ của Yevgeny Yevtushen ko được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.

Tác phẩm:
*Шоссе энтузиастов (Con đường của những người nhiệt tâm, 1956), thơ
*Братская ГЭС (Thủy điện Brat, 1965), thơ
*Под кожей статуи Свободы (Đằng sau tượng Nữ thần tự do, 1970), thơ
*Интимная лирика (Thơ tâm tình, 1973), thơ
*Не умирай прежде смерти (Đừng chết trước cái chết, 1994), tiểu thuyết
*Ягодные места (Những miền quả mọng, 1981), tiểu thuyết
*Взлет (Cất cánh, 1979), phim
*Детский сад (Vườn trẻ, 1984), phim
*Похороны Сталина (Lễ mai táng Stalin, 1991), phim





LUÔN LUÔN TÌM MỘT BÀN TAY PHỤ NỮ

Luôn luôn tìm một bàn tay phụ nữ
Một bàn tay rất mát mẻ, nhẹ nhàng
Một chút yêu yêu, một chút thương thương
Như một người em bàn tay ấp ủ.

Luôn luôn tìm một bờ vai phụ nữ
Để trong bờ vai hơi thở nóng bừng
Để khi mái đầu phóng đãng ấp lên
Sẽ tin tưởng trao bờ vai giấc ngủ.

Luôn luôn tìm một đôi mắt phụ nữ
Để làm tiêu tan đau khổ của mình
Nếu không tất cả, thì dù một phần
Những con mắt sẽ nhìn ra đau khổ.

Nhưng cũng có một bàn tay phụ nữ
Một bàn tay đặc biệt, rất ngọt ngào
Khi lên vầng trán mệt mỏi chạm vào
Giống như vĩnh hằng, giống như phận số.

Nhưng cũng có một bờ vai phụ nữ
Một bờ vai không hiểu tại vì đâu
Không cho một đêm, không cho dài lâu
Và điều này từ lâu anh đã rõ.

Nhưng cũng có một đôi mắt phụ nữ
Một đôi mắt luôn nhìn ngó rất buồn
Và chuyện này cho đến ngày cuối cùng
Con mắt của tình, của lương tâm anh đó.

Còn anh sống trái ngược với đời anh
Và ít ỏi một bàn tay phụ nữ
Một bờ vai, một đôi mắt buồn bã
Mà trong đời, anh phụ bạc bao lần!

Thì sự trừng phạt sẽ đến với anh
“Kẻ phụ tình!” – mưa vào anh sẽ đập
“Kẻ phụ tình!” – cành lá quất lên mặt
“Kẻ phụ tình!” – tiếng vọng giữa rừng xanh.

Anh trằn trọc, anh đau khổ, anh buồn
Và tất cả cho mình không tha thứ.
Nhưng chỉ bàn tay của người phụ nữ
Tha thứ cho anh, dù có phật lòng.

Và chỉ bờ vai mòn mỏi chờ trông
Tha thứ bây giờ và còn tha thứ nữa
Và chỉ có đôi mắt ai buồn bã
Tha thứ cho anh cả những thứ không nên…
1961




TƯỞNG NHỚ AKHMATOVA

Akhmatova là người của hai thời
Có vẻ như về nàng không nên khóc
Nàng đã sống, có vẻ không tin được
Lại không thể tin nàng đã qua đời.

Nàng ra đi, giống như một bài ca
Đi vào sâu thẳm của khu vườn tối
Nàng ra đi, có vẻ như mãi mãi
Từ Leningrad trở về Pê-téc-bua.

Nàng gắn chặt với cả hai thời gian
Giữa tâm điểm của sương và của bóng
Nếu Puskin là mặt trời, thì nàng
Trong thơ ca – sẽ mãi là đêm trắng.

Trên cái chết, bất tử, ngoài tất cả
Nàng đã nằm – có lẽ nói thế này:
Không phải trong hiện tại, mà trên nó
Nàng đã nằm giữa quá khứ, tương lai.

Và quá khứ bên quan tài im lặng
Không như của người sống hợp ý trời.
Bờm tóc bạc sáng sủa và kiêu hãnh
Lấp lánh từ những chíêc mũ lỗi thời.

Vâng, thời gian làm đổi thay đường nét
Những con người thời đó ở nước Nga
Nhưng đôi mắt họ – ánh sáng nhân từ –
Chẳng gió xoáy hay sương nào dập tắt.

Tương lai yếu đuối trên những đôi vai
Những cậu bé đi đến trường đã đốt
Ngọn lửa học trò trong từng đôi mắt
Những cuốn vở con nắm chặt trong tay.

Và những cô bé trong cặp của mình
Có lẽ mang nhật ký và danh mục
Họ vẫn thế – thiêng liêng và hạnh phúc
Vẫn ngây thơ như ngày ấy nữ sinh.

Sự sụp đổ toàn cầu, xin đừng để
Mất đi mối liên hệ của thời gian
Vì không thể hai nước Nga – điều giản đơn
Cũng như hai Akhmatova, không thể.


NHỮNG CON NGƯỜI

Người tẻ nhạt trên đời không hề có
Số phận như lịch sử những hành tinh.
Mỗi hành tinh có đặc điểm của mình
Và chẳng có hành tinh nào giống nó.

Nếu như ai đấy sống đời lặng lẽ
Với vẻ ít ai để ý của mình
Thì người này với những kẻ xung quanh
Hay ở cái không có gì đáng nhớ.

Mỗi con người bí ẩn và riêng lẻ.
Có trong đời một khoảnh khắc tuyệt vời.
Có một giờ phút khủng khiếp trong đời.
Nhưng chúng ta đều không ai biết rõ.

Và nếu con người trần gian từ giã
Bông tuyết đầu của người ấy đi theo
Trận đánh đầu tiên và nụ hôn đầu…
Con người này mang theo mình tất cả.

Chỉ còn lại những cây cầu, sách vở
Những máy móc và cả những bức tranh
Có nhiều thứ phải bỏ lại sau mình
Nhưng vẫn mất đi một điều gì đó.

Luật trò chơi không tiếc thương như thế
Không phải người, mà thế giới mất đi.
Ta nhớ người trần lầm lỗi thế kia
Nhưng sâu xa ta biết gì về họ?

Và cả bạn bè, cả anh em nữa?
Ta biết về người duy nhất của mình?
Và ngay người cha ruột thịt của mình
Ta biết hết, mà không hề biết rõ.

Người ra đi… không còn quay về nữa
Không hồi sinh những thế giới bí huyền.
Cứ mỗi lần tôi lại muốn kêu lên
Vì cuộc đời chỉ đi về một phía…





ANH ĐÃ HẾT YÊU EM

Anh đã hết yêu em… một kết cục tầm thường
Vô vị như cuộc đời, vô vị như cái chết
Anh làm cho đứt dây khúc tình cay nghiệt
Vờ vĩnh để làm chi – một nửa cây đàn!

Chỉ con chó không hiểu – nó què quặt, xù lông
Em và anh cứ vẽ vời để làm chi không biết.
Anh kéo về mình – nó kêu bên cửa nhà em thút thít
Còn em thả nó ra – nó rên ừ ừ bên cửa nhà anh.

Có lẽ sẽ cuồng điên rồi sẽ chạy loăng quăng
Con chó đa cảm đa sầu, mi quả là trẻ lắm
Nhưng ta không cho phép mình làm người đa cảm
Hễ tiếp tục đớn đau – sẽ kéo đến cuối cùng.

Làm người đa cảm không phải yếu hèn, mà tội lỗi
Khi lại vẫn mềm lòng thì lại vẫn hứa suông
Rên ư ử, khừ khừ rồi lại hình dung
Với tên gọi dại khờ rằng “Tình cứu rỗi”.

Cứu tình yêu là trong những ngày đầu tiên, với
“Không bao giờ!” của nhiệt huyết, “mãi mãi!” của trẻ con.
“Không cần hứa!” – tiếng những con tàu vang lên
“Không cần hứa!” – tiếng những dây diện thoại.

Cành chớm gãy và u ám giữa trời xanh
Cảnh báo cho ta, những con người ít học
Rằng lạc quan tràn đầy là do không hiểu biết
Rằng vô vọng mới là điều hy vọng đáng tin.

Nhân đạo hơn là làm người tỉnh táo và cân
Và hỏi kỹ trước khi đeo vào – đó là qui luật
Đừng hứa gì trời xanh, nhưng hãy trao dù chút đất
Không đến ngày xuống mồ, nhưng dù khoảnh khắc rất cần.

Nhân đạo hơn là đừng nói “em yêu…” khi yêu anh
Kẻo rồi thật nặng nề, từ những bờ môi ấy
Nghe những lời trống không, buồn cười, giả dối
Và nghe dối gian như cả thế giới hoang tàn.

Không cần hứa… Tình – là không thể thi hành
Gian dối để làm chi, cũng giống như vương miện
Ảo ảnh là hay, một khi ảo ảnh chưa tan biến
Nhân đạo hơn là đừng yêu, kẻo sau đấy – cuối cùng.

Con chó kêu rên đến rối loạn tâm thần
Đập cửa nhà anh, rồi bên cửa nhà em ư ử.
Vì đã hết yêu, anh không hề xin em tha thứ
Chỉ tha thứ cho anh vì một thuở đã yêu em.





EM TO LỚN TRONG TÌNH

Em to lớn trong tình.
Em gan dạ.
Còn anh rụt rè sau mỗi bước chân.
Điều tồi tệ cho em anh chẳng làm
còn tốt đẹp chắc gì anh có thể.
Tất cả như trong rừng
anh cứ ngỡ
em dẫn anh đi không theo một lối mòn.
Trong hoa cỏ ngập đến tận thắt lưng.
Anh không hiểu hoa có tên gì vậy.
Không dùng được những thói quen ngày ấy.
Anh không biết rằng anh phải làm sao.
Em mỏi mệt.
Cần bàn tay trao nhau.
Và ngã vào trong lòng anh khi đó.
“Anh có thấy,
trời hôm nay xanh thế?
Và có nghe
chim hót ở trong rừng?
Nào anh yêu?
Nào anh?
Hãy bế em!”
Bế em đi đâu anh không biết?…
1953


KHI GƯƠNG MẶT CỦA EM XUẤT HIỆN

Khi gương mặt của em xuất hiện
trước cuộc đời rất nhàu nát của anh
khi đó, đầu tiên anh chỉ nghĩ rằng
những gì anh có, tất cả đều thiếu thốn.

Nhưng những cánh rừng, dòng sông và biển
gương mặt em đặc biệt chiếu sáng lên
màu sắc cuộc đời gương mặt hiến dâng
chỉ riêng anh thì không hề dâng hiến.

Anh sợ lắm, lúc này anh sợ lắm
sợ vầng đông không đợi sẽ tận cùng
tận cùng mở đầu, nước mắt, hân hoan
nhưng nỗi sợ không thể nào kìm nén.

Anh nhớ lại – chính cái điều khiếp đảm
là tình yêu. Và nỗi sợ nâng niu
dù anh không biết rằng phải chiều theo
và tình yêu canh chừng không cẩn thận.

Bằng nỗi sợ anh cầm lên chiếc nhẫn.
Khoảnh khắc này – anh biết – ngắn ngủi thôi
với anh biến mất màu sắc cuộc đời
khi gương mặt em trước anh xuất hiện…
1960


VỀ NHỮNG BẢN DỊCH

Bạn đừng sợ gì bản dịch tự do
Không gì tự do, nếu như yêu mến.
Nhưng nếu như nhạc của thơ làm hỏng
Thì bạn làm đứt đoạn cả ý thơ.

Tôi không khen vẻ khôn khéo dối lừa
Mà tôi khen những nhà thơ được phép
Có sự chính xác ngây thơ tội nghiệp
Và chi ly của sáng tạo thơ ca.

Đừng tự gò mình, những kẻ ngây thơ
Hãy để cho nhiều tự do và nhạc
Tôi đơn giản không tin vào bản dịch
Mà tôi chỉ tin ở những bài thơ.

Từng say sưa bằng giấc mơ của lửa
Chén cổ xưa đã từng đem hắt té
Chiếc chén rót đầy thứ rượu thiêng liêng.


ĐỪNG BIẾN MẤT

Em đừng biến mất… Khi biến mất khỏi anh
Không còn hiện thân, em khỏi mình biến mất
Em phụ bạc chính mình muôn đời muôn kiếp
Đấy là điều gian dối nhất đó em.

Em đừng biến mất… Biến mất – thật dễ dàng.
Hồi sinh cho nhau mới là điều không thể.
Cái chết lôi kéo ta vào sâu xa đến thế.
Làm người chết dù khoảnh khắc – là bất cẩn đó em.

Em đừng biến mất… Chiếc bóng thứ ba hãy quên
Trong tình yêu chỉ hai người. Kẻ thứ ba không có.
Anh và em sẽ trinh bạch trong ngày phán xử
Khi những tiếng kèn gióng giả gọi ta lên.

Em đừng biến mất… Ta đã chuộc lỗi lầm
Ta không là phạm nhân, không có điều cấm đoán.
Với những sự tha thứ ta hoàn toàn xứng đáng
Những kẻ do vô tình đã chịu những đau thương.

Em đừng biến mất. Có thể giây phút thôi em
Nhưng làm sao sau này ở trăm năm gặp lại?
Liệu trên đời có người giống hệt em như vậy
Và giống hệt như anh? Chỉ trong cháu trong con.

Em đừng biến mất. Hãy đưa tay cho anh.
Tên anh ghi ở đây – anh rất tin điều đó.
Tình yêu cuối có một điều đáng sợ
Là không phải tình mà sợ mất mát đó em.



ANH ĐÃ NÓI

Anh đã nói biết bao nhiêu lời khôn
Biết bao lần lên vai em ve vuốt
Còn em đã khóc giống như con nít
Rằng anh không hề muốn được yêu em.

Em chạy lao ra gió, ra mưa giông
Như anh không hề van em ở lại.
Chiếc ô đen khi giơ lên cao ấy
Khi tay em kéo lệch phía bên mình.

Và có vẻ như chìm vào lãng quên
Có vẻ điều này trở nên trống vắng
Đấy là thân thể trẻ con thanh mảnh
Đấy là thân hình mảnh dẻ của em.

Và những máng nước ầm ĩ xung quanh
Tựa hồ như ánh sáng từng gào thét:
“Ta tàn nhẫn, ta khắt khe, độc ác
Vì điều này nên chẳng có khoan dung”.

Tất cả tàn nhẫn – và mái, và tường
Và một điều không phải là vô cớ
Những ăng-ten truyền hình khắp thành phố
Như thiếu Giê-su mà có sự đóng đinh.


LỜI CẦU KHẨN

Đêm mùa xuân em hãy nghĩ về anh
Và đêm mùa hè hãy nghĩ về anh
Đêm mùa thu em hãy nghĩ về anh
Và đêm mùa đông em hãy nghĩ về anh.
Dù anh không ở cùng em, mà đâu đó
Người xa xôi, như người trong xứ lạ -
Trên tấm ga trải giường dài và mát mẻ
Hãy nghỉ ngơi, như giữa biển trên lưng
Thả mình như con sóng chậm, dịu êm
Chỉ hai người, với anh, như biển cả.

Anh không muốn em suy nghĩ ban ngày
Cứ để ngày tất cả đem lộn ngược
Xông bằng khói và rượu vang đem rót
Bắt nghĩ về một điều khác hoàn toàn.
Ban ngày cứ nghĩ điều gì mong ước
Còn ban đêm – em chỉ nghĩ về anh.

Em nghe qua tiếng con tàu vang lên
Qua ngọn gió, tan từng mảnh mây đen
Anh – người đã rơi vào vòng tù hãm
Muốn trong phòng, nơi hẹp những bức tường
Em nheo mắt vì hạnh phúc, đau buồn
Ép bàn tay vào thái dương đau đớn.

Anh van em – trong tận cùng tĩnh lặng
Hay dưới cơn mưa ầm ĩ trên trời
Hay dưới tuyết, trên cửa sổ sáng ngời
Đã trong mơ và chưa hề trong mộng –
Đêm mùa xuân em hãy nghĩ về anh
Đêm mùa hè em hãy nghĩ về anh
Đêm mùa thu em hãy nghĩ về anh
Đêm mùa đông em hãy nghĩ về anh.


KHÔNG CẦN MỘT NỬA

Không, những thứ gì một nửa tôi không cần!
Cho tôi cả bầu trời! Đủ đầy mặt đất!
Cả sông, biển, vẹn toàn bao dòng thác
Tôi không bằng lòng những thứ chia phân.

Không, cuộc sống đừng đem cho tôi từng phần.
Tất cả vẹn toàn! Điều này tôi đủ sức
Tôi không muốn một nửa niềm hạnh phúc
Mà cũng không một nửa nỗi đau thương.

Có chăng chỉ là nửa chiếc gối êm
Nơi em áp má vào một cách cẩn trọng
Và chiếc nhẫn trên tay em lấp lánh
Ngôi sao mờ, ngôi sao rụng trong đêm.


EM ĐỪNG VỘI

Em hãy vội vàng, vội vàng đến với anh
Nếu anh một mình, nếu anh khó ở.
Nếu anh tựa trong giấc mơ đáng sợ
Tai họa rập rình trên cửa sổ anh.
Em hãy vội vàng khi người xúc phạm
Em hãy vội khi anh cần người bạn
Em hãy vội khi anh buồn lặng im
Thì em nhé, em nhé, hãy vội vàng!

Và đừng vội, đừng vội, một khi mà
Mình hai đứa, tai họa ở rất xa
Những chiếc lá, dòng nước đang nói “có”
Và những ngôi sao, con tàu, ánh lửa…
Em đừng vội, khi mắt trong mắt nhau
Em đừng vội, khi chẳng vội đi đâu
Hãy lắng nghe đêm, hãy lặng ngừng, đừng vội
Em đừng vội, khi chẳng vội đi đâu…

Last edited by ngophuong; 08-07-2010 at 11:00 AM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#26)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 11:33 AM



Maximilian Alexandrovich Kirienko-Voloshin (tiếng Nga: Максимилиа́н Алекса́ндрович Кирие́нко-Воло́шин, 16 tháng 5 năm 1877 - 11 tháng 8 năm 1932) - nhà thơ, nhà văn, dịch giả, hoạ sĩ, nhà hoạt động xã hội Nga.

Tiểu sử:
Maximilian Kirienko-Voloshin sinh ở Kiev. Bố là một luật sư, mất năm 1881. Năm 1893 mẹ của Voloshin mua đất rồi về sống ở Koktebel (vùng Cremia). Từ năm 1897 đến 1899 học ở khoa luật, Đại học Moskva nhưng chủ yếu là tự học ở nhà. Năm 1900, một thời gian làm công nhân đường sắt, sau đó đi du lịch ở Hy Lạp, Ý, Đức, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ kỳ, Ai Cập. Trở về Pháp, Voloshin nhiều lần nghe giảng ở Đại học Sorbonne và học vẽ ở Paris. Từ năm 1903 viết bài cho các báo và tạp chí của Nga. Năm 1907 trở về sống và sáng tác ở Koktebel. Năm 1914 Voloshin viết thư gửi Bộ trưởng Quốc phòng từ chối tham gia quân đội. Thời kỳ Nội chiến không tham gia về phía nào. Năm 1924 Voloshin dùng nhà riêng của mình ở Koktebel là trại sáng tác cho các văn nghệ sĩ.
Maximilian Kirienko-Voloshin mất ở Koktebel năm 1932.

Tác phẩm:
*Стихотворения. 1900-1910 (1910), thơ
*Портреты современных поэтов (1923), phê bình
*Иверни (1916) thơ
*Верхарн. Судьба. Творчество. Переводы (1919), phê bình
*Anno mundi ardentis 1915 (1916), thơ
*Демоны глухонемые (1919), thơ
*Лики творчества (1914), tiểu luận



YÊU - THÌ ĐỪNG RƠI LỆ

Yêu - thì đừng rơi lệ, chẳng tiếc thương
Yêu - thì đừng tin ngày trở lại…
Để sao cho mỗi giây phút ấy
Trong đời ta là giây phút cuối cùng.
Để không còn kéo ta quay trở lại
Để cuộc đời lướt qua trong khói
Đi qua, tản ra… và để sao
Nỗi buồn vui sướng trong chiều
Bằng bàn tay của mình ôm ta chặt
Để tan chảy ra không còn dấu vết
Những giấc mơ, và để không khi nào
Ta giã từ với hạnh phúc buồn đau
Và để cho trong ngày cuối
Ta thở phào, rồi mừng vui đi khỏi.


NẾU CON TIM CHÁY LÊN

Nếu con tim cháy lên và run rẩy
Nếu chén xưa rượu đã rót tràn đầy…
Thật bất hạnh cho người đem hắt rảy
Chén rượu này, mà chẳng uống cho say.

Đêm mùa xuân trong ta từng rung động
Ánh trăng bí huyền lấp láy, long lanh…
Em chẳng từng ôm anh trong giấc mộng
Còn anh trong đêm đã chẳng hôn em.

Nỗi khát khao từng thiêu đốt hai ta
Một tình cảm dị thường từng hòa nhập:
Em đã từng yêu một ai đó khác
Còn trái tim anh - người khác hướng về.

Hai chúng mình đã từng ngẩng đầu lên
Từng say sưa bằng giấc mơ của lửa
Chén cổ xưa đã từng đem hắt té
Chiếc chén rót đầy thứ rượu thiêng liêng.





TÌNH CỦA EM

Tình của em khao khát thật vô vàn
Tình nức nở, cầu xin, tình quở trách…
Em hãy yêu lặng im và nghiêm khắc
Em hãy yêu, để tan chảy dần dần.

Hãy chiếu sáng cho người ngọn lửa sáng
Không quyết tâm, không khói cũng không buồn
Hãy yêu người bằng xác thân sung sướng
Nhưng con tim, yêu với nỗi đau thương.

Mặc ảo ảnh mà tình yêu tạo nên
Để hình khác không che lấp gương mặt
Em hãy yêu người ta bằng máu thịt
Rất đơn sơ, sống động của người trần…

Hãy giữ gìn điều mê tín dị đoan
Đừng sợ kẻ thù của lòng tin khác
Em hãy yêu người thủy chung, hết mực
Hãy yêu người tận sâu thẳm con tim.


ĐÊM NAY ANH LÀM NGỌN ĐÈN

Đêm nay anh làm ngọn đèn
Trong bàn tay âu yếm của em…
Em đừng thở, đừng nghiêng, đừng đập vỡ
Trên những bậc đá thềm.

Hãy mang anh với vẻ cẩn trọng hơn
Xuyên qua bóng đêm cung điện của em
Và hãy để cho muộn phiền, lo lắng
Hai con tim - nhịp đập sẽ sâu hơn…

Để trong khe hở của bàn tay em
Một ngọn lửa bé bỏng vô cùng
Anh sẽ cháy lên như tượng Thánh…
Chẳng phải là em đã đốt anh lên?


VẪN CỨ LÀ QUÁ SỚM

Tôi đợi chờ đau khổ bấy lâu nay
Với vẻ đủ đầy của hạnh phúc vô ý
Nỗi đau đến như ánh sáng màu xanh lặng lẽ
Quấn vào tim, giống như một bàn tay.

Tia sáng ước mong đã mang đến theo mình
Những âu yếm khổ đau, dằn vặt thế
Xuyên qua ẩm ướt của bao dòng lệ
Những sắc màu rót xuống cả trần gian.

Và con tim cứng đờ như tấm kính
Trong tim này vẫn hát một nỗi đau:
“Ôi, đau thương, dù mi đến khi nào
Thì mãi mãi vẫn cứ là quá sớm!”





Andrey Andreyevich Voznesensky (tiếng Nga: Андре́й Андре́евич Вознесе́нский, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1933) là nhà văn, nhà thơ Nga.

Tiểu sử:
Andrey Voznesensky sinh ở Moskva trong gia đình một kĩ sư thủy điện. Năm lên 14 tuổi viết những bài thơ gửi nhà thơ Boris Pasternak (giải Nobel Văn học năm 1958), và nhận được bức thư trả lời: “Sự tham gia của bạn vào văn học rất mạnh mẽ và hào hứng, tôi rất vui mừng được sống đến ngày này”. Chính Boris Pasternak đã có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp văn học của Andrey Voznesensky.

Năm 1957 ông tốt nghiệp Đại học kiến trúc Moskva, nhận bằng tốt nghiệp là kiến trúc sư nhưng sự nghiệp chính của ông là văn học. Từ năm 1958 thơ ông liên tục xuất hiện trên các báo và tạp chí được hàng triệu độc giả yêu mến. Cũng chính thời gian này Andrey Voznesensky, cùng với Yevgeny Yevtushenko, Bella Akhmadulina bị coi là những nhà thơ có vấn đề. Tổng thống Mỹ John Kennedy đã trực tiếp gọi điện cho Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev đề nghị cho phép Andrey Voznesensky được sang Mỹ đọc thơ. Năm 1961, ông sang Mỹ trở thành nhà thơ Nga nổi tiếng nhất ở Mỹ, kết bạn với nhà thơ Mỹ Allen Ginsberg, nhà viết kịch Athur Miller và nữ diễn viên điện ảnh huyền thoại Marilyn Monroe.

Trường ca Antimiry của ông trở thành một vở kịch nổi tiếng thế giới của nhà hát Taganka năm 1965. Rất nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và trở thành những bài hát nổi tiếng. Riêng đối với bạn đọc Việt Nam, có lẽ ai cũng biết bài hát Triệu bông hồng (Миллион алых роз - Million of Scarlet Roses ) phổ thơ của Andrey Voznesensky, đã được dịch sang tiếng Việt từ lâu và trở thành bài hát được nhiều người yêu thích. Andrey Voznesensky là bạn của Martin Heidegger, Jean-Paul Sartre… Năm 1978 ông được tặng giải thưởng Nhà nước Liên Xô. Ông là thành viên danh dự của hàng chục Viện Hàn lâm trên thế giới, trong số đó có Viện Hàn lâm giáo dục Nga, Viện Hàn lâm Văn học Nghệ thuật Mỹ, Viện Hàn lâm Nghệ thuật Bavaria, Viện hàn lâm Goncourt và nhiều Viện Hàn lâm khác. Ông được tặng nhiều giải thưởng của Liên Xô, Nga và các nước. Andrey Voznesensky qua đời ở Moskva ngày 1 - 6 - 2010, hưởng thọ 77 tuổi.

Tác phẩm:
Các tuyển tập:
*«Мозаика» (1960)
*«Парабола» (1960)
*«Треугольная груша» (1962)
*«Антимиры» (1964)
*«Ахиллесово сердце» (1966)
*«Тень звука» (1970)
*«Ров. Стихи и проза» (1987)
*«Взгляд» (1972)
*«Дубовый лист виолончельный» (1975)
*«Витражных дел мастер»(1976; Giải thưởng Nhà nước Liên Xô, 1978)
*«Соблазн» (1978)
*«Избранная лирика» (1979)
*«Безотчётное» (1981)
*«Прорабы духа» (1984)
*«Ров» (1986)
*«Аксиома самоиска» (1990)
*«Видеомы» (1992)
*«Casino „Россия“» (1997)
*«На виртуальном ветру» (1998)
*«Страдивари сострадания» (1999)
*«Девочка с персингом»
*«Жуткий кризис „Суперстар“»
*«Гадание по книге»

Trường ca:
*«Мастера» (1959)
*«Лонжюмо» (1963)
*«Оза» (1964)
*«Авось» (1972)
*«Ров» (1986)

Văn xuôi:
*Мемуарная проза, публицистика
*книга «Прорабы духа» (1984)



TRIỆU BÔNG HỒNG

Ngày xưa có một chàng họa sĩ
Có rất nhiều tranh và có ngôi nhà
Nhưng chàng đã đem lòng yêu quí
Một nàng nghệ sĩ rất yêu hoa.

Thế rồi một hôm chàng đem bán
Những bức tranh và bán ngôi nhà
Có bao nhiêu tiền chàng dành dụm
Rồi đem mua cả một biển hoa.

Triệu bông hồng, triệu bông hồng đỏ thắm
Em hãy từ cửa sổ đứng nhìn xem
Ai đang yêu nghiêm túc và say đắm
Biến đời mình thành hoa đẹp cho em.


Và bên cửa sổ lúc sáng sớm
Liệu em có sung sướng phát cuồng?
Tựa hồ như mình trong giấc mộng
Nhìn thấy hoa tràn ngập quảng trường.

Một chút lạnh trong lòng, em chợt nghĩ
Đại gia nào sao hoang phí thế này?
Thì dưới khung cửa sổ, dường nghẹt thở
Tội nghiệp cho chàng họa sĩ đứng đây.

Triệu bông hồng, triệu bông hồng đỏ thắm
Em hãy từ cửa sổ đứng nhìn xem
Ai đang yêu nghiêm túc và say đắm
Biến đời mình thành hoa đẹp cho em.


Họ gặp nhau chỉ phút chốc vậy đó
Rồi nàng theo tàu về chốn xa xăm
Nhưng dù sao, trong đời nàng đã có
Khúc hát tình si của những bông hồng.

Còn chàng vẫn sống cuộc đời gian khó
Nhà không còn và chàng vẫn cô đơn
Nhưng dù sao, trong đời chàng đã có
Những bông hoa đầy cả quảng trường!

Triệu bông hồng, triệu bông hồng đỏ thắm
Em hãy từ cửa sổ đứng nhìn xem
Ai đang yêu nghiêm túc và say đắm
Biến đời mình thành hoa đẹp cho em.




ANH TRỞ VỀ KHI EM ĐI RA PHỐ

Anh trở về khi em đi ra phố
Khẽ chạm vào chiếc áo khoác của em
Anh hiểu rằng từ chiều qua mưa nhỏ
Từ chiều qua em chưa bước ra đường.

Em chạy ra từ bậc thềm đến cổng
Rồi u sầu quay trở lại mái hiên…
Thật tuyệt vời khi yêu và trông ngóng
Nhưng tình yêu không một chút nhẹ nhàng.


ĐỪNG TRỞ LẠI VỚI NGƯỜI YÊU NGÀY CŨ

Đừng trở lại với người yêu ngày cũ
Người yêu xưa không hề có trên đời.
Chỉ bản sao - như ngôi nhà mất rồi
Nơi hai người sống mấy năm ở đó.

Con chó trắng đón bạn bằng tiếng sủa
Nằm trên đồi là hai cánh rừng con
Bên phải, bên trái - hai khu rừng nhỏ
Lặp lại trong sương tiếng sủa của mình.

Hai tiếng vọng riêng lẻ ở trong rừng
Dường như trong hai loa âm thanh nổi
Những gì hai người đã làm ngày ấy
Chúng mang âm thanh đi khắp thế gian.

Tiếng vọng trong nhà làm rơi cốc chén
Tiếng vọng dối gian mời uống nước trà
Tiếng vọng dối gian bỏ lại đêm qua
Khi mà đêm, đáng lẽ, cần lên tiếng:

“Đừng quay trở lại hỡi người yêu mến
Người yêu xưa không hề có trên đời
Hai nét duyên thầm kỳ diệu, tuyệt vời
Dù uốn thẳng câu trả lời cho bạn…”

Và chiều mai, khi bạn bước ra tàu
Những chìa khóa bạn đem vứt xuống suối
Cả rừng bên phải, cả rừng bên trái
Bằng giọng của mình cho bạn sẽ kêu:

“Đừng từ giã những người yêu của mình
Người yêu xưa trên đời không hề có…”

Nhưng mà bạn đâu có nghe lời khuyên.




TẠI VÌ SAO

Tại vì sao có hai nhà thơ lớn
Những người cố xúy tình yêu muôn đời
Lại không lấp loé như hai khẩu súng?
Thơ kết bạn, thế mà người - than ôi!

Tại vì sao có hai dân tộc lớn
Lạnh lẽo trên bờ vực của chiến tranh
Dưới dưỡng khí mái lều không bền vững?
Người kết bạn, còn đất nước thì không…

Hai đất nước như hai bàn tay nặng
Hai bàn tay sinh ra để cho tình
Lại đi ôm lấy đầu trong khiếp đảm
Quỉ sứ làm gì ở chốn trần gian!


SAGA

Em thức anh dậy buổi bình minh
Rồi tiễn anh, em đi chân đất.
Em sẽ không bao giờ quên được anh
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Anh muốn che giùm em cơn gió độc
Và anh nghĩ rằng: “Lạy Chúa lòng lành!
Anh sẽ không bao giờ quên được em.
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Dòng nước sủi bọt ngầu trong bể nước
Và Admiranteistvo và Birzha
Anh đã không quên được chúng bao giờ
Và anh đã không bao giờ còn gặp.

Không chớp mắt, những cây anh đào khóc
Những cây anh đào vô vọng, sẫm màu.
Quay trở lại - có tốt đẹp gì đâu.
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Và ngay cả khi ta quay về đất
Theo như Hafiz, thì trong lần này
Anh và em, tất nhiên, sẽ nhũn người
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt.

Nên thành ra, sẽ là điều nhỏ nhất
Sự không hiểu nhau của cả hai người
Trước sự không hiểu còn ở sau này
Của người sống và khoảng không đã chết.

Hai câu nói giữa trời xanh tròng trành
Bay từ đây vào trời xanh mất hút:
“Anh sẽ không bao giờ quên được em
Hai chúng mình sẽ không còn gặp mặt”.


XẢY RA NHƯ VẬY

Thơ không phải viết - mà xảy ra như vậy
Giống như tình cảm hay buổi hoàng hôn.
Còn người cùng tham gia - là tâm hồn.
Không phải viết - mà xảy ra như vậy.

Last edited by ngophuong; 10-06-2010 at 11:08 AM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#27)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 11:48 AM



Pyotr Andreyevich Vyazemsky (tiếng Nga: Пëтр Андреевич Вяземский, 12 tháng 7 năm 1792 - 10 tháng 11 năm 1878) là nhà thơ, nhà phê bình Nga.

Tiểu sử:
Pyotr Vyazemsky sinh ở Moskva trong một gia đình quí tộc lâu đời. Bố là một người học rộng, trong thư viện gia đình có 5000 đầu sách. Năm 1805 - 1806 học trường pansion ở Sankt-Peterburg. Năm 1807 trở về Moskva học với một giáo sư Đại học Moskva. Bố mất, để lại cho Pyotr Vyazemsky một gia tài đồ sộ. Năm 1808 bắt đầu in thơ và viết một số bài phê bình. Trong cuộc chiến với Napoleon năm 1812, ông tham gia trận đánh Borodino. Thời gian này bắt đầu kết bạn với Zhukovsky, Pushkin, Davydov. Những năm 1817 - 1821 ông làm việc ở Warsaw trong một cơ quan ngoại giao. Đến cuối đời ông đạt đến những chức vụ cao trong thời Nga hoàng Aleksandr II.

Pyotr Vyazemsky bắt đầu hoạt động văn học như một người ngoại đạo nhưng thơ ca của ông đạt đến đỉnh cao, được coi là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Nga thế kỷ vàng. Thơ của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cổ điển Pháp, ông cố gắng đổi mới ngôn ngữ văn học Nga và cũng đạt được một số thành công. Ngoài sáng tác thơ ông còn là nhà phê bình nổi tiếng. Bắt đầu từ tạp chí Московского телеграфа của nhà văn Polevoi, sau đó là tạp báo Литературную газету của nhà thơ Delvig, và cuối cùng là tạp chí Современник của Pushkin. Sau cái chết của Pushkin, ông ngừng cộng tác với tạp chí Современник và thôi viết phê bình. Đến cuối đời ông quay lại viết một số hồi ký về những người nổi tiếng cùng thời. Pyotr Vyazemsky mất ở Baden-Baden (Đức) năm 1878, mai táng ở Sankt-Peterburg.

Thư mục:
*Собрание сочинений Вяземского в 12 тт. СПб. 1878-1886, его переписка, «Остафьевский архив», т. I-V.
*Грот Я., Сухомлинов М., Пономарёв С., в Сборнике 2 отделения Академии наук, т. XX, 1880.
*Трубачев С. С. Вяземский как писатель 20-х гг., «Исторический вестник», Ї 8, 1892.
*Спасович В. Вяземский и его польские отношения и знакомства. Сочинения Спасовича, т. VIII, 1896.
*Языков Д. П. Вяземский. - М. 1904.
*Кульман H. Вяземский как критик. Известия Академии наук. книга 1. 1904.
*Гинзбург Л. Я. Вяземский литератор, Сборник «Русская проза», под ред. Б. Эйхенбаума и Ю. Тынянова, Л., 1926.
*Венгеров С. А. Источники словаря русских писателей, т. I, СПб. 1900.
*Перельмутер, Вадим «Звезда разрозненной плеяды!…» М. Кн. сад. 1993.




TRONG THUNG LŨNG NÀO

Trong thung lũng nào, hay cánh rừng
Trong giờ nào của buổi chiều tĩnh lặng
Để em bây giờ trầm ngâm thơ thẩn
Dưới ánh trăng tối và sáng nhá nhem?

Ai mang cho tim ý nghĩ kín thầm
Ai mang cho giấc mơ em vẻ đẹp?
Em gọi ai về nhập bầy cô độc
Khi gọi người cùng với ánh hoàng hôn?

Giọng của ai nghe trong tiếng thì thầm
Của dòng suối từ trên đồi rót xuống
Trong im lặng của rừng rất bí ẩn
Và trong lời của gió nhẹ lâng lâng?

Ai người thức lên tình cảm đầu tiên
Và trước giấc ngủ bí huyền sau cuối?
Tên ai gợi vẻ ngượng ngùng bối rối
Đang hiện ra trên gương mặt của em?

Ai người giờ đang ở chốn xa xăm
Nhưng đang có mặt trong trái tim em
Ai trong cuộc đấu tranh cùng số phận
Em gọi là niềm cứu rỗi cho mình?

Hình bóng ai trong hồn đã lạnh tanh
Đang tắt cùng ngọn lửa trong máu nóng
Với sức mạnh của một ngày cuối tận
Và sự nâng niu sau cuối của tình?




CHÚC BẠN BÈ

Ta uống chúc sức khoẻ một số người
Một số người, nhưng những người chung thủy
Những bạn bè chẳng bao giờ đổi thay
Mặc cho ngày tháng đổi thay quyến rũ.

Ta uống chúc sức khoẻ những người xa
Những người xa, nhưng những người yêu quí
Những bạn bè cũng cô đơn như ta
Giữa những người mà con tim xa lạ.

Chén của ta rót rượu cùng nước mắt
Nhưng ngọt ngào và tinh khiết vô cùng
Thì hoa hồng đỏ cùng hoa hồng đen
Vào vòng hoa này của ta hãy kết.

Chén ta chúc sức khoẻ một số người
Một số người, nhưng những người chung thủy
Những bạn bè chẳng bao giờ đổi thay
Mặc cho ngày tháng đổi thay quyến rũ.

Chúc sức khỏe những người thân xa xăm
Dù xa xăm nhưng con tim yêu quí.
Để tưởng nhớ những bạn bè cô đơn
Trong những nấm mồ lặng câm yên nghỉ.





Yulia Valerianovna Zhadovskaya (tiếng Nga: Жадовская, Юлия Валериановна, 29 tháng 6 năm 1824 - 28 tháng 7 năm 1883) là nữ nhà thơ, nhà văn Nga.

Tiểu sử:
Yulia Zhadovskaya sinh làng Subbotino, tỉnh Yaroslav trong một gia đình nguốn gốc quí tộc. Mẹ mất sớm, được gửi cho dì nuôi. Học ở trường Pansion, tỉnh Kostroma, biết làm thơ từ rất sớm. Thời gian học ở Pansion, Yulia Zhadovskaya yêu thầy giáo của mình nhưng không được sự ủng hộ của bố. Hai người phải chia tay nhau những hình ảnh người yêu đầu luôn xuất hiện trong thơ bà. Sau đó được bố đưa Yulia Zhadovskaya về Moskva và Sankt-Peterburg học tiếp. Yulia Zhadovskaya được làm quen với nhiều nhà thơ nổi tiếng và bắt đầu in thơ từ năm 1846.

Thơ của Yulia Zhadovskaya chịu sự ảnh hưởng của Nikolay Nekrasov, gần gũi với những bài hát dân gian. Nhiều bài thơ của bà được phổ nhạc, trở thành những bài hát nổi tiếng đến tận ngày nay. Những mô-típ chính trong thơ bà là khóc cho tình yêu đã mất, hoài niệm về người tình cũ, sự khuất phục trước số phận, hy vọng về hạnh phúc và sự nhận thức cay đắng của kiếp phù du. Ngoài thơ, Yulia Zhadovskaya còn viết nhiều tiểu thuyết, truyện về đề tài tình yêu, hôn nhân và phụ nữ. Tuyển tập tác phẩm đầu tiên của bà được xuất bản năm 1885.

Thư mục:
*Полн. Собр. соч., т. 1-4; СПБ, 1885;
*Полн. Собр. соч., 2 изд., т. 1-4; СПБ, 1894;
*Избр. стихотворения, предисл. П. Лосева, Ярославль, 1958.



ANH SẼ QUÊN EM

Anh sẽ quên em như một giấc mơ
Nhưng còn em không bao giờ quên cả
Trong cuộc đời anh yêu người rồi bỏ
Nhưng mà em không như thế bao giờ!

Rồi những gương mặt mới sẽ tìm ra
Anh sẽ chọn cho mình bao bạn mới
Tình cảm mới lại sôi lên dữ dội
Và biết đâu, hạnh phúc sẽ tìm ra.

Còn em buồn rầu từ giã cõi đời
Cuộc đời em niềm vui không hề có
Em đang yêu và giờ đang đau khổ
Chỉ một mình ngôi mộ biết mà thôi.
1844.




TÔI ĐIÊN RỒ VẪN CỨ YÊU NGƯỜI TA

Tôi điên rồ vẫn cứ yêu người ta
Gọi tên người cõi lòng tôi giá buốt
Một nỗi buồn thắt lại trong lồng ngực
Giọt nước mắt cháy bỏng cứ trào ra.

Tôi điên rồ vẫn cứ yêu người ta
Tràn ngập lòng tôi một niềm vui lặng lẽ
Trong con tim có điều gì hoan hỉ
Tôi cầu trời ban phước cho người ta.
1846.


HAI CHÚNG MÌNH KHÔNG THỂ YÊU NHAU

Hai chúng mình không thể yêu nhau
Cả hai xa lạ với tình quá đỗi
Tại sao anh - bằng ánh mắt, lời nói
Lại đem rót buồn vào trái tim em?
Tại vì sao lại lo lắng, quan tâm
Sao nỗi nhớ anh trong lòng dâng ngập?
Vâng, có một điều gì rất khác
Một điều mà em không đủ sức quên.

Rằng trong ngày buồn, trong ngày ly biệt
Giữa hồn em, không chỉ một lần
Những nỗi khổ đau xưa tỉnh giấc
Và trong mắt dòng lệ bỗng trào lên.





Vasily Andreyevich Zhukovsky (tiếng Nga: Васи́лий Андре́евич Жуко́вский, 29 tháng 1 năm 1783 - tháng 4 năm 1852) là nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả người Nga, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Sankt-Petrburg.

Tiểu sử:
Vasily Zhukovsky sinh ở làng Mishinsky, tỉnh Tula, là con ngoài giá thú của địa chủ Anafasy Ivanovich Bunin và một người hầu gốc Thổ. Đứa bé lấy họ của Andrey Ivanovich Zhukovsky, người mà theo yêu cầu của Anafsy Bunin đã làm bố đỡ đầu. Vasily Zhukovsky được học ở trường pansion của Đại học Moskva, say mê hội họa, ngoại ngữ và trở thành một học trò xuất sắc nhất của trường. Trong thời gian này Vasily Zhukovsky đã viết văn, làm thơ và chịu sự ảnh hưởng của nhà thơ Nicolay Karamzin. Năm 1802 ông in bản dịch Bài thơ nghĩa địa (Elegy Written in a Country Church Yard) của nhà thơ Anh Thomas Gray gây được sự chú ý của dư luận. Năm 1804 ông in bản dịch từ tiếng Pháp cuốn Don Kihote của Đại văn hào Cesvantes cũng được chào đón nồng nhiệt. Riêng bản dịch Bài thơ nghĩa địa, sau hơn 200 vẫn chưa ai có thể dịch hay bằng Vasily Zhukovsky.

Năm 1808 ông được cử làm tổng biên tập của tờ tạp chí danh tiếng Вестник Европы, nơi trước đấy ông từng in Bài thơ nghĩa địa. Thời kỳ này ông viết nhiều, ngoài thơ, truyện, ông còn viết phê bình và giới thiệu cho nhiều cuốn sách. Những năm 1820 - 1830 ông dịch Schiller, Goethe, Scott, Byron và cả tác phẩm Слово о Полку Игореве (Bài ca về cuộc hành binh Igor) ra tiếng Nga hiện đại. Năm 1842 ông bắt đầu dịch Odyssey của Homer (in năm 1848 và 1849).

Nhà phê bình Belinsky gọi Zhukovsky là “Colombo văn học của Nga”. Aleksandr Pushkin gọi Zhukovsky là “người vú nuôi” của các nhà thơ. Sau khi Pushkin viết xong trường ca Руслан и Людмила, Zhukovsky tặng ông bức chân dung của mình có đề dòng chữ “Người thầy chiến bại tặng người học trò chiến thắng” (Победителю ученику от побежденного учителя).
Năm 1841, ở tuổi 58 Zhukovsky mới cưới vợ, là con gái của một người bạn, trẻ hơn ông 40 tuổi. Những năm cuối đời ông và gia đình sống ở Đức. Ông mất ở Baden-Baden, Đức năm 1852.

Tác phẩm:
*«Сельское кладбище» (1802, вольный пер. из Т. Грея)
*«Славянка» (1816)
*«Вечер» (1806)
*«Море» (1822)
*«Кольцо души-девицы…» (1816)
*Послания («Тургеневу, в ответ на его письмо», 1813), оды, идиллии
*«Людмила» (1808) (вольные переложения баллады Г. А. Бюргера «Ленора»)
*«Светлана» (1808-12) (вольные переложения баллады Г. А. Бюргера «Ленора»)
*«Двенадцать спящих дев» (ч. 1 - «Громобой», 1810; ч. 2 - "Вадима, 1814-17),
*«Лесной царь» (1818)
*«Рыбак» (1818)
*«Рыцарь Тогенбург» (1818)
*«Замок Смальгольм, или Иванов вечер» (1822)
*«Кубок» (1825-31)
*«Суд Божий над епископом» (1831)
*«Ленора» (1831).
*«К ней» (1811, опубл. 1827)
*«Певец во стане русских воинов» (1812)
*«К месяцу» (1817)
*«Ночной смотр» (1836)
*«А. С. Пушкин» (1837)
*«Шильонский узник» (1822) (Перевод Дж. Байрона)
*«Ундина» (1837) (Перевод Ф. де Ламотт Фуке)
*«Наль и Дамаянти» (1844) (часть индийской поэмы «Махабхарата»)
*«Рустем и Зораб» (1849) (часть поэмы Фирдоуси «Шахнаме»)
*«Одиссея (Гомер)» (1849; нов. изд. - 1982) (Перевод Гомера)
*Повесть «Марьина роща» (1809)
*«Писатель в обществе» (1808)
*«О басне и баснях Крылова» (1809)
*«О сатире и сатирах Кантемира» (1810)



BÀI CA

Khi anh yêu, anh sung sướng hân hoan
Cuộc đời anh như giấc mơ tuyệt đẹp.
Nhưng em quên anh - đâu niềm hạnh phúc?
Tình yêu em là hạnh phúc của anh!

Khi anh yêu, anh cảm xúc bằng em
Anh hát lên, hồn sống bằng ca ngợi.
Nhưng em quên anh, tài năng chết yểu
Tình yêu em là thiên tài của anh!

Khi anh yêu, những ân huệ của mình
Bàn tay anh mang về nơi nghèo khó.
Nhưng em quên anh, không còn đau khổ!
Tình yêu em là ân huệ của anh!


GỬI NÀNG

Tên nơi nào cho em?
Không là nghệ thuật của người trần mắt thịt
Thể hiện vẻ đẹp của em!

Thiên cầm không có cho em!
Còn bài hát? Là lời không chung thủy
Của tin đồn rất muộn về em!

Và giá như có thể con tim
Nghe ra lời, thì tình cảm
Đã là bài hát cho em!

Vẻ đẹp của cuộc đời em
Là hình bóng trắng trong và thánh thiện
Anh mang như điều bí mật trong tim.

Anh chỉ biết yêu người
Còn em yêu thế nào, em hãy nói
Có thể vĩnh hằng chỉ một mà thôi!





NGÀY 19 THÁNG 3 NĂM 1823

Trước mặt anh
Em đứng trong lặng lẽ.
Ánh mắt em nhìn buồn bã
Và tình cảm ngập tràn.
Anh nhớ ánh mắt nhìn
Nhớ về quá khứ thân thương..
Ánh mắt nhìn sau cuối
Trong ánh sáng trần gian.

Em đi về chốn xa xăm
Như thiên thần lặng lẽ
Và mộ chí của em
Như thiên thần lặng lẽ!
Tất cả bây giờ ở đó
Những hồi tưởng trần gian
Tất cả bây giờ ở đó
Những suy nghĩ thánh thần.

Những ngôi sao của trời xanh
Và đêm lặng lẽ!…


NGUYỄN Viết Thắng giới thiệu, dịch, chú giải:
“150 Nhà thơ Nga”
Với sự cộng tác của IVANOV Ivan Ivanovich

Last edited by ngophuong; 27-05-2010 at 12:46 PM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#28)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 12:04 PM


(Hình minh họa)

Aizenshtadt, Veniamin (1921 – 1991)

KHI TÔI NÓI “TSVETAEVA”

Khi tôi nói “Tsvetaeva”, là tôi khóc
Giống như chết sau ba ngày tôi lại được hồi sinh
Báo tin về cái điều không may đầy khoái lạc
Về vị trí đầu tiên và tai họa của nàng.

Tôi muốn báo tin về sự bần cùng rất đặc biệt
Không mấy ai nghèo ở trong chốn thâm sơn
Bước qua ngưỡng cửa quan tài không sơn phết
Rồi sau đó trải ra kho báu của tâm hồn.

Không hiểu tại sao nhưng tôi mơ thấy Marina
Khi như kẻ đi lang thang trong bình minh buổi sớm
Khi như người bạn đồng hành của Chúa Giê-su
Khi lại như con chó cà nhắc trong sân rộng.

Khi tôi nói “Tsvetaeva”, là tôi đau đớn
Có vẻ như tôi đã lấy đi cắc bạc cuối cùng
Của cái người đã trao mình rất tự nguyện
Trao hết mình từ con tim đến bàn chân.

Khi tôi nói “Tsvetaeva”, là một nửa thế gian
Theo sau tôi bầy chó và những người hành khất
Marina ơi, tôi cay đắng thở bằng tấm lòng
Có vẻ như người mẹ và quan tài trên bờ môi đang khóc.



Arkhangelsky, Aleksandr (1889 – 1938)

QUÊN SAO ĐƯỢC
(Nhại thơ Anna Akhmatova)

Quên sao được! Giữa cái rét ghê người
Em bước ra khỏi rừng trong băng giá
Một chiếc xe chở củi từ trên đồi
Đi chầm chậm vẻ chừng rất thích thú.

Đàn chim bay có vẻ nhẹ nhàng hơn
Một người đàn ông ngồi trên lưng ngựa
Đôi găng tay còn dài hơn cùi chỏ
Và chiếc áo lông đến tận bàn chân.

Thở hổn hển, em kêu lên: – cứ đùa!
Anh từ đâu? Trả lời! Em run thế
Một cậu bé trả lời em lặng lẽ:
– Bố chặt cây, còn tôi chở củi về.


Batorin, Paven (?)

BÊN BẾP LỬA

Em ngồi cô đơn với một nỗi buồn
Nhìn ngọn lửa đau thương buồn bã cháy
Ngọn lửa khi thì vụt cháy bừng lên
Khi bất lực lại tắt chìm xuống mãi.

Em buồn về điều gì? Về những ngày đã trải
Những tình yêu, hạnh phúc, những lời chào?
Thì tại sao lại tìm trong than cháy
Em chẳng tìm ra câu trả lời đâu...

Hãy đợi đến khi không còn lửa cháy
Ngọn lửa từng sưởi ấm, vuốt ve em
Khi còn lại một đống than đen nháy
Mà bây giờ chưa kịp cháy hết trơn.

Em hãy tin – tình yêu như bếp lửa
Nơi cháy lên tất cả những ước mơ
Tình vụt tắt – trong con tim lạnh giá
Phía trước khổ đau, nước mắt đang chờ.
1901.


EM HÃY QUÊN BẾP LỬA

Em hãy quên bếp lửa xưa đã tắt
Giờ đã thay bằng tia nắng bình minh.
Và con tim của em từng tan nát
Sẽ lại vui để âu yếm với tình.

Bài hát này thức dậy trong lồng ngực
Những ước mơ tàn lụi sẽ nảy mầm
Em hãy quên bếp lửa xưa đã tắt
Sẽ đến một ngày rạng rỡ mùa xuân.

Em hãy quên bếp lửa xưa đã tắt
Quên buồn đau, nỗi bất hạnh của mình
Em hãy để cho vang lên bài hát
Bài hát về hạnh phúc, ước mơ xinh.
1914.[/color]

Last edited by ngophuong; 27-05-2010 at 12:33 PM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#29)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 14-12-2007, 12:16 PM



Danilieva, Galina (?)

THƠ VỀ MARINA TSVETAEVA

Vẫn lang thang một tiếng vọng không yên
Không giữa núi đồi hay trong rừng thẳm
Trên ngực chị tiếng gõ vào tuyệt vọng
Và chiếc kim trên cân đã bị quên.

Vẫn lang thang tiếng vọng… chị có nghe
Đừng lẫn lộn – một tiếng kêu tha thiết!
Vào cuốn vở, có thể, là hãy viết
Một lời khổ đau hành hạ: “A-a-a!”

Tiếng vọng lang thang – lời đã nói ra
Một lời nào – những say mê tiệc lễ
Yêu chị sau một trăm năm trôi qua
Và tiếp theo – sẽ muôn đời, là thế.

Vẫn lang thang một tiếng vọng không nhà
Và khát khao hòa một khúc ca mới…
Viết hiệu lệnh bằng một ngôi sao sa
Đường của thi nhân – đường ngôi sao chổi.
1994



Diterikhs, E. (?)

NHỮNG NGÔI SAO TRÊN TRỜI

Em nằm mơ thấy một khu vườn êm
Trong vườn này anh và em hai đứa.
Những ngôi sao trên trời, những ngôi sao trên bể
Những ngôi sao ở trong trái tim em.

Ngọn gió thổi những chiếc lá thì thầm
Hồn nhạy cảm em khát khao nắm bắt
Môi lặng im để dành cho ánh mắt
Nói lên rằng em chỉ muốn yêu anh.

Trên cánh đồng bay lơ lửng bóng đêm
Niềm hạnh phúc, niềm vui khắp mọi phía
Những ngôi sao trên trời, những ngôi sao trên bể
Những ngôi sao ở trong trái tim em.





Finkel, Aleksandr (?)

ANNA AKHMATOVA

Tất cả vẫn như xưa: vẫn trời xanh
Hoa cỏ ấy vẫn mọc trên đất ấy
Em vẫn thế, không có gì đổi mới
Nhưng mà anh thì đã xa em.

Em hỏi rằng: anh muốn điều gì vậy?
Anh trả lời: nhảy xuống tắm dưới đầm
Em cười: ấy chết, em cảm thấy
Cả hai người thì tai họa đó anh.

Quên sao được? Anh bước ra háo hức
Với những hình bong bong nước trên tay
Và những bắp thịt cuồn cuộn trên đùi
Đi trên cát vàng tiếng kêu răng rắc.

Có phải là để cho những tháng năm
Trong tình yêu cô đơn qua được
Để anh trao cho làn nước đục
Vẻ cổ xưa và bí ẩn của mình?!

Con tim của em đang lặng lẽ tắt dần
Giữa hồn em bỗng trở nên tăm tối
Em không biết – anh cho em xin lỗi –
Rằng thường xuyên đầu óc nặng hơn chân.

Ô, con tim em sao mà tăm tối lạ
Có lẽ là em đợi phút lâm chung?
Và một mình em hóa thành tượng đá
Trong vẻ tối tăm lạnh lẽo trên đầm.
1914.

MARINA TSVETAEVA

Ngày hôm qua chỉ âu yếm dịu dàng
Ánh hào quang của màu đen và trắng
Thế mà hôm nay ghét không thể tưởng
“Anh yêu ơi, em đã làm gì anh?”

Ngày hôm qua hãy còn nằm dưới chân
Em đáp lại, ngắm nhìn anh mê mải
Thế mà hôm nay bỏ chạy vào rừng
“Anh yêu ơi, em đã làm gì thế?”

Và chó sói xám trong rừng thông dữ
Bị người ta bắt cóc được mang về
Anh của em cứ giậm chân tại chỗ
Anh của em – đừng ăn thịt em nghe.

Chỉ những bàn chân và một chiếc sừng
Chỉ bàn chân và sừng em còn kịp
Sừng và chân của kẻ thù thu xếp
“Anh yêu ơi, em đã làm gì anh?”

Biết sống làm sao bây giờ – trong lửa?
Băng giá làm sao đi đến thảo nguyên?
Đấy là điều anh đã làm cho em!
“Anh yêu ơi, em đã làm gì thế?”
1924




Fyodoseev, Igor (1932 - )

ĐỪNG VỘI BỎ ĐI ANH

Đừng vội vã bỏ đi anh, đừng vội!
Hãy đứng lại đây, bên cánh cửa này!
Chẳng lẽ anh dễ dàng quên đến vậy
Người vẫn tin, yêu anh đến mê say.

Anh chớ vội vàng chối từ tất cả
Khi với anh người rộng mở tâm hồn
Anh hãy biết đi tìm trong lí trí
Và biết rằng chỉ đơn giản lặng im
Em vẫn biết điều này anh có thể.

Và chia tay, anh nhé, chớ vội vàng
Chớ vội vàng tình cảm đem chối bỏ
Tình ấm áp có thể còn chưa đủ
Để làm tan ghẻ lạnh giá băng.

Cả thành tích anh cũng chớ vội vàng
Hãy dừng lại, hãy tìm ra khoảnh khắc
Rồi bỗng nhiên anh sẽ hiểu ra rằng
Nơi anh cần là nơi đang có mặt.

Đừng vội vàng quên hết anh, đừng vội
Anh hãy xua những ý nghĩ mông lung
Bởi vì anh hãy nhớ một điều rằng
Đã ra đi không dễ dàng quay lại.




German, P. (?)

CHỈ MỘT LẦN

Ngày và đêm con tim này trìu mến
Đầu óc này choáng váng cả ngày đêm
Ngày và đêm như cổ tích xao xuyến
Bên tai này văng vẳng những lời em.

Chỉ một lần trong đời ta gặp gỡ
Chỉ một lần thôi số phận nuông chiều
Chỉ một lần trong lạnh lùng cơn gió
Ta bồi hồi, ta khao khát tình yêu.

ánh hoàng hôn đã chìm vào quên lãng
Một màu xanh bao phủ những bông hoa.
Người giờ đâu, từng một thời mong muốn
Ở đâu người từng gợi những ước mơ.

Chỉ một lần trong đời ta gặp gỡ
Chỉ một lần thôi số phận nuông chiều
Chỉ một lần trong lạnh lùng cơn gió
Ta bồi hồi, ta khao khát tình yêu.

ĐỪNG GẶP NỮA

Giờ dĩ vãng hiện về trong trí nhớ
Gương mặt em anh lại thấy rất gần
Lại thoáng về hơi thở trong quá khứ
Cuốn sổ ghi dòng lưu bút ngày xanh.

Đừng gặp nữa… thôi ta đừng gặp nữa…
Đừng nói lời, không cần nữa đâu em!
Và nếu như con tim đau nức nở
Em hãy bắt nó im lặng và quên!

Bởi anh từng biết rằng đau đớn lắm
Trong mỗi lời, từng cử chỉ của em
Em trong trạng thái tâm hồn thác loạn
Bờ môi run, cay xé ánh mắt nhìn…

Đừng gặp nữa…

Anh chẳng muốn bôi đen lên quá khứ
Bằng trò chơi trở lại chút rồi qua.
Đã một lần – không còn quay lại nữa
Bàn tay em hãy xé nát, giày vò…

Đừng gặp nữa…

TẤT CẢ RỒI SẼ QUÊN

Dù có đi đâu, không thể nào yên ổn
Anh cảm thấy mình kì cục, lạ lùng ghê
Dường như xuyên qua màn sương buổi sớm
Trước mắt anh kỷ niệm lại hiện về.

Anh hình dung ra giọng của em
Và con tim khát khao nghe cho rõ…
Hãy quay về! Tất cả rồi sẽ quên
Ngay trong lần đầu tiên gặp gỡ.

Anh nhớ khu vườn… bên kia sông vắng
Một màu xanh và lảng bảng khói sương
Từ xa xa một vật gì thấp thoáng
Như tiếng ngân vang ngày trước của cây đàn.

Anh hình dung ra giọng của em…

Dù chỉ là giấc mơ… là tiếng vọng
Tiếng vọng vô hình của quá khứ dịu êm
Nhưng cứ trong từng khoảnh khắc lại gióng
Gợi một bóng hình không thể nào quên.

Anh hình dung ra giọng của em…
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
(#30)
Old
ngophuong ngophuong is offline
Thành viên
 
Arrow Trả lời: 108 nhà thơ Nga - 15-12-2007, 09:10 AM



Nikolay Stepanovich Gumilyov (tiếng Nga: Николай Степанович Гумилёв) (15/4/1886 – 8/1921) là nhà thơ Nga thế kỉ bạc, người sáng lập trường phái văn học Đỉnh cao.

Tiểu sử
Nicolai Gumilyov sinh ở Kronstadt, là con trai của bác sĩ Stepan Yakovlevich Gumilev và Anna Ivanovna L'vova. Thuở nhỏ sống ở Hoàng thôn, học ở trường gymnazy do nhà thơ nổi tiếng I. Annensky làm hiệu trưởng. Học xong trường gymnazy, Nicolai Gumilyov học Đại học Saint Petersburg và Đại học Sorbonn. Năm 1902 in bài thơ đầu tiên ở một tờ báo. Năm 1905 tập thơ đầu tiên Con đường của những nhà chinh phục (Путь конквистадоров). Từ năm 1907 đi du lịch sang các nước châu Âu nhiều lần. Năm 1908 in tập thơ Những bông hoa lãng mạn (Романтические цветы).

Năm 1910 Nicolai Gumilyov và Anna Akhmatova làm đám cưới, hai năm sau sinh con trai Lev Gumilyov – sau này là một nhà khoa học nổi tiếng của Nga. Năm 1911 thành lập phái Đỉnh cao (акмеизм) cùng với Anna Akhmatova và Osip Mandelstam. Năm 1912 in tập thơ Bầu trời xứ lạ (Чужое небо). Từ năm 1914 đến 1918 tham gia quân đội. Năm 1918 chia tay với Anna Akhmatova, năm 1919 cưới Anna Engelgardt.

Năm 1921 Nicolai Gumilyov in hai tập thơ lấy cảm hứng từ những chuyến đi châu Phi, cũng trong năm này ông bị bắt do nghi ngờ tham gia vào tổ chức vũ trang Tagantsev và bị xử bắn, nơi xử bắn và phần mộ không rõ.

Nicolai Gumilyov không chỉ là nhà thơ mà ông còn là một nhà thám hiểm châu Phi có tiếng. Ông tham gia các đoàn thám hiểm đông và bắc Phi, mang về cho bảo tàng dân tộc học ở Saint Petersburg nhiều bộ sưu tập có giá trị. Ngoài sáng tác thơ ông còn là một nhà văn với nhiều truyện hay và là một dịch giả xuất sắc.

Ảnh hưởng văn học của Gumilyov:
Nicolai Gumilyov kiên trì tổ chức nhiều nhóm văn học, không được người đương thời đánh giá cao, nhưng đã để lại nhiều kết quả tốt đẹp. Những học trò của ông như Georgy Abramovich, Georgy Ivanov, Vsevolod Rozhdestvensky, Irina Odoevtseva, Nicolai Tikhonov… và nhiều người khác sau này đã trở thành những nhà thơ nổi tiếng. Phái văn học Đỉnh cao đã thu hút những tài năng thi ca xuất sắc đương thời như Anna Akhmatova và Osip Mandelstam. Nicolai Gumilyov có sự ảnh hưởng sâu sắc đến thơ ca hải ngoại của Nga cũng như thơ ca Xô Viết.

Tác phẩm
*Путь конквистадоров (1905)
* Романтические цветы (1908)
*Жемчуга (1910)
*Чужое небо (1912)
*Колчан (1916)
*К Синей звезде (1917)
*Колчан, Четвертая книга стихов, Книгоиздательствово «Петрополис», Берлин (1923).
*Тень пальмы (1922) – tập truyện
*Эмали и камеи (1914) – dịch Théophile Gautier.


Thư mục:
1. Павловский А.И. Николай Гумилев. — В кн.: Гумилев Н. Стихотворения и поэмы. Л., 1988
2. Николай Гумилев в воспоминаниях современников. М., 1989
3. Гумилев Н.С. Проза. М., 1990
4. Гумилев Н.С. Драматические произведения. Переводы. Статьи. Л., 1990
5. Гумилев Н.С. Собрание сочинений, тт. 1-3. М., 1991
6. Н.С.Гумилев pro et contra: личность и творчество Н.Гумилева в оценке русских мыслителей и исследователей. СПб, 1995


CÓ NHIỀU NGƯỜI YÊU

Có nhiều người yêu nhiều vẻ khác nhau
Người khôn ngoan đi xây nhà xây cửa
Quanh những cánh đồng tốt tươi màu mỡ
Lũ trẻ con đùa nghịch chạy theo nhau.

Có những người yêu nhau rất nghiệt ngã
Chỉ những câu hỏi và câu trả lời
Máu sôi lên, trút giận lên đầu ai
Nghe như tiếng của bầy ong vò vẽ.

Lại có những kẻ yêu như là hát
Họ vui mừng và vui vẻ hát lên
Họ giấu mình chốn nương náu thần tiên
Có những kẻ lại yêu như nhảy nhót.

Còn em khi yêu thế nào, cô gái
Vì điều chi em mệt mỏi em buồn?
Có lẽ nào em lại chẳng cháy lên
Bằng ngọn lửa bí huyền em quen ấy?

Nếu em có thể hiện trước mắt anh
Bằng tia chớp loé sáng ngời của Chúa
Thì anh từ nay cháy lên trong lửa
Ngọn lửa từ địa ngục đến trời xanh!


NÀNG

Tôi biết người phụ nữ luôn im lặng
Mệt mỏi đắng cay vì lời nói, vì từ
Nàng sống trong vẻ chập chờn bí ẩn
Của những con ngươi luôn mở rất to.

Tâm hồn nàng khao khát được mở ra
Và chỉ dành cho âm nhạc của thơ
Trước cuộc đời dung tục và hoan hỉ
Tâm hồn kia ngạo mạn và tránh xa.

Tiếng bước chân rất nhẹ và thong dong
Tiếng bước chân êm ả đến lạ lùng
Dù tôi không thể gọi nàng là đẹp
Nhưng hạnh phúc tôi tất cả trong nàng.

Những khi tôi khao khát sự bất thường
Tôi ngạo mạn, can đảm đến với nàng
Để học nỗi đau khôn ngoan dịu ngọt
Trong vẻ rã rời mê sảng của em.

Trong giờ mỏi mệt giữ vẻ sáng trong
Giữ trong tay mình biết bao sấm sét
Những giấc mơ của nàng là chuỗi hạt
Như bóng trong cát lửa chốn thiên đàng.


Gumilyov với vợ và con trai


TÔI VÀ EM

Tôi và em không xứng đôi vừa lứa
Bởi tôi từ xứ sở khác đến đây
Và tôi thích không phải ghi-ta kia
Mà giai điệu đàn zu-na hoang dã.

Và không phải những xa-lông bóng lộn
Những gian phòng, những áo váy màu đen
Mà tôi đọc thơ cho những con rồng
Những thác nước và những làn mây trắng.

Thích như người Ả Rập trong vắng vẻ
Áp sát mình vào nước uống nước trong
Chứ không như hoàng tử ở trong tranh
Nhìn sao trời và đợi điều gì đó.

Và chết không trong gối ấm chăn êm
Có thầy thuốc cùng với viên chưởng khế
Mà trong một khe mương nào hoang dã
Chìm đắm trong dày đặc của trường xuân.

Để rồi không đi vào chốn thiên đàng
Của đạo Tin lành đã từng chọn lựa
Mà nơi có kẻ cướp, người thu thuế
Và gái làng chơi gào thét: dậy đi anh!


GIỮA LÒNG TÔI NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG NỞ

Giữa lòng tôi những bông hoa không nở
Tôi bị lừa bởi vẻ đẹp qua mau
Ngày một ngày hai rồi bỗng nát nhàu
Giữa lòng tôi những bông hoa không nở.

Và giữa lòng tôi chim chóc không ở
Chỉ xù lông rồi trầm giọng u buồn
Và sáng ra – một nắm nhỏ bằng lông...
Ngay cả chim, giữa lòng tôi không ở.

Chỉ có sách được xếp thành tám dãy
Những tập sách dày buồn bã lặng im
Chúng canh chừng vẻ mỏi mệt ngàn năm
Như những chiếc răng xếp thành tám dãy.

Người buôn sách cũ bán chúng cho tôi
Người này xưa lưng gù và nghèo khó…
Ông buôn bán vì nghĩa trang nguyền rủa
Người buôn sách cũ bán chúng cho tôi.





GIẤC MƠ

Anh nức nở trong giấc mơ khủng khiếp
Và thức giấc với một nỗi buồn thương:
Anh mơ thấy em đã yêu người khác
Và người này đã xúc phạm đến em.

Anh vùng dậy khỏi giường mình và chạy
Như kẻ sát nhân khỏi đọan đầu đài
Qua ánh sáng đục mờ anh nhìn thấy
Những ngọn đèn như mắt thú đâu đây.

Và có lẽ không còn ai như vậy
Anh lang thang giống như kẻ không nhà
Trong đêm ấy trên những đường phố tối
Như theo dòng những dòng suối cạn khô.

Và bây giờ đứng trước cửa nhà em
Bởi vì anh không còn cách nào khác
Mặc dù biết rằng anh không dám bước
Không bao giờ anh dám bước vào trong.

Người xúc phạm em, anh vẫn biết rằng
Đấy chỉ là một giấc mơ khủng khiếp
Nhưng dù sao thì anh giờ đang chết
Trước cửa sổ nhà kín mít như bưng.


SAU BAO NĂM THÁNG DÀI

Sau bao năm tháng dài
Anh lại quay về đây
Nhưng anh bị đày ải
Người dõi theo anh đây.

- Em đã chờ đợi anh
Suốt bao nhiêu tháng năm
Với tình em – khoảng cách
Không hề có trong tình.

- Anh bôn ba xứ người
Sống gần hết cuộc đời
Cuộc đời trôi nhanh quá
Không để ý em ơi.

- Cuộc đời em đã từng
Bao âu yếm, dịu dàng
Em đã từng chờ đợi
Trong mơ em thấy anh.

Cái chết trong nhà em
Cái chết trong nhà anh –
Chẳng đáng gì cái chết
Nếu giờ ta có mình.





CÔ BÉ

Thời gian không xua đi được nỗi buồn
Không còn sức để nhìn và để thở
Lấy bàn tay khép vào đôi mắt mở
Và anh bắt đầu mơ ước về em.

Không về cô bé mỏi mệt, thanh thanh
Như tất cả nhìn ra em như thế
Mà cô bé khiêm nhường và lặng lẽ
Trên cuốn sách của Musset cúi mình.

Cái ngày em biết được lần đầu tiên
Ấn Độ lạ kì của bao kì lạ
Có những cây cọ thiêng, có hổ
Giờ đối với anh ngày ấy vẫn còn.

Đôi khi em nhìn biển cả mênh mông
Còn bão tố đổ dồn trên biển cả
Đấy là trong hiện tại niềm đau khổ
Che mờ đôi mắt bằng một màn sương.

Tại vì sao trên bờ biển lặng im
Không chói ngời lên màu vàng cung điện?
Tại sao trên những luồng sóng sáng
Thiên thần lại không đi đến với em?

Anh biết rằng trong chiếc chăn trẻ con
Em không ngủ trong những chiều như vẫn.
Con tim thổn thức, đôi mắt ngời sáng
Em mơ về số phận lớn lao hơn.

Và khi vùi đầu kín mít trong chăn
Em muốn trở thành mặt trời sáng chói
Để cho loài người rồi đây sẽ gọi
Em là hạnh phúc, hi vọng của mình.

Thế gian này không xảo quyệt với em
Em bất thình lình xuyên qua bóng tối
Trở thành ngôi sao vô cùng chói lọi
Dù chẳng cho người – mà chỉ riêng anh.

Nhưng bây giờ em đã khác, em quên
Những gì buổi ấu thơ từng suy nghĩ
Hi vọng đâu? Thế gian là ngôi mộ
Hạnh phúc ở đâu? Anh thở nhọc nhằn.

Và người đối thoại của em bí huyền
Anh trao lòng mình cho em tất cả
Vì cái tạp dề của em hồi nhỏ
Vì con búp bê đã vỡ của em.
1917


ANH MƠ THẤY HAI CHÚNG MÌNH ĐÃ CHẾT

Anh mơ thấy hai chúng mình đã chết
Ta nằm đây với ánh mắt yên lòng
Cả hai chiếc quan tài đều trắng toát
Người ta đặt kề bên.

Khi nào ta từng nói rằng: “Quá đủ”?
Đã lâu chưa và có y nghĩa gì?
Nhưng thật lạ lùng tim không đau khổ
Và con tim không khóc, thấy lạ ghê.

Và tình cảm bất lực đến lạ lùng
Những y nghĩ giá băng trong sáng quá
Bờ môi không còn khao khát ước mong
Dù bờ môi vẫn tuyệt vời muôn thuở.

Thế là hết: hai chúng mình đã chết
Ta nằm đây với ánh mắt yên lòng
Cả hai chiếc quan tài đều trắng toát
Người ta đặt kề bên.


THƠ VỀ EM

Thơ về em, về em, chỉ về em
Không một chút gì về anh hết cả!
Trong số phận con người tăm tối quá
Em là lời kêu gọi tới trời xanh.

Con tim yêu thương cao thượng của em
Như biểu tượng thời gian trong quá khứ
Sự tồn tại mọi giống nòi, tất cả
Làm phép thiêng, thần thánh hóa thời gian.

Nếu những vì sao sáng và kiêu hãnh
Mà quay lưng lại với trái đất này
Thì trái đất có hai vì sao sáng
Là đôi mắt can đảm của em đây.

Và đến một khi thiên thần màu vàng
Thổi kèn lên rằng thời gian đã cạn
Thì chúng tôi giơ khăn em màu trắng
Trước thiên thần để che chở cho em.

Tiếng động lặng ngừng trong ống kèn rung
Thiên thần đổ xuống từ trên cao đó…
Thơ về em, về em, chỉ về em
Không một chút gì về anh hết cả!




GIÁC QUAN THỨ SÁU

Rượu tình yêu trong ta thật tuyệt vời
Bánh mì cho ta tự vào lò nướng
Và người phụ nữ mà trời ban tặng
Lúc trước khổ đau, giờ đến ngọt bùi.

Biết làm chi với hoàng hôn tím đỏ
Trên bầu trời đang từng phút lạnh dần
Đấy là nơi có tĩnh lặng thần tiên
Biết làm chi với dòng thơ bất tử?

Không hôn ai và không uống, không ăn
Khoảnh khắc trôi, không thể nào giữ lại
Ta vật vã khóc than, nhưng cứ phải
Tất cả đi qua, tất cả đi ngang.

Như đứa bé quên trò chơi của mình
Để ghé mắt ngó nhìn con gái tắm
Chẳng biết gì tình yêu, dù một bận
Vẫn bâng khuâng một mong ước kín thầm.

Như thuở nào trong khu rừng nguyên sinh
Vật bò sát rống lên vì bất lực
Khi cảm thấy vẫn hãy còn chưa mọc
Trên vai mình đôi cánh của loài chim.

Thế kỉ theo nhau, Trời hỡi, đến bao giờ?
Dưới dao mổ thiên nhiên và nghệ thuật
Linh hồn gào lên, xác thân suy kiệt
Và giác quan thứ sáu được sinh ra.



MỘT NIỀM VUI CHƯA TỪNG CÓ

Một niềm vui chưa từng có – dịu dàng
Ghé xuống bờ vai của anh chạm khẽ
Và bây giờ anh không cần gì nữa
Không hạnh phúc, và không muốn cả em.

Chỉ một điều, giá được nhận – tất nhiên
Vẻ dịu êm màu vàng và tĩnh lặng
Cả mười hai nghìn foot đo mặt biển
Trên mái đầu bị xuyên thủng của anh.

Nghĩ suy chi, giá được âu yếm lòng
Từng hành hạ tiếng ồn và tĩnh lặng
Chỉ giá mà chưa bao giờ đã sống
Chưa bao giờ đã hát, đã yêu em.



KHÔNG CÓ GÌ THAY ĐỔI

Không, tất cả không có gì thay đổi
Trong thiên nhiên này tội nghiệp, giản đơn
Tất cả bừng lên một vẻ lạ thường
Của sắc đẹp không thể nào tả nổi

Vẻ như thế sẽ hiện ra, có lẽ
Thân xác con người đau ốm, gầy còm
Khi Thượng Đế từ bóng đêm tận cùng
Gọi thân xác bước lên giờ phán xử.

Em của tôi dịu dàng, kiêu hãnh thế
Hãy nhớ rằng chỉ với một mình em
Trắng như tuyết và mái tóc màu hung
Tôi tìm được chính mình trong giây lát.

Và em mỉm cười – người yêu dấu nhất
Nhưng mà em không hiểu một điều rằng
Tự thân em đang tỏa ánh hào quang
Và bóng đêm nào quanh em dày đặc.



KHÔNG CÒN EM

Không còn em u sầu và đỏng đảnh
Nhưng anh trao mình cho em đã từ lâu
Chính vì thế mà rất nhiều cuộc sống
Em biết cách bằng y chí gom vào.

Và ngày hôm nay bầu trời màu xám
Ngày qua trong cơn mê sảng rã rời
Sau cửa sổ, trên vườn hoa ướt sũng
Trò nhảy cừu những đứa trẻ không chơi.

Em ngắm nhìn những bức hình đã cũ
Và em đưa tay đỡ lấy mái đầu
Những hình dáng buồn cười vô nghĩa quá
Đi theo hàng thật buồn bã biết bao.

Em hãy nhìn, có thấy – một con chim
Và người kị sĩ, ngựa nhanh chân bước
Nhưng thật lạ lùng, vì sao bực tức
Và chau mày cau có một ông quan.

Rồi em đọc anh nghe chuyện ông hoàng
Rất đằm thắm, sáng trong và mộ đạo
Đầu ngón tay út của em chạm phải
Tay áo của anh khi lật từng trang.

Nhưng khi âm thanh của ngày lặng im
Trăng chiếu sáng trên bầu trời thành phố
Thì em bỗng vặn tay bất chợt quá
Và trở nên tái nhợt vẻ u buồn.

Đứng trước em anh luống cuống vô cùng
Anh lặng im, ao ước về chỉ một:
Sao cho vĩ cầm hát lên ngào ngọt
Để em nghe cõi cực lạc bằng vàng.



CÂY LIỄU TRẮNG

Cây liễu trắng đen thẫm ở thân trên
Những con quạ nhẹ nhàng trong vội vã
Trong thung lũng bầu trời xanh – xanh quá
Những đám mây như những chú cừu non.
Trong mắt em ánh lên vẻ ngoan hiền
“Em yêu anh mất rồi” – em bảo thế
Cả bốn phía cỏ hoa như biển cả
Đấy là một giờ sau buổi trưa êm.

Anh hôn lên những lưu bút ngày xanh
Bóng hoa cỏ trong màu hồng đôi má
Ngày vui ánh sáng thơm ngào ngạt quá
Thơm trên màu đồng của mái tóc xoăn.
Và anh cứ ngỡ em là ước mong
Là xứ sở mà anh chưa từng có
Có vẻ như đấy là miền đất hứa
Của bài ca, của rượu, của hân hoan.



TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG

Trên những con đường mặt đất màu xanh
Anh hạnh phúc với phận mình tối mịt
Còn thơ ca? Em đọc chúng cho anh
Khi cúi xuống trên người anh bí mật.

Em xưa là nỗi cuồng điên của anh
Hay là trí khôn vô cùng kì lạ
Một khi nào đó thiên thần hung dữ
Từng nói cho con rắn đượm vẻ buồn:

“Rồi sẽ trôi qua bóng tối nghìn năm
Ngươi sẽ đánh nhau trong lồng chật hẹp
Rồi Đức Thánh linh và cả Chúa con
Sẽ đi đến đây trước giờ phán xét.

Đấy là những đấng cao hơn ta, và chỉ
Khi hạn kì đã định sẽ trôi đi
Thì ngôi sao buổi sớm lỗi lầm kia
Ngươi đến đây, kẻ có mắt buồn ạ.

Người anh em của ta dịu dàng, có cánh
Xưa từng chúa tể hay kẻ khốn cùng
Vườn cực lạc ở sau những bức tường
Ta tìm thấy là khu vườn tuyệt đỉnh.

Nơi dòng nước ngọt ồn ào tí tách
Bàn tay ta kết gắn những bàn tay
Và ngôi sao buổi sớm dễ thương này
Ta không nhớ về chia ly kiếp trước.
1917



GIỮA LÒNG TÔI BÂY GIỜ

Giữa lòng tôi bây giờ đang ngưng tụ
Những lỗi lầm thật kì lạ, cuồng điên
Nàng như người phụ nữ thời thượng cổ
Đứng trước những chàng rể của mình.

Nàng phải ngồi trong lâu đài dệt vải
Cúi ánh mắt nhìn xuống nghiêm khắc hơn
Để vượt qua niềm đam mê hoang dại
Và để ghìm cơn nổi loạn dâng lên.

Nhưng nếu như trận đánh không cân sức
Thì tôi sẽ hồi tưởng lại lời thề
Và sẽ bước ra gian phòng yến tiệc
Cầm ly rượu tẩm thuốc độc kia.

Và cái chết sẽ đến theo lời gọi
Như Odyssey trong trận Pergamon*
Và tiếng thét gào của bao chàng rể
Dưới những mũi tên không chút tiếc thương.
__________
*Pergamon – thành phố Hy Lạp cổ đại ở Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kì).



HƯƠU CAO CỔ

Anh nhìn thấy ánh mắt buồn đặc biệt
Đôi bàn tay thon đầu gối ôm lên.
Hãy nghe này: trên hồ Chad xa xăm
Hươu cao cổ thanh tao đang rảo bước.

Hươu được trời cho thân hình kiều diễm
Ánh mắt thần tiên trang điểm bộ lông
Dám sánh cùng chỉ có mỗi ánh trăng
Khi nghiêng mình trên mặt hồ nước rộng.

Nhìn từ xa như cánh buồm rực rỡ
Bước chạy nhẹ nhàng như cánh chim bay
Biết bao kỳ diệu trên mặt đất này
Buổi hoàng hôn hươu đi vào hang đá.

Anh biết chuyện vui của những xứ bí huyền
Về cô gái da đen, về ông vua trẻ
Nhưng em hít vào màn sương nặng thế
Không điều gì ngoài mưa gió em tin.

Thì về khu vườn làm sao anh kể được
Và mùi hương, và cọ… em khóc chăng?
Hãy nghe này: trên hồn Chad xa xăm
Hươu cao cổ thanh tao đang rảo bước.


CÁNH RỪNG CỌ VÀ LÙM CÂY LÔ HỘI

Cánh rừng cọ và lùm cây lô hội
Dòng suối đục mờ màu bạc ánh lên
Bầu trời xanh tưởng chừng không điểm cuối
Và bầu trời vàng lên bởi ánh dương.

Mi còn mong gì nữa hở con tim
Chẳng lẽ hạnh phúc - dối gian hay cổ tích?
Và tại sao cho lòng tin kẻ khác
Kẻ rủ rê - mi ngoan ngoãn trao mình?

Chẳng lẽ mong uống thuốc độc nữa chăng
Muốn lần nữa đập trong cơn mê lửa
Chẳng lẽ mi không thể như hoa cỏ
Sống say mê theo ý ở trong vườn?


THIÊN NHIÊN

Và đây là tất cả cõi thiên nhiên
Mà linh hồn không thể nào nhận biết
Đây đồng cỏ với mùi hương mật ngọt
Hương mật kia hoà quyện với hương đầm.

Đây tiếng khóc hoang dã của gió cuồng
Như tiếng tru từ xa xăm của sói
Trên ngọn thông như ngựa phi nước đại
Là nước phi của những đám mây khoang.

Ta nhìn ra mặt và bắt hình dong
Ta nhìn ra tràn ngập lòng cơn giận
Chỉ một điều vẻ đa dạng nghèo nàn
Mà Tạo hoá đã từng gieo hạt giống.

Mặt đất đùa với ta để làm gì
Hãy vứt đi những áo quần nghèo khổ
Và đáng lên như ngôi sao, vốn có
Xuyên ngang qua bằng ngọn lửa hồng kia.






Hovansky, Grigory Aleksandrovich (1767 - 1796)


CÁNH HOA LƯU LY

Em dạo trên đồng cỏ
Muốn xua đi nỗi buồn
Muốn tìm bông hoa nhỏ
Đem gửi tặng người thương.

Em tìm cho đến khi
ánh mặt trời gần tắt
Tất cả đều tìm ra
Chỉ bông hoa duy nhất.

Một bông hoa duy nhất
Em không thể tìm ra
Không có bông hoa đẹp
Em đành trở về nhà.

Lòng trĩu nặng nỗi buồn
Bông nhiên em nhìn thấy
Một bông hoa dễ thương
Mọc gần bên bờ suối.

Em bẻ cánh lưu ly
Mà mắt rưng giọt lệ
Và miệng bỗng thầm thì:
“Anh đừng quên em nhé!

Đừng tặng em vàng bạc
Mà hãy tặng tình anh!
Em chẳng cần gì khác
Ngoài lời: Anh yêu em!”
1796.




Kasatkin, S.(?)


ANH SẼ KHÔNG VỀ

Anh sẽ không về, trong lòng anh đau đớn
Em hãy tin, anh chẳng giấu say mê
Anh đủ sức làm một người tự trọng
Em hãy tin, anh sẽ không về.

Về miền xa cho đam mê nguội lạnh
Cho qua mau những ngày tháng ê chề
Vì tự do buộc ràng anh lẫn tránh
Đừng gọi anh, anh sẽ không về.

Đừng gửi anh những thư tình rạo rực
Anh sợ những dòng háo hức, si mê
Em đừng hứa những gì không làm được
Không, em ơi, anh sẽ không về.

Đối với em anh đâu hề trách mắng
Hay làm điều độc ác lúc ra đi.
Tâm hồn đau giờ mong chờ yên lặng
Thương cho anh... Anh sẽ không về.

Last edited by ngophuong; 08-07-2010 at 11:20 AM..
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Gởi Ðề Tài Mới Gửi trả lời


Đang đọc: 2 (0 thành viên và 2 khách)
 
Công Cụ
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Hình Diễn tả đang Mở
[IMG] đang Mở
Mã HTML đang Tắt

Chuyển đến




Liên Hệ - Việt Nam Cây Đa - Trở Lên Trên 
License for vBulletin.org. - Email: webmaster@vietnamcayda.com
Powered by: vBulletin Copyright © 2000 - 2006, Jelsoft Enterprises Ltd.